Một số giải pháp phát huy vai trò của đoàn thanh niên tham gia xây dựng nông thôn mới - Pdf 13


1

T.Ư ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO KHOA HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
ĐOÀN THANH NIÊN THAM GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Mã số:KTN 2010 - 04 Chủ nhiệm đề tài: Ths. PHẠM HUY GIANG
Cơ quan chủ trì: BAN THANH NIÊN NÔNG THÔN
8936

Hà Nội, tháng 12/2010

2
MỤC LỤC

2.2.1. Kết quả hoạt động của Đoàn tham gia phát triển kinh tế ở nông thôn
Error! Bookmark not defined.
2.2.1.1. Xây dựng và mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác phát triển
kinh tế trong thanh niên nông thôn Error! Bookmark not defined.
2.2.1.2. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ thanh niên nông thôn lập thân, lập
nghiệp Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Kết quả hoạt động của Đoàn tham gia xây dựng đời sống văn hóa phong
phú, lành mạnh ở nông thôn Error! Bookmark not defined.
2.2.2.1. Phát triển mạnh mẽ
các loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể
thao quần chúng ở cơ sở Error! Bookmark not defined.
2.2.2.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà văn hóa thanh, thiếu nhi trên
cả nước Error! Bookmark not defined.
2.2.2.3. Cung cấp các ấn phẩm văn hóa phục vụ đời sống tinh thần cho thanh thiếu
nhi Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Kết quả hoạt động của Đoàn tham gia bảo vệ, phát triển và nâng cao chất
lượ
ng môi trường nông thôn Error! Bookmark not defined.
2.2.3.1. Công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho thanh thiếu nhi về bảo vệ
môi trường Error! Bookmark not defined.
2.2.3.2. Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về
công tác bảo vệ môi trường cho cán bộ Đoàn các cấpError! Bookmark not defined.
2.2.3.3. Phối hợp xây dựng các mô hình can thiệp tại cộng đồng, tạo mẫu cho thanh
thiếu nhi và nhân dân học tập Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Kết quả hoạt
động của Đoàn tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở
nông thôn Error! Bookmark not defined.
2.2.4.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên nông thôn Error!
Bookmark not defined.
2.2.4.2. Công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng; phụ trách Đội thiếu niên

nông thôn Error! Bookmark not defined.

5
3.1.3. Về hoạt động xây dựng đời sống văn hoá, bảo vệ môi trường ở nông thôn
Error! Bookmark not defined.
3.1.4. Về tham gia xây dựng hạ tầng, cảnh quan ở nông thôn Error! Bookmark
not defined.
3.1.5. Về phối hợp với các đoàn thể khác trong tổ chức hoạt động Error!
Bookmark not defined.
3.2. Dự báo tình hình thanh niên nông thôn những năm tới Error! Bookmark
not defined.
3.3. Quan điểm và mục tiêu của Đoàn thanh niên tham gia xây dựng nông
thôn mới Error! Bookmark not defined.
3.3.1. Quan
điểm Error! Bookmark not defined.
3.3.2. Mục tiêu Error! Bookmark not defined.
3.4. Một số giải pháp phát huy vai trò của Đoàn thanh niên tham gia xây dựng
nông thôn mới Error! Bookmark not defined.
3.4.1. Tích cực góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn
Error! Bookmark not defined.
3.4.2. Phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế ở nông
thôn Error! Bookmark not defined.
3.4.3. Phát huy vai trò của thanh niên trong xây dựng đời sống văn hóa mới, giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống trên địa bàn nông thôn Error!
Bookmark not defined.
3.4.4. Phát huy vai trò của thanh niên trong giữ
gìn, bảo vệ môi trường, bảo vệ
dòng sông quê hương; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh ở nông thôn Error!
Bookmark not defined.
3.4.5. Phát huy vai trò của thanh niên tích cực tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng,

