VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THANH HIẾU
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC và CNDVLS
Mã số: 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS VÕ VĂN THẮNG
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Triết học “Phát huy vai trò của nông dân
trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong Luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào khác.
NGHIÊN CỨU SINH
Huỳnh Thanh Hiếu
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN TRONG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG............................................................................................................................ 57
3.1. Đặc điểm tình hình của Đồng bằng sông Cửu Long tác động đến việc phát huy vai trò
của nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn ........................................................ 57
3.2. Thành tựu và hạn chế của việc phát huy vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng
nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long ............................................................................. 67
3.3. Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát huy vai trò nông dân trong quá trình
xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay ........................... 106
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG
DÂN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG................................................................................................... 115
4.1. Một số quan điểm ................................................................................................. 115
4.2. Một số giải pháp tiếp tục phát huy vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng
nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long ............................................................. 126
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 150
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 156
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNH, HĐH
: công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2. NTM
: Nông thôn mới
3. HTCT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban
hành các kết luận về một số nội dung trong Nghị quyết, bao gồm: Đề án An ninh lương
thực quốc gia; Đề án Chương trình Xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới (NTM) cấp
xã; Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội nông dân Việt Nam trong phát triển
nông nghiệp, xây dựng NTM và xây dựng giai cấp nông dân (ND). Đồng thời, Chính
phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008, xác định “Chương
trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” và Thủ tướng Chính phủ đã ký
Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc
gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020, gồm 11 nội dung, với 19 tiêu chí.
Tiếp tục thực hiện chiến lược xây dựng NTM, Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh
thêm nhiều nhiệm vụ xây dựng NTM, như: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô
thị và bố trí các điểm dân cư; Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn
với bảo vệ môi trường; Triển khai chương trình xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm
từng vùng theo các bước đi cụ thể vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy
truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam; Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ
tầng nông thôn; Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông
nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều
lao động…[13; 197,198].
Quá trình phát huy vai trò của ND trong xây dựng NTM thời gian qua đã tiếp tục
khẳng định vị thế và tầm quan trọng là trung tâm sản xuất và chế biến nông, thủy sản,
lương thực, thực phẩm lớn nhất Việt Nam của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Đến năm 2010, ĐBSCL đã đạt và vượt chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực mà Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra và đóng góp gần 20% GDP của đất nước. Trong
những năm gần đây, ĐBSCL đóng góp 50% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuất
khẩu, 70% sản lượng trái cây của cả nước. Sản xuất thủy sản chiếm hơn 70% sản
địa-chính trị);… điều này đe doạ trực tiếp đến tính bền vững của sự phát triển ngành nông
nghiệp, ổn định nông thôn và phát triển giai cấp ND.
Bên cạnh đó, hiện nay các văn bản thể hiện chủ trương, quan điểm chỉ đạo, lãnh
đạo xây dựng NTM còn nằm ở phạm vi vĩ mô, cái chung áp dụng cho toàn quốc, ít chú
ý đến đặc thù riêng của từng địa phương, từng vùng, khu vực, điều này gây khó khăn
rất lớn cho địa phương khi áp dụng, cũng như khó khăn cho Trung ương khi đánh giá,
2
xét đạt chuẩn; đồng thời, sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, Trung ương và một số
địa phương ở ĐBSCL có tổ chức nhiều đợt sơ, tổng kết, song đến nay chưa có công
trình nghiên cứu độc lập nào về việc phát huy vai trò ND trong quá trình xây dựng
NTM ở ĐBSCL, do vậy còn nhiều yếu tố chưa được làm rõ, như: vai trò chủ thể của
ND vùng ĐBSCL trong xây dựng NTM được biểu hiện như thế nào?; so với thành tựu
đạt được, những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát huy vai trò ND trong nâng cao
chất lượng xây dựng NTM là gì?; những yếu tố, điều kiện nào có tác động lớn đến việc
phát huy vai trò chủ thể của ND tham gia xây dựng NTM ở ĐBSCL?; những quan
điểm gì cần quán triệt cũng như những giải pháp nào sát hợp với việc phát huy vai trò
của ND trong quá trình xây dựng NTM ở ĐBSCL cần thực hiện?… tất cả những vấn
đề trên là yêu cầu quan trọng về mặt lý luận và khoa học cần phải được giải quyết.
