TÀI NGUYÊN ĐẤT
I. VAI TRÒ CỦA ĐẤT ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI.
- Đất là môi trường sống của con người.
- Đất là tư liệu sảm xuất, là đối tượng lao động, là nguồn cung cấp lương thực, thực
phẩm cho con người.
- Đất là nền móng cho các công trình xây dựng.
- Đất có giá trị lịch sử, là chủ quyền dân tộc rất thiên liêng đối với mỗi con người. Đất
là quê hương, là tổ quốc, là nơi chôn nhau cắt rốn.
II.TÀI NGUYÊN ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Tài nguyên đất trên thế giới.
-
Trái Đất có bán kính trung bình 6371 km, chu vi theo đường xích đạo 40.075 km và
diện tích bề mặt của Trái Đất ước tính khoảng 510 triệu km2 (tương đương với 51 tỉ
hecta) trong đó biển và đại dương chiếm khoảng 36 tỉ hecta, còn lại là đất liền và các
hải đảo chiếm 15 tỉ hecta.
-
Bảng 1. Diện tích của các lục địa
Ðại lục
Diện tích
Châu Á
43.998.920 km2
Châu Phi
Loại đất
Diện tích (ha)
Ðất quá dốc
2, 682 tỉ (18%)
Ðất quá khô
2, 533 tỉ (17%)
Ðất quá lạnh
2, 235 tỉ (15%)
Ðất đóng băng
1, 490 tỉ(10%)
Ðất quá nóng
1, 341 tỉ (9%)
Ðất quá nghèo
0, 745 tỉ (5%)
Ðất quá lầy
Châu A
29,5%
35%
Châu Mỹ
28,2%
26%
Châu Phi
20,0%
20%
Châu Âu
6,5%
13%
Châu Ðại Dương
15,8%
6%
III. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT Ở VIỆT NAM
Hiện trạng sử dụng đất
Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm kê của cả
nước là 33.093.857 ha. Theo mục đích sử dụng, đất được phân thành 3 nhóm chính: đất
nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng.
Tình hình sử dụng đất của nước ta cụ thể như sau:
Một là, hiện trạng và biến động đất nông nghiệp trên cả nước
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng
5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000. Trong đó, lượng tăng chủ yếu ở loại đất
lâm nghiệp (tăng 3.673.998 ha) và loại đất sản xuất nông nghiệp (tăng 1.140.393 ha).
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối. Sự gia tăng này
có thể đến từ việc mở rộng một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm
nghiệp...
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng
kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha. Có 41/63 tỉnh giảm diện
tích đất trồng lúa.
=>Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất
nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê),
trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công
trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh
doanh).
- Diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh và mức tăng trưởng này giảm nhẹ trong giai
đoạn kế tiếp. Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng, tính chung cho cả giai đoạn
diện tích đất lâm nghiệp tăng 3.673.998 ha. Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương
đã đẩy mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do
đích công cộng tăng mạnh nhất (258.421 ha), chủ yếu là đất giao thông và thủy lợi; đất
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (101.677 ha); đất quốc phòng và đất an ninh
(55.140 ha).
- Các loại đất khác: Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng đã có sự suy giảm đáng kể
trong cơ cấu đất phi nông nghiệp. Năm 2011, diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên
dùng chiếm tỷ trọng trên 40% trong tổng cơ cấu đất phi nông nghiệp, thì tỷ lệ này năm
2013 chỉ còn trên 29%, giảm khá mạnh
Giai đoạn 2010-2013, diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng trưởng tương đối nhanh ở
mức 8%/năm, và chiếm 3,29% trong tổng cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp. Tình
trạng lập mồ mả tự do, phân tán trong đất canh tác, ngoài quy hoạch sử dụng đất diễn ra
phổ biến, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và vệ sinh môi trường. Do vậy, vấn đề
quy hoạch và định mức sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa đang nổi lên cấp bách ở tất cả
các địa phương, cần phải giải quyết trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, đất tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sự gia tăng mạnh, trong vòng 5 năm tăng
trưởng lên 14%.
