Lý thuyết của Locke về nghĩa vụ chính trị: khế ước xã hội, sự đồng
thuận và quyền tự nhiên
Bối cảnh lịch sử: chính trị và tư tưởng
Lý thuyết của Locke về nghĩa vụ chính trị, vốn tập trung vào vấn đề nan
giải về tính hợp pháp của quyền lực của nhà nước, có thể hiểu được dựa
vào bối cảnh của cuộc đấu tranh cho sự kế tục ngôi vị nước Anh xảy ra
vào những năm 1680 nhằm chống lại người em theo đạo Công giáo của
vua Scharles II, tức James II, và lên đến cực điểm của nó với sự sụp đổ
của Jame II vào năm 1688.
Từ năm 1667, Locke là bạn thân thiết và cố vấn hàng đầu của Lord
Ashley, sau này là Earl Sharftesbury, vốn là một chính trị gia xuất chúng
thuộc phái Whig và là người vận động tích cực cho việc loại bỏ James
(theo đạo) Công giáo khỏi ngai vị nước Anh. Sau sự thất bại của Âm mưu
Tinh lành chống lại Scharles II, Locke theo Earl Sharftesbury lưu vong ở
Hà lan vào năm 1683, chỉ trở lại Anh vào năm 1689 sau cuộc “Cách mạng
Vinh quang” năm 1688 lật đổ James II và thiệt lập một nền quân chủ lập
hiến với sự kế nhiệm của William III và Mary II.
Trong cuộc đấu tranh chính trị của những năm 1680, vấn đề tôn giáo nổi
nên do sự tồn tại của một ông vua theo đạo Công giáo, tức James II, tại
một nước theo đạo Tin lành, vấn đề này mặc dù có ý nghĩa quan trọng,
song nó vẫn không quan trọng bằng vấn đề bức thiết hơn về thể chế (mà
Hobbes đã đối mặt khảng 30-40 năm trước đó) liên quan đến quyền lực
tương đối giữa Vua và Quốc hội – nói cách khác, vấn đề về chủ quyền đối
nội trong nhà nước Anh.
Lý thuyết về nghĩa vụ chính trị của Locke, giống như lý thuyết của
Hobbes, vốn dựa vào ý tưởng về khế ước xã hội, và được phác thảo ra
trong tác phẩm chính của ông về lý thuyết chính trị, Khảo luận thứ hai về
chính quyền (1689), cần phải được xem như là một lý thuyết phản chuyên
chế kiểu (đảng) Whig, và được ông đề nghị như là một sự bảo chữa cho
cá nhân phải bị giới hạn.
Khi phát triển lý thuyết về nghĩa vụ chính trị như vậy, chắc chắn Locke,
như Hobbes đã làm, xây dựng nó từ quan niệm của ông về một “trạng thái
tự nhiên” tiền chính trị. Tuy nhiên, đối với Locke, đây là một trạng thái
trong đó con người với tư cách là một tạo vật của Thượng đế được thụ
hưởng một số quyền tự nhiên cơ bản, tức là, các quyền tiền chính trị và
tiền xã hội, và phải thực hiện một số nghĩa vụ tự nhiên tưng ứng, (các
quyền và nghĩa vụ này tồn tại) trước khi hình thành xã hội chính trị và
chính quyền. Cụ thể hơn, trong trạng thái tự nhiên này, theo Locke, mỗi cá
nhân có các quyền tự nhiên đối với sinh mạng, sự tự do, và tài sản, và do
đó có quyền không bị giết chết bằng bạo lực, không bị những sự kiềm tỏa
tùy tiện đối với bản thân và không bị đánh cắp tài sản. Ngoài ra, những
quyền này là bất khả xâm phạm; và vì chúng tồn tại trước khi xuất hiện
bất kì tổ chức xã hội và chính trị nào, nên chúng không thể bị bãi bỏ trong
các tương tác giữa cá nhân và xã hội.
Locke giải thích điều này thêm bằng cách cho rằng trạng thái tự nhiên
được quản lý bởi luật tự nhiên, tức là, lý tính, thứ dạy con người ….rằng
mọi người đều bình đẳng và độc lập, không ai có quyền làm hại đến Sinh
mạng, Sức khỏe, Sự tự do, hay Các tài sản của người khác. Vì theo Locke,
con người là những sinh vật duy lý có khả năng khám phá và tuân theo
một số chân lý đạo đức nào đó về tốt xấu, đúng sai, do đó tuân theo các
quy tắc hành vi đạo đức khi đối xử với người khác. Với tư cách là những
sinh vật duy lý, con người cũng có khả năng nhận ra rằng khi đối xử với
người khác, phải đối xử với họ như là những người tự do, độc lập, và bình
đẳng; bởi vì tất cả mọi người trong trạng thái tự nhiên đều bình đẳng liên
quan đến việc bảo vệ sinh mạng, sự tự do, và tài sản của mình.
