Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I.Nhiệm vụ của dạy học tập đọc ở tiểu học
1. Đọc là gì?
Để xác định được nhiệm vụ của dạy đọc cần làm rõ “Đọc là gì?”. Trong thực tế
dạy đọc, người ta thường hay phiến diện và cực đoan, không hiểu khái niệm “đọc”
một cách đấy đủ. Nhiều khi người ta thường nói đến đọc như nói đến việc sử dụng bộ
mã chữ - âm, cho rằng đọc là nhìn chữ phát ra thành lời, nghĩa là đã đọc thì phải thành
tiếng. Vì vậy họ đánh giá một giờ dạy chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất : đếm xem có
bao nhiêu em được đứng dậy đọc. Ngược lại, có người lại quan niệm đọc chỉ là để
hiểu những nghĩa lý những gì được đọc, tức là tìm hiểu bài. Vì vậy, thầy - trò sa vào
hỏi đáp về văn bản, sa vào bình giá mà không chịu đọc chính văn bản đó.
Có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thường nhấn mạnh những khía
cạnh khác nhau của đọc. Trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng
Nga” (1988), Viện sỹ M.R.Lơvôp đã định nghĩa : “Đọc là một dạng hoạt động ngôn
ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó
(ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết
thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”. Đây là một định
nghĩa rất phù hợp với dạy học Tập đọc ở tiểu học. Định nghĩa này thể hiện một quan
điểm đầy đủ về đọc, xem đó là một quá trình giải mã bậc hai : chữ viết → âm thanh và
chữ viết (âm thanh) → nghĩa. Như vậy, đọc không chỉ là “đánh vần”, phát âm thành
tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá trình nhận thức để có khả
năng thông hiểu những gì được đọc. Đó chính là một sự tổng hợp của cả hai quá trình
này.
2. Ý nghĩa của dạy học Tập đọc ở tiểu học
Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu
tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên, trẻ em phải học đọc, sau đó các em phải đọc
để học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dung trong giao tiếp và
học tập. Đọc là một công cụ để học tập các môn học. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ
thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận
cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc : đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi
chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là
đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm). Cần phải hiểu kỹ năng
đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau. Đầu tiên đọc là giải mã chữ - âm một
cách sơ bộ. Tiếp theo, đọc là phải hiểu nghĩa của từ, tìm được các từ chìa khóa, câu
2
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
“chìa khóa” (câu trọng yếu, câu chốt) trong bài, biết tóm tắt nội dung của đoạn ; với
những bài văn, biết phát hiện ra những yếu tố “văn” và đánh giá được giá trị của
chúng trong việc biểu đạt nội dung. Như vậy, lúc này biết đọc đồng nghĩa với việc có
kỹ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản (bài khóa) ở các tầng bậc khác
nhau : nội dung các sự kiện, cấu trúc, chủ đề, các phương tiện biểu đạt.
Bốn kỹ năng của đọc được hình thành trong hai hình thức đọc : đọc thành
tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện
một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ,
đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản.
Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và đọc diễn
cảm được. Cũng như khó mà nói ra được con gà đẻ ra quả trứng hay quả trứng nở ra
con gà, nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào,
nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng. Vì vậy,
trong dạy đọc, không thể xem nhẹ kỹ năng nào cũng như không thể tách rời chúng.
3.2. Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương
pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách vở là một sự tôn sùng
từ, câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học) ; vấn đề dấu câu, các kiểu câu…
(thuộc ngữ pháp học) ; vấn đề lý thuyết giao tiếp và tiếp nhận văn bản (thuộc dụng
học). Các cơ sở văn học sẽ giúp cho việc đọc hiểu văn bản văn chương. Những hiểu
biết về lý thuyết dạy học hiện đại và cơ chế của đọc sẽ giúp chúng ta tổ chức dạy học
Tập đọc một cách có hiệu quả.