Đất phi nông nghiệp khác năm 2013 tăng 715 ha so với năm 2011.
Ba là, hiện trạng và biến động đất chưa sử dụng:
Thực tế, diện tích đất chưa sử dụng đã giảm nhanh, mạnh và đáng kể sau một thập niên.
Chỉ sau 5 năm diện tích đất chưa sử dụng đã giảm một nửa.
Năm 2011, diện tích đất chưa sử dụng chiếm tới 30% trong tổng cơ cấu đất đai (gần 2/3
diện tích cả nước), thì năm 2013 con số này chỉ còn 10%.
Những con số này cho thấy, quỹ đất đai chưa sử dụng không còn nhiều. Ngay cả những
cánh rừng nguyên sinh cũng đã bị tàn phá nhiều để phục vụ cho các mục đích mưu sinh
của con người.
Một vài khuyến nghị
Số liệu thống kê cho thấy, một số tỉnh, thành phố có sự suy giảm đáng kể về diện tích đất
nông nghiệp, ví dụ như vùng Đồng bằng sông Hồng
Cùng với đó là sự gia tăng về quy mô diện tích đất sử dụng cho các mục đích phi nông
Hoang mạc đất nhiễm mặn: tập trung chủ yếu ở ĐBSCL, các tỉnh duyên hải miền Trung
như Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Thuận… đất thường có hàm lượng tổng số muối tan và
độ dẫn điện (EC) cao.
Hoang mạc đất nhiễm phèn: phân bố tại các khu vực Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp
Mười (đất phèn), bán đảo Cà Mau (đất phèn mặn).
Ở miền Bắc, đất phèn chủ yếu tập trung ở vùng Kiến An - Hải Phòng, Thái Bình, Hải
Dương và Quảng Ninh. Đất nhiễm phèn được đặc trưng bởi độ chua cao, nồng độ độc tố
nhôm tiềm tàng cao và thiếu lân.
V. Ô NHIỄM TÀI NGUYÊN ĐẤT Ở VIỆT NAM
Hiện nay tài nguyên đất ở Việt Nam đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng
Nguyên nhân:
- Tự nhiên:
Nhiễm phèn: do nước phèn từ một nơi khác di chuyển đến. Chủ yếu là nhiễm
Fe2+, Al3+, SO42-, pH môi trường giảm gây ngộ độc cho cây con trong môi
trường đó.
• Nhiễm mặn: do muối trong nước biển, nước triều hay từ các mỏ muối, nồng độ
Na+, K+ hoặc Cl- cao làm áp suất thẩm thấu cao gây hạn sinh lý cho thực vật.
Gley hóa trong đất sinh ra nhiều chất độc cho sinh thái (CH4, N2O, CO2, H2S,
FeS… ).
•
Sự lan truyền từ môi trường đã bị ô nhiễm (không khí, nước); từ xác bã thực vật
và động vật...
- Nhân tạo:
• Chất thải công nghiệp: dùng than để chạy nhà máy nhiệt điện, khai thác mỏ, sản
xuất hóa chất, nhựa dẻo, nylon …
• Chất thải sinh hoạt (phân, nước thải, rác, đồ ăn,...).
• Chất thải nông nghiệp như phân và nước tiểu động vật: nguồn phân bón quý cho
nông nghiệp nếu áp dụng biện pháp canh tác và vệ sinh hợp lý; những sản phẩm
đồng thời giữ lại được nguồn chất dinh dưỡng bị rửa trôi do nước tưới. Cây được trồng
thành hàng và khoảng trống giữa các hàng được trồng thêm hoa màu phụ nhất là cây họ
đậu, một mặt để phủ cho kín đất mặt khác để tăng thêm nguồn đạm cho đất.
- Ở những nơi có gió, người ta thường trồng cây tạo nên một vành đai chắn gió. Vành đai
này còn là nơi cư trú cho các loài chim và một số loài động vật khác, chúng có thể ăn các
dịch hại và còn giúp cho sự thụ phấn của cây trồng.