Từ những thành tựu, khó khăn và những vấn đề đặt ra nêu trên, tác giả nhận
thấy rằng, nghiên cứu một cách khoa học, đầy đủ về việc “Phát huy vai trò của nông
dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện
nay” là yêu cầu cấp thiết và giữ vị trí quan trọng nhất đối với mục tiêu xây dựng
NTM, phát triển kinh tế-xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ND
không chỉ riêng của ĐBSCL, mà còn tác động, ảnh hưởng đến các tỉnh, thành phía
Nam và có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,
HĐH) nông nghiệp, nông thôn của cả nước.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích của luận án
trò của ND trong xây dựng NTM ở ĐBSCL của các nhà nghiên cứu trước đó.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Đề tài sử dụng các phương pháp: Hệ thống hóa, phương pháp phân tích định
tính qua sử dụng phần mềm SPSS, và các phương pháp nghiên cứu định tính khác.
Phương pháp hệ thống hóa: Sử dụng các dữ liệu thứ cấp để tiến hành các bước
phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng với thực tiễn… để tổng kết và khái quát các lý
thuyết và thực tiễn về xây dựng NTM, về vai trò của ND trong xây dựng NTM và phát
huy vai trò của ND trong xây dựng NTM; đánh giá thực trạng phát huy vai trò của ND
trong xây dựng NTM ở ĐBSCL; đồng thời đề xuất các giải pháp tiếp tục phát huy tốt
hơn vai trò của ND trong xây dựng NTM ở ĐBSCL trong giai đoạn tới.
Phương pháp phân tích định tính thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS:
Trong luận án, tác giả sử dụng kết quả phân tích của phần mềm SPSS 16.0 (dữ liệu sơ
cấp) nhằm củng cố và xác định các phân tích định tính của luận án về các vấn đề: vai
trò của ND trong xây dựng NTM; những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân của việc
4
phát huy vai trò của ND trong quá trình xây dựng NTM; những giải pháp cần thiết, cấp
bách để nâng cao hiệu quả phát huy vai trò của ND trong quá trình xây dựng NTM.
Phương pháp nghiên cứu định tính: Được thực hiện qua các cuộc phỏng vấn
trực tiếp các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý Chương trình xây dựng NTM ở
các tỉnh và cán bộ lãnh đạo ở các xã xây dựng NTM về xây dựng NTM và việc phát
huy vai trò của ND trong quá trình xây dựng NTM ở ĐBSCL, mục đích nhằm xác
định và bổ sung, hoàn chỉnh các quan điểm đánh giá, kết luận trong luận án.
5. Đóng góp mới của luận án
Sau khi hoàn thành, luận án sẽ có những đóng góp mới cơ bản sau:
- Luận án đã xác định và phân tích rõ các nội dung cơ bản thể hiện vai trò và
nội dung phát huy vai trò của ND trong xây dựng NTM ở ĐBSCL.
- Luận án đã phân tích làm rõ những mặt mạnh và điểm hạn chế, cũng như
nguyên nhân của quá trình phát huy vai trò của ND trong xây dựng NTM ở ĐBSCL
thực tiễn
- Luận án làm rõ những vấn đề thực tiễn liên quan đến đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội của ND và xác định những yêu cầu thực tiễn đặt ra sau quá trình phát huy
vai trò của ND xây dựng NTM, làm hình thành một cách khái quát tồn tại xã hội, cơ sở
hạ tầng, giúp nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể
chính trị-xã hội và nhân dân ĐBSCL trong việc phát huy vai trò của ND trong tham
gia xây dựng NTM.
- Kết quả của Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy các môn khoa học lý luận, khoa học xã hội và nhân văn trong các trường
chính trị, viện, trường cao đẳng, đại học ở ĐBSCL hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 11 tiết, kết luận, danh mục các công trình
khoa học đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Vấn đề ND, vai trò ND, nông thôn và NTM cũng như vai trò của ND trong xây
dựng NTM đã và đang là nội dung chính trị-xã hội mang tính cấp thiết trong sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM trên cả nước hiện nay, trong
đó việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, ND, nông thôn ở ĐBSCL giữ vị trí, vai trò rất
quan trọng trong tiến trình này. Từ cuối năm 2010, các tỉnh, thành ĐBSCL đã huy
động các nguồn lực bắt tay vào phục vụ cho mục tiêu xây dựng NTM. Đến nay, có
nhiều công trình (chủ yếu đăng trên báo, tạp chí, hội thảo khoa học) nghiên cứu về các
vấn đề liên quan đến việc phát huy vai trò của ND trong quá trình xây dựng NTM ở
ĐBSCL. Chúng tôi tham khảo và khái quát dưới các góc độ sau:
1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về nông dân, nông thôn mới và
dựng NTM ở ĐBSCL. Trong đó, các tác giả đều khẳng định vai trò, ý nghĩa và tầm
quan trọng của xây dựng NTM ở ĐBSCL, và nhấn mạnh đến việc vận dụng các tiêu
chí xây dựng NTM ở ĐBSCL phải chú ý đến đặc điểm riêng có của ĐBSCL.