07 XHCN Xã hội chủ nghĩa
08 LHTN Liên hiệp thanh niên
09 CNH Công nghiệp hóa
10 HĐH Hiện đại hóa
11 KT - XH Kinh tế - xã hội
12 KHCN Khoa học công nghệ
13 ĐVTN Đoàn viên thanh niên
14 HTX Hợp tác xã
15 TNLN Thanh niên lập nghiệp
16 TBKT Tiến bộ kỹ thuật
17 NXB Nhà xuất bản 8
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đưa ra mục
tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Muốn thực hiện được mục tiêu này, phải hướng sự phát
triển về vùng nông thôn, nhằm khai thác hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài
nguyên, tạ
o nên sự phát triển cân đối, hài hoà, thu hẹp khoảng cách giữa nông
thôn và thành thị. Tại Hội nghị lần thứ 7 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khoá X) đã ban hành Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân và nông
thôn. Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã xây dựng Chương trình hành
động và ban hành Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Theo đó, trong những năm tới, Đảng và Nhà nước ta sẽ dành nhiều sự quan tâm
để thúc
đẩy phát triển vùng nông thôn, trong đó lấy nông dân là nhân tố trung

c vấn, chính trị, rèn luyện tư cách,
phẩm chất để đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra.
Tuy nhiên, nhìn chung, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật
của thanh niên nông thôn còn thấp, trung bình chỉ có khoảng 12% đã tốt nghiệp
THPT; tỷ lệ lao động có chuyên môn, kỹ thuật thấp hơn so với khu vực thành thị
khoảng 4 lần (3,11% so với 13,39%); trình độ cao đẳng, đại học trở lên của
thanh niên nông thôn thấp hơn 6 l
ần so với thanh niên thành thị; trình độ học vấn
của thanh niên nông thôn cũng có sự khác biệt lớn giữa các nhóm ngành [18].
Những người có trình độ học vấn thấp thường tập trung ở nhóm ngành nông -
lâm - thuỷ sản; những người có trình độ cao hơn thường tập trung ở nhóm ngành
công nghiệp và dịch vụ; tình trạng thiếu việc làm ở thanh niên nông thôn còn cao
và cao hơn tỷ lệ chung. Phần lớn thanh niên nông thôn thiếu kiến thức và kinh
nghiệm làm ăn, thiế
u vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt ở các
địa bàn miền núi, biên giới và hải đảo; sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo kinh
nghiệm gia truyền, hoặc theo dạng tập huấn ngắn ngày cho từng loại cây, con. So
với các đối tượng thanh niên khác, thanh niên nông thôn ít có điều kiện tiếp cận
với thông tin thị trường, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới; ít có điều kiện đượ
c

10
học nghề và đào tạo nghề, học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Điều kiện để
tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hoá tinh thần ở nông thôn
cũng hết sức khó khăn, thiếu thốn do thiếu địa điểm, trang thiết bị cho sinh hoạt,
vui chơi. Tỷ lệ đoàn viên, thanh niên nông thôn đi làm ăn xa ngày càng lớn trong
tổng số thanh niên ở các địa phương, trong đó, thời gian đi làm
ăn xa thường dao
động trong khoảng từ 3 tháng, 6 tháng, hoặc 1 năm; địa bàn đi làm ăn xa thường
là các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất Mặc dù đã có rất

điểm triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đại diện 3 miền Bắc,
Trung, Nam)
- Về thời gian: đề xuất các giải pháp thực hiện từ nay đến hết năm 2017
(gắn với nhiệm k
ỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê, phân tích số liệu, tài liệu, kế thừa kết quả các nghiên cứu trước.
- Tọa đàm, phỏng vấn, đối thoại, lấy ý kiến các nhà quản lý, chuyên gia.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
+ Số lượng điều tra: 500 phiếu
+ Đối tượng điều tra: cán bộ cấp uỷ, chính quyền các cấ
p, cán bộ Đoàn,
người dân và thanh niên về hoạt động tham gia xây dựng nông thôn mới của
thanh niên.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của tổ chức Đoàn trên địa bàn nông
thôn thời gian qua.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát huy vai trò của Đoàn thanh niên
tham gia xây dựng nông thôn mới.
7. Sản phẩm nghiên cứu của đề tài
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu;
- Báo cáo tóm t
ắt;
- Kỷ yếu hội thảo;
- Bảng tổng hợp số liệu điều tra xã hội học.
8. Cơ quan phối hợp nghiên cứu

12
- Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn – Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn

tự nhiên - kinh tế - xã hội. Tính đến năm 2009, nông thôn Việt Nam có đến
70,4% dân số sinh sống [19].
1.1.2. Khái niệm về nông dân
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất
nông nghi
ệp