Bảo tồn đất trồng trọt trên các vùng có độ dốc: Trên các đồi trọc, sườn đồi được sử
dụng để canh tác, do có độ dốc nên sự xói mòn xảy ra mãnh liệt hơn ở vùng bình nguyên.
Nguyên nhân gây nên sự xói mòn trên đất dốc:
- Lượng mưa và cường độ mưa: đây là một yếu tố quan trọng nhất gây xói
mòn mạnh. Ở các nước thuộc vùng nhiệt đới mưa thường tập trung từ tháng 5 đến tháng
10, ở các vùng núi lượng mưa có thể đạt 3.000mm, lượng mưa càng lớn và đặc biệt là
cường độ mưa (lượng mưa trong một đơn vị thời gian) càng lớn thì tốc độ xói mòn càng
mạnh
- Ðộ dốc và chiều dài của sườn dốc: cường độ xói mòn đất tỉ lệ thuận với độ dốc,
theo một số nhà nghiên cứu thì nếu độ dốc tăng 4 lần, tốc độ dòng chảy tăng 2 lần thì
lượng đất bị xói mòn tăng gấp 64 lần. Ðiều này đã cho thấy nếu độ dốc càng lớn thì tốc
độ dòng chảy càng lớn và sự tố độ xói mòn càng mạnh.
- Ðộ che phủ của cây: Nếu trên mặt đất có cây che phủ thì những hạt mưa không rơi
trực tiếp xuống đất mà bị phân tán ngay trên các tàng lá. Mặt khác, dòng chảy bị ngăn trở
bởi rể và lớp thảm mục trên mặt đất ... điều đó làm giảm sự xói mòn lớp đất mặt.
- Tính chất của đất: Nếu đất tơi xốp, có kết cấu thấm nước tốt thì lượng nước mưa sẽ
ngấm xuống đất nhiều hơn nên lượng nước tạo nên dòng chảy trên lớp đất mặt ít đi cũng
làm giảm sự xói mòn. Các biện pháp chống xói mòn khi trồng trọt trên đất dốc như sau:
- Làm giảm độ dốc và chiều dài của sườn dốc: bằng cách như san ruộng thành bậc
thang, đào mương, đấp bờ, trồng cây thành hàng để ngăn chiều dài của dốc thành những
đoạn ngắn hơn.
- Dùng các biện pháp nông lâm nghiệp để che phủ kín mặt đất: cụ thể là gieo trồng
Thực tế cho thấy hỗn hợp của phân xanh trộn với đất có hiệu quả như phân chuồng và sự
pha trộn giữa phân xanh, phân chuồng và đất tạo nên một hỗn hợp giàu chất dinh
dưỡng, độ thoáng khí của đất, tăng cường mật số của vi khuẩn; vi sinh vật đất và
nấm, giúp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và sự phân hủy các xác bã động
vật và thực vật nhanh chóng hơn.
Phân vô cơ thương mại
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển đều có xu hướng chung
là sử dụng phân bón vô cơ để phục hồi đất. Trong các loại phân bón vô cơ đều có chứa
chất dinh dưỡng chính cần cho cây như N, P và K. Thường thì tỉ lệ của các chất dinh
dưỡng này thay đổi theo từng loại phân phù hợp cho từng loại đất và đối tượng canh
tác. Thí dụ: Phân NPK 16 -16 - 8 có nghĩa là trong phân có chứa 16% N, 16% P và 8% K
và một số chất khác cũng có thể có hiện diện. Vì vậy để có thể sử dụng phân bón có hiệu
quả, sau mỗi mùa vụ nhà nông phải phân tích đất để có thể biết được một cách chính xác
những chất dinh dưỡng trong đất cần được bổ sung, từ đó chọn loại phân bón có thành
phần chất dinh dưỡng thích hợp để tránh được sự lảng phí không cần có.