Vai trò quyết định chất lượng dạy học chính là ở giáo viên. Nguyên nhân quan
trọng nhất làm cho chất lượng dạy Tập đọc chưa tốt cũng chính là ở những hạn chế
của giáo viên. Nhìn chung, hiện nay giáo viên của chúng ta vẫn còn thiếu hụt các kỹ
năng đọc, vì vậy không làm chủ được các nội dung dạy học Tập đọc. Nhiều giáo viên
đọc không đúng chính âm, đọc không hay, hiểu không đúng những điều được đọc từ
cấp độ từ đến câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản. Nhiều giáo
viên cảm thụ văn học còn yếu. Giáo viên cũng bị thiếu hụt các kỹ năng dạy học Tập
đọc, không làm chủ được các phương pháp, thủ pháp dạy học Tập đọc ở tiểu học.
Nhiều giáo viên không biết chữa các lỗi phát âm cho học sinh, không có biện pháp
luyện cho học sinh đọc to, đọc nhanh, đọc diễn cảm, cũng như không biết một cách
nào khác để tổ chức hoạt động “chiếm lĩnh” nội dung văn bản được đọc ngoài cách
nói ra những điều mình hiểu biết, cảm nhận về tác phẩm. Sau đây, chúng ta đi vào
4
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
nghiên cứu các cơ sở cũng như những căn cứ của dạy học đọc, xác định những kiến
thức và kỹ năng người giáo viên cần có để tổ chức dạy học đọc ở tiểu học.
1.Cơ chế của đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc đã diễn ra
tincanban.com – choque24h.net
Giao tiếp có hai bình diện : tiếp nhận và sản sinh. Đọc hiểu là tiếp nhận, đọc
cho mình. Đọc thành tiếng khác đọc hiểu ở chỗ nó không chỉ là hoạt động tiếp nhận
nhằm cho mình mà còn là hoạt động nhằm làm cho người khác cũng tiếp nhận được
văn bản giống mình. Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người đọc đã tham gia vào quá trình
tái sinh văn bản. Lúc này anh ta còn có nhiệm vụ truyền cảm xúc của văn bản mà
mình đã tiếp nhận được đến người nghe. Chính vì vậy, diễn cảm (có người gọi là
truyền cảm) là một phẩm chất cần có của đọc thành tiếng và trở thành một yêu cầu của
kỹ năng đọc.
Như vậy, đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các
cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Càng ngày
những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn. Nhiệm vụ
cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng
lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân biệt người mới biết đọc với người đọc thành
thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện,
chính xác và biểu cảm bấy nhiêu.
Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa : theo
nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển
dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh) ; theo nghĩa rộng, đọc được hiểu là kỹ thuật
đọc cộng với sự thông hiểu điều được đọc (không chỉ hiểu nghĩa của những từ riêng lẻ
mà cả câu, cả bài). Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ “đọc” được ghi nhận trong các tài
liệu tâm lý học và phương pháp dạy học. Từ đây, chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ
hai – đọc được xem như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố :
●Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ.
●Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từng
chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm kỹ thuật đọc.
●Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài).
6
hứng thú cho việc đọc.
Việc đọc không thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (ở đây
là tiếng Việt). Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp
có ý thức. Một phương tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu phải
7
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
đạt tới trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc, cả đọc thành tiếng và đọc
thầm.
Quy trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau :
Hiểu nghĩa các từ, các ngữ.
Hiểu các câu.
Hiểu các khối đoạn, những là những tập hợp câu dung để phát biểu một ý trọn
vẹn mà phức hợp.
Hiểu được cả bài.
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những điều mình
đọc. Hầu như toàn bộ sức chú ý của các em đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ,
đánh vần để phát thành âm. Còn nghĩa thì chưa có đủ thì giờ và sức lực để nhận biết.
Mặt khác, do vốn từ còn ít, năng lực liên kết thành câu, thành ý còn hạn chế, nên việc
hiểu và nhớ nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở để xuất hiện các biện pháp hình
thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.
2. Bình diện ngữ nghĩa của văn bản và luyện đọc hiểu ở tiểu học
2.1. Ý nghĩa của dạy đọc hiểu
Như ta đã biết, đọc không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng các ký
yếu. Ngay cả giáo viên cũng có những cách hiểu và giải thích rất sai về các bài đọc ở
tiểu học.
Học sinh đọc mà không nắm được điều gì là cốt yếu trong văn bản. Kết quả học
đọc của học sinh chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành một kỹ năng giao
tiếp quan trọng. Nguyên nhân chính của hạn chế này là do giáo viên chưa nắm chắc
nội dung và phương pháp dạy đọc hiểu.
