5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người
Việt Nam đang được đặt ra rất cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) nước ta. Bởi lẽ, ngày nay với cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin
(CMTT), loài người đang thực hiện bước chuyển từ nền văn minh công
nghiệp sang nền văn minh tin học, từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức, thì hơn bao giờ hết thông tin đang trở thành tài sản số một
của mỗi quốc gia, dân tộc và sự phồn thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc ấy
phụ thuộc trước hết và quyết định vào vấn đề tư duy của con người ở đó
tiếp nhận và xử lý thông tin như thế nào. Hơn nữa, Việt Nam lại là một
nước nông nghiệp, sản xuất nhỏ, thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện hiện
nay tất yếu phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ to lớn: chuyển
biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức thì nhu cầu về thông tin, tri thức càng rất lớn
để mau chóng rút ngắn được khoảng cách về tri thức, và đặc biệt vấn đề
tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam càng là một thách
thức nghiệt ngã, một bài toán hóc búa!
Thông tin là một trong những nhu cầu sống còn của con người, để
tồn tại và phát triển, tư duy con người phải thường xuyên tiếp nhận và xử lý
thông tin. Nhưng không phải ngay từ đầu thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử
lý thông tin của tư duy con người đã được con người đề cập đến. Có thể
nói, phải đến khi lý thuyết thông tin ra đời, con người mới tiếp cận hiện
tượng thông tin ở cấp độ khái niệm và cũng từ đó nó đòi hỏi sự khái quát
triết học về bản chất chung nhất của thông tin vì thông tin là thuộc tính
khách quan của vật chất, nó gắn liền với phản ánh - thuộc tính vốn có của
đáp ứng và tiến tới làm chủ được thông tin trong điều kiện của cuộc CMTT
7
hiện nay. Vì vậy nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tạo ra và phát huy
nguồn lực tư duy, trí tuệ - nguồn lực quyết định cho sự phồn thịnh của dân
tộc Việt Nam vững bước bước vào thiên niên kỷ mới!
Nhận thức được tính cấp thiết trên đây, chúng tôi đã quyết định
chọn và nghiên cứu đề tài: "Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin
của tư duy người Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thông tin là một hiện tượng tồn tại khách quan, nhưng có thể nói,
phải từ khi có sự bùng nổ thông tin thì triết học mới có thêm cơ sở và điều
kiện để chú ý đúng mức hơn đến hiện tượng thông tin và khái niệm "thông
tin" về phương diện triết học, cũng như quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa
thông tin và phản ánh (thuộc tính phổ biến của vật chất) và đặc biệt đến quá
trình thông tin diễn ra trong tư duy con người. Một số công trình nghiên
cứu về những vấn đề đó của các tác giả trong và ngoài nước đã được chính
thức công bố.
Trước hết phải kể đến một số công trình của các tác giả nước ngoài.