Việc sử dụng phân bón vô cơ ngày càng tăng trên thế giới, trong khoảng từ 1950 đến
1978 lượng phân bón vô cơ được sử dụng tăng gấp 9 lần. Phân vô cơ hiện nay được sử
dụng rộng rãi vì đây là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cô đọng, dể chuyên chở, dể tồn
trư, bảo quản và dể sử dụng. Tuy nhiên phân bón vô cơ cũng có những bất lợi như chúng
không bổ sung thêm vào đất những hợp hữu cơ, vì vậy khi sử dụng phân vô cơ mà không
bổ sung thêm phân hữu cơ thì đất càng ngày càng bị nén chặt và không còn thích hợp cho
hoa màu và làm giảm khả năng tạo N2 tự nhiên dạng hữu ích. Phân bón vô cơ cũng làm
giảm lượng O2 trong đất vì đất bị nén chặt nên các tế khổng bị thu hẹp và giảm số
lượng. Mặt khác, phân bón vô cơ cũng không bồi bổ lại cho đất những yếu tố vi lượng,
những yếu tố nầy chỉ được tổng hợp bằng con đường sinh học, rất quan trọng cho sự sinh
trưởng và phát triển của thực vật dù với liều lượng rất nhỏ.
Phân bón vô cơ là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm đến nguồn nước hiện
nay. Dư lượng của phân bón bị rửa trôi hoặc trực di theo các mạch nước ngầm ra các
sông rạch, đây là nguyên nhân gây nên sự bộc phát các loài rong; sự bộc phát này làm
môi trường cho các phản ứng hóa sinh tạo chất mới, giúp chuyển dịch nhiều loại vật chất.
Môi trường nước là cái nôi phát sinh và phát triển các cá thể sống đầu tiên. Nước là môi
trường bảo đảm dẫn chất, trao đổi chất, thải chất và giúp điều hoà thân nhiệt cho nhiều
loại sinh vật. Nước có vai trò quyết định trong các hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa
tinh thần của loài người.
Nước có vai trò to lớn đối với cuộc sống con người, với các ngành nông – lâm –
ngư nghiệp, với công nghiệp, kinh tế, y tế, du lịch và cả an ninh quốc phòng. Con người
mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và
2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp.
Trong đời sống sinh hoạt của con người, nước duy trì mọi hoạt động sống cũng
như sản xuất.
Trong nông nghiệp, dân gian có câu ‘Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống’ qua
đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước trong nông nghiệp. Trong sản xuất nông
nghiệp, thủy lợi luôn là vấn đề được ưu tiên hàng đầu. Để sản xuất lúa 2 vụ cần 14000 –
18000 m3 nước ngọt/ha/năm.
Trong công nghiệp, mức độ sử dụng nước ngày càng lớn, người ta ước tính rằng
15% nước trên toàn thế giới sử dụng cho công nghiệp. Tiêu biểu là các ngành khai
khoáng, sản xuất nguyên liệu công nghiệp như than, thép giấy... các nhà máy điện, quặng
và nhà máy lọc dầu, trong các quá trình hóa học và các nhà máy sản xuất...
- Để luyện 1 tấn thép cần 12 m3 nước.
- Lọc một tấn dầu cần 0,8 m3 nước.
- Sản xuất 1 tấn đường cần 20 m3 nước.
- Sản xuất 1 tấn giấy cần 250 m3 nước.
- Sản xuất 1 tấn đạm cần 600 m3 nước.
(Tình trạng thiếu nước đã và đang ảnh hưởng đến nhiều cộng đồng, nhiều quốc gia
và gây hại đến con người và kinh tế.
Nguyên nhân gây thiếu nước là do tài nguyên nước phân bố không đồng đề trên
thế giới, do dân số ngày càng gia tăng nhanh nhưng nguồn nước lại giảm. Do sử dụng
khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tự phun
lên mà không cần phải bơm. Loại nước ngầm này thường ở sâu dưới mặt đất, có trữ
lượng lớn và thời gian hình thành nó phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm.