Sau đây chúng ta đi vào xem xét các cơ sở để xác định nội dung dạy đọc hiểu
một bài.
2.2. Văn bản với vấn đề đọc hiểu
Để làm rõ dạy đọc hiểu nghĩa là làm gì, chũng ta cần hiểu rõ đối tượng mà đọc
hiểu tác động : văn bản.
+ Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao
gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về
nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất
định.
Văn bản có tính chỉnh thể. Tính chỉnh thể này thể hiện ở hai phương diện :
9
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
+Về mặt nội dung : nó biểu hiện tính nhất quán về chủ đề, ở sự phát triển mạch
lạc, chặt chẽ của nội dung và bộc lộ ở tính nhất quán và rõ rệt ở mục tiêu văn bản.
+ Về mặt hình thức : tính chỉnh thể thể hiện ở kết cấu mạch lạc và chặt chẽ,
giữa các bộ phận trong văn bản có các hình thức liên kết và toàn văn bản có một tên
gọi.
Tiếp theo là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người
viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động giao
tiếp. Nội dung này tạo ra nghĩa liên cá nhân của văn bản.
Xét cách thức biểu hiện các thông tin ngữ nghĩa thì cần phân biệt : thông tin
ngữ nghĩa tường minh (còn gọi là hiển ngôn) và thông tin ngữ nghĩa hàm ẩn (còn gọi
là hàm ngôn).
Nghĩa tường minh là các thông tin được biểu hiện bằng các từ ngữ có mặt trong
văn bản, và bằng các cấu trúc ngữ pháp của cum từ, của câu, của đoạn văn, của văn
bản. Các thông tin này được biểu hiện trên bề mặt của câu chữ và người đọc tiếp nhận
nó thông qua nguyên văn từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp.
Nghĩa hàm ẩn là các thông tin được suy ra từ thông tin tường minh và từ hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể của văn bản. Để hiểu được thông tin hàm ẩn của văn bản, người
đọc phải tiến hành phân tích và suy ý dựa vào yếu tố ngôn ngữ hiện diện trong văn
bản và hoàn cảnh giao tiếp để rút ra thông tin hàm ẩn. Có thể nói đó là phương pháp
đọc những gì ẩn dưới các hàng chữ.
Các văn bản nghệ thuật thường chứa đựng thông tin này.
2.3. Tác phẩm văn học đối với vấn đề đọc hiểu văn bản nghệ thuật
Trong số các văn bản dung để dạy đọc hiểu ở trường tiểu học, loại văn bản nghệ
thuật có một vị trí đặc biệt không những bởi tấm quan trọng của loại văn bản này mà
còn do tỷ lệ văn bản nghệ thuật được đưa vào chương trình rất cao và nhiệm vụ dạy
hiểu loại văn bản này phức tạp hơn.
Đọc văn bản nghệ thuật, học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phải
cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Vì vậy, đọc văn
bản nghệ thuât thực hiện nhiệm vụ kép : dạy một kỹ năng tiếng Việt và dạy văn. Từ
đây có thể suy ra dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật gồm công việc làm cho học sinh
nắm được nội dung của văn bản, mục tiêu của văn bản đồng thời dạy cho học sinh
cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình tượng văn chương làm nên nội dung văn
11
hiện tượng cụ thể và trước cuộc sống.
Vì vậy, đoạn văn, câu chuyện, bài thơ nói về các con vật, về các loại cây… thì
cũng là nói về con người. Mà con người thì giàu xúc động, giàu tình cảm và tình yêu.
Cũng vì vậy, đích cuối cùng của dạy cảm thụ văn chương không cỉ là cho thấy bài văn
12
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
đã ghi chép hiện thực gì mà trước hết phải cho thấy bài văn là kết quả của một hành
động tự nhận thức, nơi bộc lộ những tình cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực.
●Tính chủ quan của văn bản nghệ thuật
Tác phẩm văn chương là nơi người nghệ sỹ bày tỏ thái độ chủ quan của mình,
nói lên ước mơ, khát vọng của mình về thế giới, về cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật
“là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, là con đẻ tinh thần của nhà văn, là sự
sáng tạo, là bản thông điệp để nhà văn gửi tâm tình của mình đến bạn đọc.