Trong đó đáng chú ý là các công trình của N.I.Jucôv: "Những cơ sở triết
học của điều khiển học", Nxb Minxcơ, 1973; B.V.Birjukốp: "Điều khiển
học và phương pháp luận của khoa học", Nxb Khoa học Matxcơva, 1974;
và A.D.Urxun: "Vấn đề thông tin trong khoa học hiện đại" Nxb Khoa học
Matxcơva, 1975. Đặc biệt là công trình cộng tác của các nhà triết học và
khoa học Liên Xô (trước đây) và Bungari do T.Páplốp làm chủ biên, đó là:
"Lý luận phản ánh của Lênin và thời đại", Xôphia, 1969; "Lý luận phản
ánh của Lênin và khoa học hiện đại", tập 1, 2, 3, Xôphia, 1973; "Lý luận
phản ánh của Lênin dưới ánh sáng của sự phát triển khoa học và thực
xuất hàng đầu", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Đó là Lê Hữu
Nghĩa và Phạm Duy Hải với "Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng
khoa học - công nghệ", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Và đó là,
Bùi Biên hòa (chủ biên) với "Sự đột phá của khoa học thông tin trước thế
9
kỷ XXI", Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Thông tin
khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
Từ đề tài thông tin với vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy
con người nói chung, một số tác giả khác đã tiếp cận cụ thể thông tin với
vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam. Nhưng chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống vấn đề đó, cũng
như chưa có công trình nào khái quát được những đặc điểm cơ bản của quá
trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam trên cơ sở chỉ ra
cơ chế và những đặc trưng của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư
duy con người nói chung. Và, mới chỉ có một số tác giả, công trình đề cập
đến phương diện tiếp nhận và xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam
trong một lĩnh vực cụ thể và với một mức độ nhất định nào đó. Chẳng hạn
như Lê Thị Lan với "Tìm hiểu một số quan niệm chi phối tư duy các nhà
cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX", Tạp chí Triết học, số 1, tháng
3/1995; Lê Hữu Tuấn với "Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy của
người Việt trong lịch sử", Tạp chí Triết học, số 6, 12/1998; và Nguyễn
Hùng Hậu: "Âm và Nhu phải chăng là đặc tính cơ bản của người Việt, của
dân tộc Việt?", Tạp chí Triết học, số 3, 6/1999. Vấn đề đó còn được thể
hiện ở một số bài viết, bài nghiên cứu về nhận diện tư duy của các nhân vật
lịch sử như: "Nhận dạng và suy ngẫm về tư duy Hồ Chí Minh" của Hồ Bá
Thâm, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, 1/1995; "Tư tưởng đổi mới của Nguyễn
Trường Tộ, một biểu hiện mới của tinh thần dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX"
một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Phân tích bản chất thông tin và quá trình thông tin trong thế giới
khách quan, từ đó làm rõ cơ chế và những đặc trưng khác hẳn và hơn hẳn
về chất của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người so với
các quá trình thông tin khác.
11
+ Phân tích và khái quát những đặc điểm cơ bản của quá trình tiếp
nhận, xử lý thông tin trong tư duy người Việt Nam và chỉ ra những tác
động của cuộc CMTT hiện nay đến quá trình đó.
+ Trình bày một số giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tiếp
nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam trong điều kiện cuộc
CMTT hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Với mục đích nghiên cứu ở trên, phạm vi nghiên cứu của luận án
"Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt
Nam" được xác định như sau:
Luận án tiếp cận thông tin ở phương diện triết học, thông tin được
xem xét với tư cách là thuộc tính khách quan của vật chất, là một mặt của
phản ánh. Trong đó, thông tin xã hội - dạng thông tin phát triển cao nhất,
phức tạp nhất - chính là đối tượng tiếp nhận, xử lý của tư duy con người,
trong đó có tư duy người Việt Nam.
Luận án nghiên cứu và làm rõ bản chất của tư duy con người nói
chung và đặc biệt là đặc điểm của tư duy người Việt Nam nói riêng ở
phương diện tiếp nhận và xử lý thông tin.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Vận dụng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là lý luận nhận thức
pháp cơ bản để nâng cao năng lực tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy
người Việt Nam trong điều kiện CMTT hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tạo điều kiện,
13
bồi dưỡng và phát triển tư duy, trí tuệ, nâng cao năng lực tiếp nhận và xử lý
thông tin của tư duy người Việt Nam trong điều kiện của cuộc CMTT hiện
nay. Và, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy triết học, cũng như lý thuyết thông tin, điều khiển học và tin học.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm 3 chương, 7 tiết.
14
Chương 1
THÔNG TIN VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN,
XỬ LÝ THÔNG TIN CỦA TƯ DUY CON NGƯỜI
1.1. BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN
1.1.1. Khái niệm thông tin
1.1.1.1. Hiện tượng thông tin trong thế giới khách quan
Chúng ta đã từng biết, D.Roa der - nhà sinh thái Mỹ khám phá ra
rằng cây cối trao đổi thông tin cho nhau bằng những tín hiệu vô hình. Khi
giống... Nhờ tiếng chim hót của mình và đồng loại, chim thông báo cho
nhau những thông tin nào đó (thông qua tín hiệu tai họa, cảnh giới, thức ăn,
kết đôi, tấn công, gọi bầy, làm tổ...).