Trong nghiên cứu của mình, TS Phạm Hùng khẳng định “Xây dựng NTM phải
gắn chặt với đặc điểm của từng vùng và nằm trong tổng thể chung trong chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước” [14;01] và “xây dựng NTM ở ĐBSCL góp
phần thực hiện mục tiêu phát triển thành vùng kinh tế trọng điểm sản xuất nông nghiệp
hàng hóa và thủy sản của cả nước…” [18; 02]. Đồng thời, TS Hà Văn Tác cũng nêu
quan điểm: “Quá trình xây dựng NTM hiện nay ở nước ta là một cuộc vận động cách
mạng to lớn và có ý nghĩa sâu sắc, toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội …
Vùng ĐBSCL gồm 13 tỉnh, thành từ Long An đến Cà Mau, có rất nhiều điểm khác
biệt so với các vùng khác ở nước ta. Vì vậy, khi tiến hành xây dựng NTM nơi đây phải
đặc biệt quan tâm đến những điều kiện riêng của nó” [18; 32]. PGS, TS Nguyễn Văn
Sánh tham gia nêu thêm lưu ý: “việc xây dựng xã NTM tùy thuộc rất nhiều vào đặc
điểm kinh tế-xã hội, tài nguyên và văn hóa từng địa phương và từng vùng. Vì thế phân
tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức. Từ đó đề xuất giải pháp cần cải tiến nhằm
thực hiện chương trình xây dựng NTM tại vùng ĐBSCL thành công hơn thì rất cần
thiết” [18;64].
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn ĐBSCL-30 năm nhìn lại”, do Thành ủy thành phố Cần Thơ, Ban chỉ
đạo Tây Nam Bộ và Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản tổ chức tại thành phố Cần Thơ,
ngày 19/5/2014. Tại Hội thảo, các học giả đã nghiên cứu sâu sắc cả về lý luận lẫn thực
8
tiễn quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL trong 30 năm vừa
qua, đặc biệt trong nhiều bài viết, các tác giả khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ
và vai trò của NTM đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
Tham gia trong Hội thảo, PGS, TS Võ Văn Thắng khẳng định: “xây dựng NTM
là một trong những nội dung, nhiệm vụ và là thành tố quan trọng, quyết định đối với
cho vùng [4].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nông dân trong xây dựng
nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long
Các quan điểm đề cập đến vai trò của ND trong xây dựng NTM được trình bày
trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, chúng tôi khái quát ở một số quan điểm
cơ bản sau:
Tại Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây
dựng NTM khu vực ĐBSCL, tổ chức trong các ngày 24-25/02/2014 tại tỉnh Hậu
Giang, trong Báo cáo Tham luận của Ban Chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh Hậu Giang đã
rút ra bài học kinh nghiệm khẳng định vai trò quan trọng của ND trong xây dựng
NTM, báo cáo khẳng định: “Biết kế thừa và phát huy rất nhiều bài học kinh nghiệm
thành công từ các chương trình mục tiêu, các phong trào quần chúng trước đây để vận
dụng sáng tạo vào xây dựng NTM. Trong đó có bài học xuyên suốt đó là: dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” [4].
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn ĐBSCL-30 năm nhìn lại”, do Thành ủy thành phố Cần Thơ, Ban chỉ
đạo Tây Nam Bộ và Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản tổ chức tại thành phố Cần Thơ,
ngày 19/5/2014. Trong đó, PGS, TS Vũ Văn Phúc khẳng định: “CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn là sự nghiệp của toàn dân, từng hộ gia đình ND vừa là chủ thể vừa
là đối tượng CNH, HĐH” [19; 15]. Còn theo TS Nguyễn Thị Thu Nga và Trần Thị
Phương Huỳnh, “Hơn ở đâu hết, bài học to lớn mà phong trào xây dựng NTM ở
ĐBSCL đạt được trong thực tiễn nhận thức và hành động của hệ thống chính trị
(HTCT) cơ sở và người ND đó là bài học phải dựa vào sức dân, lấy dân làm gốc” [19;
307]. Cùng quan điểm đó, ThS Trịnh Xuân Thắng nhấn mạnh: “Người ND là chủ thể
chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, là lực lượng lao động đông đảo nhất
trong nguồn nhân lực ngành nông nghiệp” [19; 435]. Ngoài ra, khi bàn đến giải pháp
để ND thoát nghèo, ThS Hồng Quân chia sẻ: “… để có một chính sách giá cả nông
nghiệp vì ND, thì rất cần có sự tham gia của ND khi xây dựng, thực thi và đánh giá tác
động của chính sách này” [19; 473].
kết với doanh nghiệp để giải quyết đầu ra” [39; 38].