Tài nguyên nước ngầm ở Thừa thiên Huế khá phong phú, bao gồm cả nước nhạt và nước
khoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh. Các khu vực kéo từ các
xã Phong Chương, Phong Hiền, huyện Phong Điền đến xã Quảng Lợi, huyện Quảng
Điền, từ xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ Hạ, huyện Hương Trà, khu
vực thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy (nay là thị xã Hương Thủy) là những vùng chứa
nước dưới đất có triển vọng nhất cho khai thác và sử dụng. Tổng trữ lượng nước ngầm ở
các vùng đã nghiên cứu ở cấp C 1 đạt gần 9.200m3/ngày. Chính lượng nước này cùng với
hệ thống các thủy vực dày đặc với tổng lượng nước mặt phong phú đã đảm bảo cho Thừa
Thiên Huế tránh được những đợt hạn hán khốc liệt và kéo dài.
III. SỰ PHÂN BỐ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% nước là nước mặn, chỉ
3% còn lại là nước ngọt. Trong 3% lượng nước ngọt có trên trái đất thì có khoảng hơn
68,7% lượng nước mà con người không sử dụng là đỉnh núi băng hay sông băng; 30,1%
là nước ngầm và 0,3% nước ngọt là nước sử dụng được trong ao, hồ, sông, suối mà con
người đã và đang sử dụng. (theo thống kê năm 1999 ước tính nguồn nước mặt ngọt này
khoảng 200000km3 theo các bạn nếu chia cho tổng số dân trên thế giới 7 tỉ người thì mỗi
người được sử dụng bao nhiêu). Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có
khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính ra trung
bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng (Miller, 1988). Nhưng
nguồn nước sử dụng này đã và đang có nguy cơ bị ô nhiễm.
Trong cân bằng nước ở châu lục, xét theo lớp dòng chảy, Nam Mỹ có tài nguyên
nước dồi dào nhất, còn Châu Úc có tài nguyên nước hết sức hạn chế. Do đó Châu Úc
chắc chắn sẽ có phần hệ sinh thái khô cạn, còn Nam Mỹ hệ sinh thái ẩm.
Tuy nhiên tiềm năng cấp nước thực tế dựa vào bình quân đầu người hoặc diện
Bị ô nhiễm
-
Khai thác quá mức.
1.
Nước mặt
Tài nguyên nước mặt của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng
chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào (dòng chảy ngoại địa) và lượng dòng chảy được
sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa).
Tổng lượng nước mặt trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong
đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340
km3, chiếm 40%.
Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối
phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi
đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc
điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao
động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều
giữa các hệ thống sông và các vùng.
Tổng lượng dòng chảy của các sông
Sông Mê Công
500 km3
59.0%
Sông Hồng
126,5km3 14.9%
Sông Đồng Nai
Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800
m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ
còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của
nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế
giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó,
mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với
các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng
Nai. Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người
trong một năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn
2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước
thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay
đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ
lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được
hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.
Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên
nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng
như cạn kiệt nguồn nước, ô nhiễm nguồn nước,…
Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng
10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm
nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm.
Nhu cầu dùng nước tăng lên mạnh mẽ
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho
sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết
quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng
lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và
16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ
41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000
(chiếm 85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho
bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu long ( 550 km3 )
và sông Hồng ( 50 km3 ) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240
km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km3 . Như vậy so
với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi
đầu người đạt tới 17.000 m3 / người/ năm. Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên
nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3
/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ
yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất
nông nghiệp(Cao Liêm- Trần Đức Viên, 1990) .
Nước ngầm là một phần quan trọng của tài nguyên nước, là nguồn cung cấp nước rất
quan trọng cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp.
Hiện nay nguồn nước ngầm chiếm 35-50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt cho các đô
thị trên toàn quốc, nhưng đang suy giảm trữ lượng đồng thời bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Tài nguyên nước ngầm ở Thừa thiên Huế khá phong phú, bao gồm cả nước nhạt và
nước khoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh. Các khu vực kéo
từ các xã Phong Chương, Phong Hiền, huyện Phong Điền đến xã Quảng Lợi, huyện
Quảng Điền, từ xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ Hạ, huyện Hương Trà,
khu vực thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy (nay là thị xã Hương Thủy) là những vùng
chứa nước dưới đất có triển vọng nhất cho khai thác và sử dụng. Tổng trữ lượng nước
ngầm ở các vùng đã nghiên cứu ở cấp C 1 đạt gần 9.200m3/ngày. Chính lượng nước này
cùng với hệ thống các thủy vực dày đặc với tổng lượng nước mặt phong phú đã đảm bảo
cho Thừa Thiên Huế tránh được những đợt hạn hán khốc liệt và kéo dài.