Có thể nói, thông tin là một hiện tượng tất yếu, đóng vai trò cực kỳ
quan trọng trong đời sống sinh tồn của động vật. Động vật thường xuyên
trao đổi thông tin cho nhau thông qua tiếng kêu, tiếng hú, mùi vị, qua dáng
điệu và cử động thân thể của chúng...
Với con người và xã hội loài người thì thông tin càng trở thành
một trong những nhu cầu sống còn của mình. Người nguyên thủy thông
tin cho nhau về thú dữ, về sự tấn công của các thị tộc, bộ lạc khác, về
nguồn thức ăn, về nhu cầu tình cảm... Con người hiện đại thông tin cho
nhau về thời tiết, về kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xã hội, về những
vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, về nhu cầu tình cảm, về những nguyên
tắc đạo đức hay thị hiếu thẩm mỹ... Chúng ta có thể cảm nhận được
thông tin ở mọi lúc, mọi nơi với vô vàn cách biểu hiện phong phú và đa
dạng của thế giới xung quanh. Chúng ta thường xuyên nhận được thông
tin về tình hình chính trị, văn hóa - xã hội, thể thao trong nước và trên
thế giới qua ti vi, báo chí, đài phát thanh... chúng ta còn có thể nhận
được thông tin về trận động đất sẽ xảy ra ở một nơi nào đó, về nhật thực,
nguyệt thực...
16
Và ngày nay, qua mạng Internet, con người có thể hàng ngày, hàng
giờ, có khi tới từng phút, từng giây trao đổi thông tin với tất cả mọi người
trên thế giới, biết được về quá khứ, hiện tại và những dự báo tương lai...
Như vậy, thông tin rõ ràng là hiện tượng vốn có của thế giới khách
quan. Dường như mọi dạng vật chất đều có thông tin. Thông tin được thể
hiện qua các thông báo bằng các biểu hiện vật chất hết sức đa dạng do bản
"Thông tin kinh tế là các tín hiệu mới thu nhận được, được thụ cảm (hiểu)
và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định quản lý" [20, tr. 15].
Cũng có thể từ góc độ đánh giá vai trò của thông tin, như nhà khoa học
Đức E.Pietch đã chỉ ra: "Thông tin là một sản phẩm mà với ý nghĩa công
dụng của nó có thể xem ngang hàng với trữ lượng nguyên liệu của nước
đó" [102, tr. 41]...
Có thể, từ góc độ nhận thức của con người: "Thông tin thường được
hiểu là nội dung chứa trong thông báo bằng văn bản hay lời nói" [53, tr. 3]
hoặc "thông tin là dữ liệu mà có thể nhận thấy, hiểu được và sắp xếp lại với
nhau thành hình kiến thức" [19, tr. 9], hay "thông tin là nội dung thế giới bên
ngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người" (N.Viner) [45, tr.
8].
Ngoài những cách tiếp cận theo từng góc độ trên, một số cách tiếp
cận đã có tầm khái quát hơn. Đó là: "Thông tin là sự truyền đưa độ đa dạng"
(R.E sbi) [45, tr. 8]; "thông tin là thực thể, là độ đo tính phức tạp" (H.Mole)
[45, tr. 8] và "thông tin là xác suất sự lựa chọn" (I.Aglom) [45, tr. 8].
Dù tiếp cận thông tin ở phương diện, góc độ nào nhưng những định
nghĩa trên đều là cơ sở góp phần làm rõ bản chất của hiện tượng thông tin.
Để làm rõ được bản chất của hiện tượng thông tin, trước hết chúng ta hãy
xuất phát từ một thuộc tính của vật chất mà thuộc tính này có liên quan đến
sự xuất hiện, hình thành thông tin: đó là thuộc tính phản ánh.