Tuy nhiên, thật không may, trạng thái tự nhiên có một số mối đe dọa. Đây
không phải là mối đe dọa do tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ gây ra,
hội chính trị và chính quyền, trong đó các cá nhân cấu thành xã hội chính
trị đó, trên cơ sở quyết định của đa số, thực hiện việc ủy nhiệm cho chính
quyền quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Điều này có nghĩa là cá
nhân chuyển nhượng cho chính quyền quyền và sức mạnh để ban hành,
diễn giải và củng cố luật tự nhiên.
Mục đích trên hết của hai giai đoạn khế nước xã hội này là cung cấp một
sự bảo vệ hữu hiệu hơn đối với các quyền tự nhiên như quyền sống, tự do,
và tư hữu mà các công dân thụ hưởng trước khi có sự thiết lập một chính
quyền dân sự. Những ẩn ý rộng hơn của lý thuyết khế ước hai giai đoạn
này của Locke là, đầu tiên và trên hết, đó là nghĩa vụ tuân theo chính
quyền dân sự của cá nhân là có điều kiện. Sự tuân theo của anh ta phụ
thuộc vào việc chính quyền thực thiện đầy đủ các điều khoản của khế ước
– cụ thể là, bảo vệ các quyền của cá nhân. Sau cùng, theo quan điểm của
Locke, chính quyền dân sự tồn tại vì lợi ích của người dân. Nó sở hữu
quyền lực do người dân ủy nhiệm để cai trị họ tốt hơn.
Do đó, lý thuyết khế ước xã hội của Locke hàm ý rằng thẩm quyền và sức
mạnh của chính quyền phải bị giới hạn bởi mục đích cơ bản, và trung tâm
của nó – là tôn trọng và bảo vệ các quyền tự nhiên của cá nhân. Và bổn
phẩn chính đó của chính quyền được hoàn thành khi các công dân thực
hiện nghĩa vụ tôn trọng và tân thủ các luật hợp pháp.
Cuối cùng, lý thuyết của Locke thậm chí còn hàm ý rằng nếu chính quyền
thất bại khi thực hiên các trách nhiệm của nó đối với người dân hoặc lạm
dụng quyền lực theo cách gây hấn, đàn áp hoặc cai trị mà không có sự
đồng thuận của người dân, thì trong những hoàn cảnh như vậy người dân,
những người hình thành nên xã hội chính trị, có thể thực thi quyền nổi
loạn của họ, để loại bỏ người cai trị mà không thực sự giải tán xã hội
chính trị.
Quan niệm của Locke về sự đồng thuận
quyền và bổn phận gắn liền với địa vị đó. Ngoài ra, Locke nhấn mạnh
rằng sự đồng thuận công khai của cá nhân được đòi hỏi bất cứ khi nào nhà
nước muốn tịch thu tài sản hoặc đánh thuế người dân.
Sự phân biệt của Locke đối với hai dạng đồng thuận bị các nhà lý thuyết
chính trị, các nhà lịch sử tư tưởng chính trị xem là không thuyết phục và
có nhiều vấn đề. Chẳng hạn, như John Plamenatz chỉ ra, Locke đưa vào
trong lập luận của ông cả “nghĩa chặt và không khả thi của sự đồng thuận”
– đồng thuận công khai – và “nghĩa rộng và vô ích của sự đồng thuận” –
đồng thuận ngầm, một ý tưởng linh hoạt mà rõ ràng trên thực tế bao gồm
bất cứ thứ gì mà cá nhân không thể thực hiện một cách an toàn hay thuận
tiện nếu không có sự giúp đỡ của chính quyền. Tuy nhiên, điều mà Locke
đang cố gắng mang về với sự giúp đỡ của sự phân biệt khái niệm không
hữu ích này là sự tương phản quan trọng giữa, một mặt, sự phục tùng đơn
thuần của cá nhân đối với quyền lực chính trị đổi lại sự bảo vệ cho các
quyền tự nhiên của anh ta, và mặt khác, là trở thành một thành viên tích
cực trong một xã hội dân sự cụ thể.