Trong quyển Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp ND trong
giai đoạn hiện nay (2010), TS Ngô Huy Tiếp khẳng định: “Giai cấp ND Việt Nam với
tinh thần cách mạng, tiếp nối truyền thống năm xưa đã khẳng định được vai trò to lớn
11
của mình thể hiện ở việc chi phối và quyết định sự thành bại của cả quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn” [50; 46].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, tác giả khảo sát một số bài viết đăng
trên các báo, có thể khái quát một số bài viết tiêu biểu như: Tác giả Cao Thanh Quỳnh
trong bài viết: “Vai trò ND trong xây dựng NTM” đăng trên Báo Nông nghiệp, đã
khẳng định: Trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng NTM hiện nay, ND giữ vị trí là
“chủ thể”, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con
người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của ND vào công cuộc xây dựng nông
thôn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính
đáng của họ. Vai trò của ND trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được thể
hiện là: chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện
quy hoạch xây dựng NTM; chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội ở nông thôn; chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức
sản xuất CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây
dựng và gìn giữ đời sống văn hoá-xã hội, môi trường ở nông thôn; là nhân tố góp
phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị-xã hội vững mạnh, bảo đảm an
ninh trật tự xã hội ở cơ sở [69].
Tác giả Minh Khang trong bài viết “Vai trò của ND trong xây dựng NTM”
đăng trên Cổng Thông tin Điện tử Trường Chính trị Bạc Liêu khẳng định: Xây dựng
NTM là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm làm thay đổi bộ mặt của nông
thôn cho phù hợp với thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để thực hiện
thành công chủ trương đó thì ND đóng một vai trò rất quan trọng. Sự nghiệp xây
dựng NTM với 19 tiêu chí sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia đóng
Trong bài viết “Chung sức xây dựng NTM”, tác giả Bùi Văn Sang khẳng định
“Không trông chờ, ỷ lại, xã Vĩnh Trinh chủ động phát huy nội lực, tập trung huy động
sức mạnh của cả HTCT và các tầng lớp nhân dân chung sức xây dựng NTM…” [70].
Khi nói về quá trình xây dựng NTM ở huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, tác giả Việt
Sử - Quốc Khánh khẳng định “Đảng bộ Phước Long xác định, phát huy sức mạnh nội
lực tại địa phương bằng truyền thống cách mạng, đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường với
tinh thần tiến công đột phá đúng phương châm “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó
vạn lần dân liệu cũng xong”… Khi người dân hiểu được ý nghĩa của việc xây dựng
NTM thì sẽ đồng thuận với Đảng, biến ý Đảng thành lòng dân… Phước Long có xuất
phát điểm thấp nhưng qua việc xây dựng NTM, bộ mặt nông thôn thay đổi đến diệu kỳ
là nhờ toàn Đảng bộ đoàn kết, nhất trí, biết khơi dậy sức mạnh từ lòng dân”. [71].
13
Tác giả Nguyễn Hòa Hiệp - Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang
trong bài viết “Kiên Giang: 6 biện pháp hướng về cơ sở” đăng trên Tạp chí Cộng sản,
đã khẳng định: HTCT ở cơ sở, nhất là các xã vùng biên giới có vai trò quan trọng, toàn
tỉnh đã tập trung nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT ở cơ sở, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở, chú trọng đến vấn đề tôn giáo, dân tộc ở các xã vùng
biên giới, hải đảo. Đến nay, công tác xây dựng HTCT ở cơ sở đã đạt được những kết
quả bước đầu quan trọng. Đồng thời, tác giả cũng yêu cầu HTCT ở cơ sở cần phải:
nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cấp ủy cơ sở; củng cố,
kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng ở xã; nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; nâng cao chất
lượng hoạt động của chính quyền, mặt trận, các đoàn thể ở cơ sở đồng bộ và đổi mới
phương thức chỉ đạo của các cấp ủy [75].