Nước ngầm phân bố trên diện rộng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hệ thực
vật và hệ sinh vật đất, bởi đa phần các cá thể này không thể tự vận động đi tìm nước được
như con người và động vật khác. Nước ngầm là nguồn cung cấp, duy trì sự tồn tại của các
thuỷ vực mặt trong thời kì không mưa kéo dài. Nhiều nơi, trong quá trình thăm dò tìm
kiếm nguồn nước đã phát hiện ra những nguồn khoáng sản quý hiếm khác có vai trò thay
đổi nền kinh tế của cả một địa phương, một quốc gia, như sự tìm ra dầu và khí đốt ở
Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi
trường nước: Không thải các chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi và chất thải rắn
xuống các kênh rạch.
3.
Di rời các nhà ở phía lòng kênh vào phía trong để tránh hiện tượng xả thải xuống lòng
kênh và tai nạn giao thông thuỷ.
4.
Xây dựng các khu tái định cư cần phải bố trí hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải,
xây dựng hệ thống nước cấp sinh hoạt.
5.
Cần xây dựng kế hoạch thu thập, phân tích định kỳ về chất lượng nước trong vùng. Phân
tích diễn biến về thành phần các loài sinh vật nước.
6.
Phổ cập giáo dục về bảo vệ môi trường.
7.
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng cần phải xét đến tính phù hợp về
điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, nguồn nước cấp, mức tăng trưởng dân số trong
những năm tới.
8.
Phát triển thuỷ sản, lấy nước tưới vào thời kỳ hạn và sử dụng nước sinh hoạt.
2.
Thiết kế, quy hoạch của các ngành như nông nghiệp, thuỷ lợi, giao thông, thuỷ sản, xây
dựng nên được xét đồng bộ nhằm xây dựng một kế hoạch hoàn chỉnh, lâu dài, không
chồng chéo để không xảy ra hiện tượng lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường.
3.
Canh tác trên vùng đất phèn phải thực hiện theo các hướng dẫn kỹ thuật nhằm hạn chế sự
xì phèn, tiêu thoát các độc tố từ trong đất ra nguồn nước mặt do quá trình thau rửa phèn.
Ví dụ: nuôi cá trồng sen trên đất phèn trũng, mỗi vụ trồng sen kết hợp nuôi cá, ông Trần
Thanh Tùng, 51 tuổi ở ấp 6, xã Hòa Mỹ (Phụng Hiệp, Hậu Giang) lãi trên 70 triệu đồng
trên diện tích 1,5 ha đất phèn, trũng sâu.
4.
Khuyến cáo nông dân sử dụng phân bón vi sinh, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ
có thời gian phân giải ngắn.
Mỗi người dân cần
1.
Giữ sạch nguồn nước: Nâng cao ý thức cộng đồng để giữ sạch nguồn nước bằng cách
không vứt rác bừa bãi, không thải trực tiếp vào nguồn nước sạch, không dùng phân tươi
làm phân bón; sử dụng thuốc trừ sâu đúng hướng dẫn. Cần hạn chế tối đa việc sử dụng
các hóa chất gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước . Các dự án: vinamilkem yêu nước sạch, hưởng ứng ngày trái đất 2016 – nguồn nước sạch, kinh tế mạnh thứ
bảy, ngày 23 tháng 4 năm 2016/ địa điểm: công viên bách thảo, hà nội,…
2. Nguyễn Thị Phương Loan. Giáo trình tài nguyên nước. NXB Đại học quốc gia Hà
Nội, 2005.
3.. Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước.
4. nguyên nước