Vậy phản ánh là gì? - "Phản ánh là năng lực một hệ thống vật chất
này (A) tái hiện ở trong nó, dưới dạng ít nhiều đã biến đổi những đặc điểm,
18
thuộc tính của một hệ thống vật chất khác (B), khi nó chịu tác động của
B" [44, tr. 39] hay nói cách khác: phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm
của hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động
Vậy trước hết, mặt bản thể luận của khái niệm thông tin bao gồm
những nội dung gì?
- Thứ nhất: Thông tin có nguồn gốc từ tính đa dạng, nhiều vẻ về
thuộc tính, cấu trúc cũng như các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng
21
trong thế giới khách quan. Nếu trong một sự vật đang diễn ra những biến
đổi phản ánh sự tác động của một sự vật khác (sự vật biến đổi ấy phù hợp ít
hay nhiều với những thuộc tính, cấu trúc, mối quan hệ của sự vật khác đó)
thì có thể nói sự vật thứ nhất đang trở thành vật thể mang thông tin về sự
vật thứ hai. Ngay từ vật chất vô sinh, chẳng hạn như một thanh sắt để trong
không khí, lâu ngày sẽ bị gỉ, lớp gỉ đó chính là hợp chất ôxýt sắt do ôxi có
trong thành phần không khí đã tác dụng với sắt mà tạo thành.
4Fe + 3O2 = 2 Fe2O3
Sự biến đổi của sắt thành ôxýt sắt (ở lớp bề ngoài của thanh sắt nơi tiếp giáp với không khí) đã lưu lại (phản ánh) "dấu ấn" ôxi của không
khí, hay nói cách khác sắt đã mang thông tin về không khí. Tuy nhiên
thông tin ấy chỉ tồn tại với tính cách là thông tin về mặt cú pháp (phần này
sẽ được phân tích cụ thể ở 1.1.2.a). Với vật chất hữu sinh, như ví dụ dẫn ra
ở phần 1.1.1.a, cây cối tăng thêm chất chát ở trong lá, sự biến đổi ấy là
phản ánh tác động của môi trường có nhiều sâu bọ phá hoại, hay nói cách
khác khi đó cây cối đã mang thông tin về thuộc tính có sâu bọ phá hoại của
môi trường. Tất nhiên thông tin này (cũng như thông tin trong thế giới
động vật, đặc biệt đối với con người và xã hội loại người), khác với thông
tin trong thế giới vô sinh vì đó là những thông tin có điều khiển, ở đây vật
nhận thông tin có khả năng điều chỉnh sự tồn tại của mình trên cơ sở thông
tin ấy.
Như vậy, thông tin không phải tự nhiên mà có, nó bắt nguồn từ
chính những đặc điểm, tính chất vốn có của sự vật, hiện tượng trong thế
tin là: thông tin gắn liền và thông qua tác động qua lại giữa các sự vật,
hiện tượng. Nếu không có tác động qua lại đó thì không thể có thông tin.
Tác động qua lại giữa các sự vật là quá trình các sự vật đó ảnh hưởng lẫn
nhau, là một hình thức vận động, phát triển chung nhất, phổ biến nhất. Sự
tác động qua lại là "kiểu liên hệ đặc biệt mà trong đó các sự vật, hiện tượng
là đối tượng biến đổi của nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ đó
23
mà sự vận động biến hóa của thế giới thực hiện thường xuyên, liên tục" [44,
tr. 55]. Sự tác động qua lại quy định sự tồn tại và tổ chức kết cấu của mọi
hệ thống vật chất, quy định sự liên kết của nó cùng với các sự vật khác vào
một hệ thống lớn hơn, quy định các tính chất của tất cả các sự vật, hiện
tượng và quá trình. Chính tác động qua lại giữa các yếu tố trong một sự vật,
giữa các sự vật với nhau,... làm cho chúng vận động, biến đổi. Sự vận
động, biến đổi ấy mang dấu ấn về những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ
của vật tác động vào nó. Có nghĩa là chúng có được những thông tin về
nhau. Vì vậy, tác động qua lại giữa các sự vật là cơ sở làm nảy nở, hình
thành thông tin và truyền thông tin đó từ vật tác động sang vật bị tác động.