Kết luận
Ở phương diện chính trị rộng hơn, Locke không cố để liên hệ quan niệm
của ông về sự đồng thuận với bất cứ lý thuyết nào về sự đại diện nghị
viện. Đối với vấn đề đó, ông không khẳng định rằng sự tồn tại của một hội
đồng đại diện được bầu là điều kiện tiên quyết của một sự cai trị dựa trên
sự đồng thuận. Thay vào đó, ông chỉ khẳng định rằng, trên tất cả, sự đồng
thuận của người dân cung cấp cơ sở hợp pháp duy nhất cho thẩm quyền và
quyền lực chính trị.
Do đó, ý nghĩa thực sự trong quan niệm của Locke về sự đồng thuận là:
nền tảng của lý thuyết của ông về nghĩa vụ chính trị nằm ở cách mà nó tập
trung sự chú ý vào nhu cầu biện minh cho thẩm quyền chính trị của người
cai trị, tức là quyền cai trị, làm luật, và đưa ra các chính sách. Do đó, trong
một đối tượng thực. Do vậy, tư tưởng dù sinh động nhất vẫn kém hơn cảm
giác mù mờ nhất.
2. Chúng ta có thể nhận thấy một sự phân biệt tương tự liên quan đến tất
cả các tri giác khác của tinh thần. Một người, khi đang giận giữ, bị kích
động theo một cách thức hoàn toàn khác với một người chỉ nghĩ về những
cảm xúc đó. Nếu bạn kể với tôi rằng, ai đó đang yêu, tôi dễ dàng hiểu ý
của bạn, và có một nhận thức về hoàn cảnh của anh ta; nhưng không bao
giờ nhầm lẫn nhận thức đó với những sự no âu và bối rối thực sự của anh
ta. Khi chúng ta nghĩ về những tình cảm, những sự yêu mến xảy ra trong
quá khứ, tinh thần chúng ta là một tấm gương trung thực khi sao chép các
đối tượng của mình; nhưng sắc thái mà nó sử dụng thì mờ nhạt và tối tăm
khi so sánh với những sắc thái của các tri giác đầu tiên. Và không cần phải
có một đầu óc quá sáng suất hay trừu tượng để nhận thấy sự khác biệt này.
3. Do vậy, ở đây chúng ta có thể phân chia tất cả các tri giác của tinh thần
thành hai loại, dựa vào mức độ sinh động và rực rỡ giữa chúng. Loại tri
giác ít sinh động và rực rỡ hơn thường được gọi là các tư tưởng hay các ý
niệm. Loại kia không có tên trong ngôn ngữ của chúng ta, và trong hầu hết
mọi ngôn ngữ; Bởi vì, không liên quan đến mục đích gì ngoài mục đích
triết lý, tôi nghĩ rằng nên xếp chúng vào một cái tên hay một danh xưng
chung. Do vậy, hãy cho phép chúng ta một chút tự do, và gọi chúng là các
ấn tượng; và sử dụng nó theo ngĩa có phần khác với nghĩa thông thường.
Với thuật ngữ ấn tượng, tôi muốn nói đến tất cả các tri giác sống động hơn
của chúng ta, như khi chúng ta nghe, hoặc nhìn, hoặc cảm thấy, hoặc yêu,
hoặc ghét, hoặc ước muốn, hoặc ý chí. Tất cả các ấn tượng được phân biệt
với các ý niệm, tức các tri giác ít sống động hơn, các tri giác mà chúng ta
nhận ra khi chúng ta nghĩ về bất cứ cảm giác hay cảm xúc đã được đề cập
ở bên trên.
4. Thoạt nhìn, dường như không có gì vô tận hơn tư tưởng của con người,
khi chúng ta phân tích các tư tưởng hay các ý niệm, dù phức tạp, tinh vi,
chúng ta luôn thấy rằng, chúng ta có thể phân chia chúng thành các ý niệm
đơn giản như được sao chép từ các cảm giác hoặc cảm xúc trước đó. Thậm
chí, ngay cả những ý tường mà thoạt nhìn, là xa cách nhất với nguồn gốc
này, được tìm thấy, từ một sự khảo sát kĩ lưỡng, bắt nguồn từ nguồn gốc
đó. Ý niệm về Chúa, như một Tồn tại trí tuệ, khôn ngoan, thiện hảo vô
cùng, là bắt nguồn từ sự suy nghĩ về các hoạt động của chính tinh thần
chúng ta, và gia tăng, với không giới hạn, những phẩm chất về sự thiện
hảo và sự khôn ngoan. Chúng ta có thể tiếp tục sự truy vấn này tới mức độ
mà chúng ta hài lòng; nơi mà chúng ta sẽ tìm thấy rằng, ý tưởng mà chúng
ta khảo sát là được sao chép từ một ấn tượng tương tự. Những ai muốn
khẳng định kết luận này là không đúng đắn một cách phổ quát, chỉ có một
phương pháp, phương pháp dễ dàng nhất đề bác bỏ nó, bằng cách tạo ra
một ý niệm mà theo quan điểm của họ không được bắt nguồn từ nguồn
gốc này. Và phận sự của chúng ta, những người muốn bảo vệ học thuyết
của mình, là tạo ra các ấn tượng, hoặc các tri giác sống động tương ứng
với các ý niệm đó.