[21]. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các
ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ
lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành
nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.
Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã phát
triển giai cấp nông dân, đượ
c tổ chức chặt chẽ nhất là là trong nền văn minh Ai
Cập. Đến thời kỳ Hy Lạp, La Mã, hình thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ
sở ruộng đất lớn của chủ đất, hay chúa đất. Tiếp đó, ở nông thôn tầng lớp phú
nông, địa chủ, cùng với tư sản thành thị.
Ngày nay, nông dân có sinh hoạt, tổ chức khác nhau trên từng địa phương,
quốc gia. Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị
phụ thuộc vào các
tầng lớp trên. Ở các quốc gia vùng châu thổ các sông lớn ở Đông Nam Á, người
nông dân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất lao động

14
thấp. Ở các nước phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng, tầng lớp tiểu
nông ngày các ít đi. Ở Mỹ, chủ trang trại có sự hợp đồng với các công ty vật tư,
hóa chất, cơ khí và sử dụng các nhân công tạm thời. Các chủ trang trại chiếm
10% dân cơ nhưng nông dân làm ra hai phần sản lượng nông nghiệp của Mỹ.
Theo số liệu của Hội Nông dân Việt Nam: tính đến năm 2009, nước ta có
khoảng 13 triệ

1.1.4. Khái niệm nông thôn mới
Theo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020 của Chính phủ: nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắ
n nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và
tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ
nghĩa [1].
1.2. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển
nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Chủ trương, nghị quyết của Đảng
Qua các giai đoạn cách mạng của nước ta, nông dân luôn là lực lượng có
đóng góp to lớn về tinh thần, sức lực, tính mạng và của cải, vượt qua muôn vàn
hy sinh, gian khổ, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc.
Thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo đị
nh hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định tầm
vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy,
Ðảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan
trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn
định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái.
Mốc son khởi đầu thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước được xác định là Ðại
hội VI của Ðảng (tháng 12 - 1986). Nhưng, những bước đi đầu tiên trong cải tiến
cơ chế quản lý đã cho thấy sự xuất hiện sớm hơn của tư duy mới, cách làm mới
trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có Chỉ thị 100 (tháng 10 - 1981) của Ban Bí thư

16

ọng”;
“Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết
đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” và “Xây dựng nông

17
thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển
ngày càng hiện đại” [5].

Trong hơn 20 năm đổi mới của đất nước, nông nghiệp, nông thôn liên tục
phát triển, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, xóa
đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Thành tựu về phát triển nông
nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo là một trong những thành tựu kinh tế nổi
bật của nước ta trong thời kỳ mới. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng công
nghiệp, dịch vụ, ngành nghề đã góp phần t
ạo việc làm và tăng thu nhập cho dân
cư nông thôn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất
là thủy lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm
thay đổi bộ mặt nông thôn; các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục
được đổi mới, phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các
nguồ
n lực ở nông thôn, cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được
nâng cao; đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng
được cải thiện; xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Bên cạnh đó, hệ thống
chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường, dân chủ cơ sở được
phát huy, vị thế của giai cấp nông dân được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được giữ v
ững. Tuy nhiên, hiện nay đang xuất hiện nhiều thách thức
mới trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân, ảnh hưởng tới sự phát triển bền
vững của quá trình công nghiệp hóa đất nước. Nông thôn đang phát triển thiếu

thái. Trong mối quan hệ mật thiết nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân
là chủ thể của quá trình phát triển. Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao
đời sống nông dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Giải quyết vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải dựa trên cơ
chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng và cả nước.
Ngoài ra, Nghị quyết 26 xác định đến hết năm 2010: tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ trong sản xuất kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân, triển
khai một bước công tác xây dựng nông thôn mới.
1.2.2. Chính sách của Nhà nước

19
Xây dựng nông thôn mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự đồng lòng,
chung sức của toàn Đảng, toàn dân và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, đặc
biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)
về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Chính phủ đã chỉ đạo các cấ
p, các
ngành tập trung triển khai nhiều chương trình, dự án và các giải pháp tiếp tục
phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện; tăng cường nỗ lực xoá đói, giảm
nghèo; tiếp tục cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần dân
cư nông thôn, tham gia góp phần xây dựng nông thôn mới. Ngày 28 tháng 10
năm 2008, Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ đã ban hành Chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết H
ội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong đó,
Chính phủ giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp
với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới. Chương trình được đưa ra nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát
triển nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của người

ng cho xây dựng công trình
cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư, đường giao thông thôn, xóm,
giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng [1]
1.2.3. Những nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
491/QĐ-TTg ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu
chí và được chia thành 5 nhóm, cụ thể: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng
kinh tế - xã hội, về kinh tế
và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường
và về hệ thống chính trị.
Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể
theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông
Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
của mỗi vùng.
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: quy hoạch và thực
hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa,
chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ
hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa,