Chúng ta biết rằng, thế giới khách quan luôn luôn tác động đến con người,
qua đó con người tiếp nhận được những thông tin về thế giới ấy. Nhưng
đồng thời con người (khác hẳn so với con vật) thường xuyên tác động vào
thế giới khách quan một cách chủ động, có ý thức, tích cực và sáng tạo.
Nhờ đó, con người làm cho thế giới khách quan bộc lộ nhiều hơn, rõ hơn,
đầy đủ hơn... những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ vốn có của nó. Và
những đặc điểm, tính chất,... ấy lại tác động đến con người, con người sẽ
tiếp nhận được những thông tin phong phú hơn về thế giới khách quan.
Chính ngày nay con người đang nhận được thông điệp của tự nhiên, đó là
nếu con người tiếp tục khai thác đến cạn kiệt và thậm chí phá hoại sự cân
trong những chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu lôgíc - phương
pháp luận của điều khiển học: "Vạch ra bản chất của thông tin thông qua
cái đa dạng và giải thích nó như cái đa dạng được phản ánh là cơ sở đầy đủ
cho luận đề về tính khách quan của thông tin" [136, tr. 250]. Và như trên đã
phân tích nếu cái đa dạng biểu thị bằng entrôpi của hệ thì thông tin về hệ
đó sẽ là neentrôpi. Thông tin chính là neentrôpi, cho biết mức độ tổ chức,
trật tự, ổn định của hệ thống!
Hiện nay có một số ý kiến giải thích thông tin gắn liền với phản
ánh chỉ là biểu thị mặt nhận thức luận của nó. Nếu vậy, mặt bản thể luận
25
của khái niệm thông tin bị thu hẹp và chúng ta chưa thấy rõ được bản chất
của thông tin là "cái đa dạng được phản ánh" sự nhìn nhận phiến diện ấy
là do ảnh hưởng của quan niệm triết học trước Mác về nguyên tắc phản
ánh và bản thân khái niệm "phản ánh" theo quan niệm này, nguyên tắc
phản ánh và khái niệm "phản ánh" thường bị tách khỏi mặt bản thể luận
của vấn đề cơ bản của triết học và chỉ đảm nhiệm chức năng nhận thức
luận (!).
Từ việc tiếp cận mặt bản thể luận của khái niệm thông tin, một vấn
đề đặt ra là: Khái niệm thông tin là cái đa dạng được phản ánh có bao quát
được một dạng thông tin đặc biệt - thông tin tiềm năng không? Hay nói
cách khác thông tin tiềm năng có thuộc ngoại diện của khái niệm thông tin
được định nghĩa như trên không?
Theo một số các nhà lý thuyết thông tin, một số nhà triết học thì
thông tin tiềm năng chính là cái đa dạng của khách thể tự nó, là cấu trúc, tổ
chức của nó, có khi còn gọi là vắn tắt là thông tin cấu trúc. Do vậy, định
nghĩa: "Thông tin là cái đa dạng được phản ánh" còn hạn chế là chưa khái
quát được loại thông tin tiềm năng nó mới chỉ bao quát được loại thông tin
của vật chất, không thấy được thông tin là một mặt của phản ánh. Như vậy,
thông tin gắn liền với phản ánh, thông tin không phải là phản ánh nhưng
cũng không nằm ngoài phản ánh! Thuật ngữ do R.Esbi nêu lên: "Truyền cái
đa dạng" được giải thích cụ thể hơn trên cơ sở phạm trù phản ánh. Đồng
thời chính khái niệm thông tin đã làm sâu sắc thêm phạm trù "phản ánh"
trong triết học.