Tiến sĩ Lê Hanh Thông trong bài viết “Xây dựng NTM ở ĐBSCL-Thực trạng và
những vấn đề đặt ra” đã khẳng định: Để chương trình xây dựng NTM thực hiện đạt
kết quả, vai trò của HTCT cơ sở và của người dân hết sức quan trọng. Đây không chỉ
thực hiện cùng chung tay xây dựng NTM. Với các hộ ND, thông qua vận động, tuyên
truyền của địa phương, nhiều hộ đã tham gia đóng góp tiền của, tài sản vào xây dựng
địa phương. Điển hình, ở miền Đông Nam Bộ có gia đình đã đóng góp 200 gốc cao su
để làm đường (xã Tân Lập, Đồng Phú, Bình Phước); ở ĐBSCL có ND đã tự nguyện
hiến đất để chính quyền đầu tư xây dựng hai nhà máy nước với tổng trị giá 9,3 tỷ đồng
(xã Vị Thanh, Vị Thủy, Hậu Giang)” [72].
Tác giả Việt Sử - Quốc Khánh khẳng định kết quả xây dựng NTM ở huyện
Phước Long, tỉnh Bạc Liêu thời gian qua có sự tham gia rất tích cực từ phía người ND
nông thôn, đặc biệt trong “Bốn năm qua, nhân dân hiến gần 600.000 mét vuông đất để
xây dựng cầu, đường, nhà văn hóa, trường học, trạm xá…tổng giá trị gần 1.000 tỉ
đồng…”[71].
Khi nghiên cứu địa bàn xã Vĩnh Trinh, tác giả Bùi Văn Sang trong bài viết
“Chung sức xây dựng NTM”, đã kết luận: “Trong số 14 tiêu chí đạt thêm, tiêu chí giao
thông đạt được đã thể hiện ý thức tự lực và thể hiện rõ vai trò chủ thể của nhân dân
trong xây dựng NTM. Cụ thể nhân dân xã Vĩnh Trinh đã đóng góp xây dựng 9.850m
đường giao thông mặt cứng với tổng kinh phí 19,5 tỉ đồng (trong đó: giá trị hiến đất là
703 triệu đồng, giá trị vật tư là 7,197 tỉ đồng, còn lại là vốn nhà nước), nâng tổng số
toàn xã có 16,45/16,65km (đạt 98,79%) đường giao thông mặt cứng, mặt đường rộng
2,5 - 3 mét, góp phần làm cho đường thông nhà thoáng và bộ mặt nông thôn xã Vĩnh
Trinh ngày càng khang trang hơn” [70].
15
Tác giả Lê Sen trong bài viết “Kiên Giang: Xã vùng biên đ u tiên đạt tiêu chí
xã nông thôn mới” đã khẳng định “Từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới (năm
2011), xã M Đức đã được sự đồng tình của nhân dân rất cao bởi phong trào này gắn
với sản xuất và người dân địa phương… đa số người dân tích cực ủng hộ về vật chất
như hiến đất làm lộ giao thông nông thôn, tích cực thực hiện các tiêu chí về môi
trường, phát triển đời sống sản xuất…” [73]
Tác giả N.P.Đ trong bài viết “Chuyện về huyện NTM đ u tiên ở Long An” đăng
trường; phát triển các khu dân cư mới, chỉnh trang những khu dân cư hiện có ở các địa
phương. Tập trung chỉ đạo công tác tổ chức thực hiện quy hoạch trên địa bàn 82 xã.
Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đối với những quy hoạch chưa hợp lý,
chưa thực sự gắn với điều kiện thực tiễn. Thứ hai, kiện toàn Ban chỉ đạo các cấp, Văn
phòng điều phối xây dựng NTM của tỉnh và Tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo triển khai
thực hiện Chương trình đạt hiệu quả. Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý
thực hiện xây dựng NTM, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp. Thứ
ba, tiếp tục tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng để tất cả cán bộ, đảng viên và
nhân dân nhìn nhận đúng về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM và xem
đây là công tác trọng tâm, hàng đầu. Thứ tư, thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua
“Cà Mau chung sức xây dựng NTM”. Khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có
công đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn, bảo đảm tính tiêu biểu, nêu gương, giáo
dục và tạo tác động tích cực lan tỏa trong toàn xã hội. Thứ năm, tập trung đầu tư, phát
triển sản xuất, hỗ trợ các hoạt động khuyến nông-khuyến ngư giúp các hộ và các tổ
chức tiếp cận các dịch vụ, ứng dụng kiến thức khoa học k thuật, nâng cao nhận thức
và khả năng áp dụng để phát triển ngành nghề nông thôn. Phổ biến nhân rộng mô hình
sản xuất mới, phù hợp với các xã, nhất là 4 xã điểm. Thứ sáu, tiếp tục củng cố và đổi
mới hoạt động của các hợp tác xã, phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác ở
nông thôn. Đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất
để phát triển sản xuất hàng hóa. Thứ bảy, tập trung huy động tối đa mọi nguồn lực đầu
tư, gắn với việc thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án khác để đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng nông thôn; có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư
vào khu vực nông thôn. Thứ tám, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao
trình độ cán bộ tham gia Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM và đào tạo
nghề cho ND ở nông thôn [57].