Chính tính chủ quan, đặc điểm tình cảm, cảm xúc này của tác phẩm nghệ thuật
đòi hỏi khi tiếp nhận văn chương, học sinh không chỉ phải hiểu nội dung sự việc của
văn bản mà còn phải nắm nội dung liên cá nhân, giá trị biểu hiện, chất trữ tình, tức là
thái độ, tình cảm, sự đánh giá sự việc của tác giả, cái làm nên chức năng bộ lộ văn
bản. Không chú ý đến điều này chúng ta sẽ không hướng dẫn học sinh hiểu được
nghĩa liên cá nhân của tác phẩm nghê thuật.
●Tính biểu trưng, hình tượng, độc đáo, khác thường của văn bản nghệ thuật
Như đi trong vũ ba lê bằng đầu ngón chân chứ không đi bằng bàn chân như
trong đời thường, văn chương phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, nó đi tìm cho
mình một ngôn ngữ riêng, một cách thể hiện riêng, một cách thức “kí mã” riêng khác
với đời thường và khác với các nghệ thuật khác. Chính vì vậy khi tiếp nhận văn
nội dung và hình thức, tình ý chứa chan mà lời lẽ phải dạt dào. Vì vậy, ngoài việc giải
mã nghĩa, lí, tình, dạy đọc hiểu văn bản văn chương còn phải cho học sinh tiếp nhận
được vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói văn chương, khả năng phát hiện được
tín hiệu nghệ thuật và cao hơn nữa là cho các em đánh giá được giá trị của các tín hiệu
nghệ thuật trong việc biểu đạt nội dung. Đây cũng chính là nội dung dạy cảm thụ văn
học ở trường tiểu học.
Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức không chỉ hiện ra trong toàn bôn văn
bản mà ngay trong từng yếu tố, từng cấp độ của văn bản ở trên tất cả các bình diện : từ
vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp. Việc tìm hiểu tác phẩm văn học phải bắt đâu từ việc khám
phá văn bản ngôn từ của nó. Không có chì khóa để mở cánh cửa đi vào cấu trúc ngôn
từ của tác phẩm thì chúng ta chỉ có thể đứng ngoài ngôn nhà văn chương.
Từ ngữ trong văn bản văn chương thường mang tính gợi tả, gợi cảm, chúng “đi
lại”, “nhảy nhót” trong tác phẩm. Chính vì thế, trong các bài miêu tả, lớp từ láy được
sử dụng rất nhiều. Về mặt ngữ nghĩa, từ trong văn bản văn chương có biên độ nghĩa
được mở rộng tối đa, tạo ra những nghĩa văn cảnh, nghĩa bóng rất đa dạng. Các nhà
văn đã vận dụng những nét nghĩa khác nhau và đã sử dụng từ rất là đắc địa. Khi giải
14
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
mã văn chương, phải nắm được các thế đối lập về nghĩa của từ trong hệ thống ngôn
ngữ mới hiểu văn bản và chỉ ra được sự tài tình của việc dùng từ.
Trong văn chương, các từ không chỉ được dựng đứng lên, có hình, có khối, gợi
tả rợn người mà chúng còn được sử dụng với tất cả nghĩa biểu thái để bộc lộ hết cái
tình của người dùng từ.
Vì muốn gây ân tượng, mà các nhà văn nhà thơ đã đi chệch ra khỏi chuẩn mực
thuật hay chính là cách đánh giá giá trị của các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật đối với
việc biểu đạt nội dung. Đây chính là một nội dung của dạy cảm thụ văn học trong
trường tiểu học. Dạy cảm thụ văn học là dạy học sinh cảm nhận những giá trị nổi bật,
những điều tế nhị, sâu sắc, đẹp đẽ của từ ngữ, câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ,
câu chuyện.
PHẦN II : NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG CÁC BÀI THƠ TRỮ
TÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 5
I. Thơ và các đặc trưng của thơ
1. Thơ là gì ?
Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại. Thơ là một thể loại văn học hết sức
quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại, ở phương Đông cũng như ở
phương Tây....Thế nhưng, khi ta đặt ra và trả lời câu hỏi thơ là gì thì câu hỏi này hoàn
toàn không dễ trả lời. Khác với loại tác phẩm truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với
tâm hồn con người, mà tâm hồn con người là một thế giới tinh vi, phức tạp, mờ ảo nên
thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhưng rất khó đúc kết, khái quát thành
một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh.