21
môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã
hội.
Mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để
được công nhận đạt xã nông thôn mới. Cụ thể, về tiêu chí giao thông, 1 xã thuộc
đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt 100% đường trục thôn, xóm
được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của B
ộ Giao thông vận tải. Tiêu chí
này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là
70%, còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu

là đội quân xung kích cách mạng, do
đó Đoàn có vai trò và trọng trách to lớn
trong việc tổ chức, động viên đoàn viên, thanh niên cả nước xung kích đi đầu
trong việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội đất nước, xây dựng Tổ quốc Việt
Nam XHCN. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn, có thể xác định vai
trò của Đoàn trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội thể hiện:
1.3.1.1. Đoàn là t
ổ chức chính trị - xã hội của thanh niên, do đó Đoàn cần
tổ chức các phong trào hành động cách mạng thu hút tập hợp thanh niên tham gia
các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương, đơn vị để thực
hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra
Đoàn là hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên, do đó Đoàn phải là nòng
cốt chính tr
ị của Hội LHTN Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam trong việc tổ
chức các hình thức tập hợp đoàn kết thanh niên tham gia phát triền kinh tế - xã
hội vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
1.3.1.2. Đoàn là đội quân xung kích cách mạng, do đó Đoàn cần tổ chức
thu hút thanh niên tham gia vào các đội hình tình nguyện xung kích đảm nhận
các nhiệm vụ trọng yếu, các công việc ở vùng khó khăn gian khổ đòi hỏi tinh
thần xung phong, tình nguy
ện và khả năng sáng tạo của thanh niên.
1.3.1.3. Đoàn là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, do đó Đoàn
cần tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội để thông qua đó bồi dưỡng, rèn luyện
kỹ năng, nghiệp vụ và phát huy những tiềm năng, thế mạnh của thanh niên.
1.3.1.4. Đoàn là người đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
thanh niên, do
đó Đoàn cần tổ chức và tạo điều kiện cho thanh niên đảm nhận

23
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống, làm giàu cho

i, Ngành nghề mới, Thị trường mới và Mô hình mới. Qua

24
đó, những tấm gương thanh niên nông thôn sản xuất, kinh doanh giỏi, vượt khó,
làm giàu chính đáng; những triệu phú, tỷ phú tuổi 30 đang ngày càng xuất hiện
nhiều, đóng góp tích cực vào công tác xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Nhằm phát huy những kết quả trước đó, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn
quốc lần thứ IX (nhiệm kỳ 2007 – 2012) đã phát động trong toàn Đoàn 2 phong
trào: 5 xung kích phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ qu
ốc và 4 đồng hành với
thanh niên lập thân, lập nghiệp; đồng thời, tiếp tục nêu rõ: “ Tuyên truyền nâng
cao nhận thức cho thanh niên về nghề nghiệp; tổ chức sâu rộng các hoạt động tư
vấn nghề và hướng nghiệp, chú trọng địa bàn nông thôn và trong các trường học,
giúp cho thanh niên có nhận thức đúng về lao động và nghề nghiệp, định hướng
nghề và chọn nghề đúng. Phát triển các hình thức tư vấn nghề cho thanh niên;
lập các điểm tư vấn việc làm tại chỗ gắn liền với hoạt động của chi đoàn, đoàn
cơ sở Tăng cường nắm bắt thông tin thị trường lao động và nhu cầu việc làm
của thanh niên; tổ chức và phối hợp tổ chức các hội chợ việc làm, ngày hội việc
làm, sàn giao dịch việc làm, xây dựng các trang thông tin điện tử, ngân hàng về
lao động và việc làm, tham gia d
ạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên.
Tích cực hướng dẫn giúp thanh niên vay vốn phát triển sản xuất và tham gia xuất
khẩu lao động; khuyến khích và vận động thanh niên chủ động tự tạo việc làm,
tự giúp nhau lập nghiệp, góp vốn và liên kết trong sản xuất, kinh doanh. Tham
mưu cho Chính phủ và các cấp chính quyền tạo cơ chế, chính sách khuyến khích
học nghề, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, tạo việc làm và vay v
ốn tạo việc làm
cho thanh niên; chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
tham gia dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên ”. Gần đây nhất, tại Hội
nghị lần thứ ba Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (khoá IX), đã ban hành Kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status