Tác giả K.V (tổng hợp) từ Nguồn cpv.org.vn TQ st, trong bài viết của mình đã
xác định cho An Giang nhiều giải pháp cụ thể cho phong trào xây dựng NTM, như:-1phải luôn quán triệt mục tiêu thực hiện chủ trương về xây dựng NTM trong từng bước
17
thôn; tổ chức nhiều mô hình liên kết đa dạng giữa các đối tác, trọng tâm là doanh
18
nghiệp với ND. Mỗi xã có ít nhất 1-2 mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng
hóa có bao tiêu nông sản. Coi trọng việc triển khai đồng bộ các chế độ, chính sách của
Đảng, Nhà nước trong công tác giảm nghèo, đối với các hộ đặc biệt khó khăn, không
có điều kiện thoát nghèo sẽ có cơ chế, chính sách hỗ trợ riêng phù hợp; chú trọng đào
tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là đối với các lao động nhàn rỗi tham gia các
ngành, nghề phù hợp; chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, nâng cao chất lượng lao động nông thôn; giữ được sự bền vững các mô hình
hiệu quả như tôm - lúa, chăn nuôi bò sữa, đề án “lúa thơm-tôm sạch”…[59].
Tiến sĩ Lê Hanh Thông trong bài viết “Xây dựng NTM ở ĐBSCL-Thực trạng và
những vấn đề đặt ra” đã cho rằng: Để phát huy hơn nữa vai trò của HTCT cơ sở và
ND trong chương trình xây dựng NTM, từ kinh nghiệm chung của các xã điểm, với
các xã vùng ĐBSCL cần chú trọng đến một số yêu cầu: trong xây dựng quy hoạch
phải xuất phát từ thực tế của địa phương. Đây là khâu mở đầu song cũng là khâu khó
nhất đối với các địa phương khi thực hiện chương trình; cần có một đội ngũ cán bộ cơ
sở mạnh; nâng cao nhận thức của dân, cho dân thấy rõ trách nhiệm, quyền lợi của
mình trong xây dựng NTM bằng đẩy mạnh công tác tuyên truyền [72].
Phát biểu đề dẫn của lãnh đạo Bộ NN&PTNT tại Hội thảo “Tái cơ cấu phát
triển nông nghiệp gắn xây dựng NTM thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL” đã
khẳng định: Để phát triển sản xuất nông nghiệp theo định hướng tái cơ cấu phát triển
ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng
NTM, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, ND, nông thôn ở
vùng ĐBSCL với các điểm nhấn về thủy lợi, thủy sản, lâm nghiệp và liên kết, hợp tác
sản xuất, một số giải pháp cần phải tổ chức thực hiện đồng bộ là: (1) Đẩy mạnh công
tác, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, ND, nông
thôn, của tái cơ cấu phát triển ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước... (2) Rà soát
hoặc ít hoặc nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có đề cập và giải quyết những vấn đề
có liên quan đến nội dung đề tài luận án “Phát huy vai trò của nông dân trong quá
trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”. Trong đó, có
một số nội dung đã tương đối rõ ràng và là cơ sở lý luận, thực tiễn để luận án của tác
giả kế thừa, như: các vấn đề lý luận về ND, nông thôn, NTM; nội dung cơ bản, chức
năng của NTM; các vấn đề trọng yếu cần quan tâm giải quyết; các nhân tố quan trọng
cần ưu tiên giải quyết để tạo nguồn lực cho xây dựng NTM; các bài học kinh nghiệm
rút ra từ thực tiễn ở các địa phương và quốc tế sau quá trình xây dựng NTM.
20