7. Thứ hai, nếu ngẫu nhiên, do thiếu một cơ quan, mà một người không
thể cảm nhận được một số loại cảm giác, chúng ta cũng sẽ thấy rằng, anh
ta cũng không có các ý niệm tương ứng. Một người mù không thể có ý
niệm về mầu sắc; một người điếc không có ý niệm về âm thanh. Việc phục
hồi một trong các giác quan mà anh ta thiếu; là mở một lối vào mới cho
các cảm giác của anh ta, và như vậy cũng sẽ mở ra một lối vào mới cho
các ý niệm; và anh ta sẽ không còn gặp phải khó khăn khi phải hiểu những
đối tượng tương ứng với các ý niệm đó. Tương tự với những đối tượng có
khả năng gây ra các cảm giác, nhưng chưa bao giờ tác động tới các giác
quan. Người Laplander hoặc người Negro không có ý niệm về mùi vị và
sự hấp dẫn của rượu vang; Dù có rất ít hoặc không có ai bị khuyết tật
với vị trí khác. Bây giờ, tôi tự hỏi, liệu anh ta, từ sự tưởng tượng của
mình, có thể suy ra sự thiếu hụt đó, và hình thành ý niệm về sắc thái cụ thể
đó, dù nó chưa bao giờ truyền đến anh ta thông qua giác quan? Tôi tin
rằng anh ta có thể: và điều này có thể phục vụ như một bằng chứng để
khẳng định là các ý tưởng đơn giản không luôn luôn, trong mọi trường
hợp, bắt nguồn từ các ấn tượng tương ứng; tuy nhiên những trường hợp
này là duy nhất; không đáng cho chúng ta bận tâm, và không xứng đáng
để chúng ta phải thay đổi châm ngôn tổng quát của mình vì một mình nó.
9. Do vậy, đây là một phát biểu mà, không chỉ đơn giản và dể hiểu; mà
nếu được sử dụng thích hợp, có thể làm cho mọi tranh cãi cũng dễ hiểu
tương tự, và có thể loại bỏ tất cả những thuật ngữ khó hiểu mà từ lâu đã
chiếm lĩnh mọi suy luận siêu hình học khiến cho nó bị khét bỏ. Tất cả mọi
ý niệm, đặc biệt là các ý niệm trừu tượng vốn dĩ tối tăm và mờ mịt: tinh
thần nắm giữ chúng một cách nghèo làn: chúng dễ bị lẫn lộn với các ý
niệm khác tương tự; và khi chúng ta sử dụng các thuật ngữ, dù chúng
không có một ý nghĩa riêng biệt, chúng ta có khả năng tưởng tượng nó có
một ý niệm xác định. Trái lại, tất cả các ấn tượng, nghĩa là, tất cả các cảm
giác, dù bên ngoài hay bên trong, là chắc chắn và có cơ sở: ranh giới giữa
chúng được xác định chính xác hơn: không dễ rơi vào nhầm lẫn khi làm
việc với chúng. Do vậy, khi chúng ta nghi nghờ một thuật ngữ triết học
được sử dụng mà không có bất cứ ý nghĩa hoặc ý niệm nào trong nó,
chúng ta chỉ cần yêu cầu, ấn tượng nào mà từ đó ý niệm này bắt nguồn?
Và nếu không thể tìm thấy bất cứ ấn tượng nào, điều này sẽ khẳng định sự
nghi ngờ của chúng ta. Bằng cách đưa các ý niệm ra trước ánh sánh như
vậy, chúng ta hoàn toàn có thể hi vọng loại bỏ được tất cả mọi tranh cãi
liên quan đến bản chất và tính xác thực của chúng.