Mối quan hệ giữa phản ánh và thông tin, vì vậy không thể không
được đặt ra nếu như chúng ta muốn tìm hiểu mặt nhận thức luận của khái
niệm thông tin.
Trước hết, chúng ta thấy rằng phản ánh của vật chất có bao hàm
phản ánh thông tin. Vì thực chất của quá trình phản ánh giữa các hệ thống
vật chất bao hàm quá trình trao đổi vật liệu, năng lượng, cấu trúc và cái đa
27
dạng thông qua liên hệ tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất đó. Mà
truyền cái đa dạng chính là truyền thông tin từ hệ thống vật chất này đến hệ
thống vật chất khác. Như vậy phản ánh của vật chất có bao hàm phản ánh
thông tin nhưng đó mới là một mặt của sự phản ánh, ngoài ra phản ánh
thông tin, phản ánh của vật chất còn phản ánh vật liệu, năng lượng, cấu
trúc. Nhưng vì thông tin bắt nguồn, có nguồn gốc từ tính bất định của hệ
thống vật chất nên thông tin "thẩm thấu" vào tất cả các tính chất của hệ
thống vật chất: vào vật liệu, năng lượng và cấu trúc. Do đó, mọi phản ánh
của vật chất đều bao hàm mặt phản ánh thông tin. Và, vì thông tin được
quy định bởi tính bất định của sự vật nên "thông tin" thường gắn liền với
phương pháp nghiên cứu về mặt số lượng, còn "phản ánh" gắn liền với
phương pháp nghiên cứu về mặt nội dung, chất lượng.
Về vấn đề này, một số đại biểu cho rằng chỉ có giới hữu sinh, con
người và các thiết bị điều khiển mới có thông tin, còn giới vô sinh không
chứng là đúng đắn, khoa học. Khái niệm: "Thông tin là cái đa dạng được
phản ánh" thực sự là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho các khoa
học cụ thể, đặc biệt là lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học... phát
triển! và hơn nữa nó còn là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để tư
duy con người có thể tiếp nhận, xử lý, làm chủ được thông tin trong thời
đại thông tin hiện nay.
Nhưng một vấn đề tất yếu đặt ra là: "Thông tin là cái đa dạng được
phản ánh" mà phản ánh của vật chất lại phát triển từ thấp đến cao theo nấc
thang phát triển của thế giới vật chất, thông tin là một mặt của phản ánh, vì
vậy nó cũng vận động, phát triển tương ứng với tính chất và trình độ của
phản ánh. Do đó, để làm rõ thêm bản chất của thông tin chúng ta phải tiếp
tục nghiên cứu tính chất, đặc điểm và trình độ của thông tin trong thế giới
vô sinh, trong thế giới hữu sinh, trong xã hội con người và trong các thiết bị
kỹ thuật điều khiển.
29
1.1.2. Thông tin trong thế giới vô sinh, hữu sinh, trong xã hội
con người và trong các thiết bị kỹ thuật điều khiển
1.1.2.1. Thông tin trong thế giới vô sinh (tự nhiên vô sinh)
Thế giới tự nhiên xung quanh chúng ta thật muôn màu, muôn vẻ.
Các sự vật, hiện tượng đó không phải là bất biến mà luôn luôn vận động,
biến đổi trong không gian và thời gian do tác động qua lại với các sự vật,
hiện tượng khác trong môi trường: mất năng lượng, các ngôi sao sẽ tắt;
dưới tác động của gió và nước, các tảng đá sẽ phân hủy; các thanh kim loại
bị biến dạng do va đập mạnh vào nhau hoặc bị hoen gỉ khi để lâu ngày
trong không khí; tiếng vang của âm thanh dội vào vách núi vọng lại... Tất
cả những biến đổi lý - hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau
gây ra và phụ thuộc vào các vật nhận tác động khác nhau nhưng chúng đều