Nhà lí luận phê bình văn học Lưu Hiệp quan niệm : "Thơ là để nói lên cái chí,
lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài. (...) Ở trong lòng thì gọi là chí, nói ra lời thì
gọi là thơ" [25,76] , nhằm nhấn mạnh vào mục đích làm thơ.
Học giả Lê Quý Đôn cho rằng "làm thơ có ba điều chính: một là tình , hai là
cảnh, ba là sự .(...) Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất. Lấy
tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng" [27; 99]. Nhà
thơ cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh " Thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn
con người trước cuộc đời, trước trời đất. Thơ là tiếng hát của tình cảm thiết tha mãnh
liệt...Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy. Bài thơ hay là bài thơ
làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ mà chỉ thấy tình người...Thơ là một
điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu". Nhà thơ Xuân Diệu cũng chung cảm nghĩ
ấy khi viết "Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu".
16
năng biểu hiện. Đó có thể là những nỗi niềm riêng tư về hạnh phúc ; niềm vui gặp gỡ ;
nỗi buồn chia li. Đó cũng có thể là những cảm xúc, những suy tư về nhân tình thế
thái, về số phận con người, thăng trầm của xã hội, những cảm xúc về Tổ quốc, đất
nước, dân tộc, nhân loại.
Tâm hồn nhà thơ như một chiếc cần ăngten thu nhận tất thảy những tín hiệu
buồn vui của con người, là chiếc "bình thu hợp trí muôn phương" (Xuân Diệu) . Muốn
chinh phục được tâm hồn của độc giả trước hết cảm xúc của nhà thơ phải chân thành ;
niềm yêu ghét của nhà thơ phải xuất phát từ chính trái tim nhạy cảm, thành thực của
mình.
18
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
Cảm xúc của nhà thơ, phải ở mức độ mãnh liệt, dồi dào nồng cháy. Mỗi khi có
điều gì chất chứa trong lòng không nói ra không chịu được lúc đó là thi sĩ tìm đến thơ
để giải tỏa nổi chất chứa ám ảnh đó (theo Tố Hữu)
Vì cảm xúc là yếu tố hàng đầu của thơ nên mọi nhà thơ đều rất coi trọng cảm
hứng sáng tạo. Cảm hứng làm cho nhà thơ có thể lóe sáng được những ý nghĩ mới lạ,
chắp cánh cho trí tưởng tượng của nhà thơ bay bổng, hình thành một cách xuất thần
những lời đẹp, tứ hay. Ngoài cái lớn lao của cuộc đời thực, thơ cũng tìm đến thế giới
của ước mơ và mộng tưởng. Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận
đến nhiều phạm vi rộng rãi hơn, bao la hơn của hôm qua, hôm nay và ngày mai, của
cái có thật và cái có thể có và nên có, của cái ta đang sống và cái mà mọi người mong
ước. Thơ mở rộng biên độ sống của con người!
Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê
thơ. Thơ trữ tình trung đại thường sử dụng cách thể hiện này. Không trực tiếp xưng
danh, lời thơ dễ trở thành tiếng lòng chung của nhiều cá thể trong những hoàn cảnh
tương tự.
+ Nhân vật trữ tình nhập vai là nhân vật trữ tình không còn đứng ở vai “tác giả”
nữa mà đã hoá thân vào một nhân vật khác để bộc lộ cảm xúc.
Các hình thức xuất hiện của nhân vật trữ tình có thể thay đổi xen kẽ nhau trong
bài thơ. Người thưởng thơ cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ
trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình là con người được miêu tả, thể hiện trong bài thơ.
Người thưởng thơ cũng cần biết đến sự khác biệt giữa nhân vật trong tác phẩm truyện
và nhân vật trong tác phẩm thơ - ở chỗ truyện thường chú ý mô tả nhân vật một cách
đầy đặn trên nhiều bình diện và vận động theo sự vận động phát triển của cốt truyện
(xuất thân, hoàn cảnh sống, ngoại hình, lời nói, hành động, ý nghĩ nội tâm, quan hệ
với nhân vật khác) ; còn trong thơ nhân vật trữ tình lại thường không cần miêu tả đầy
đủ như thế, nhiều khi chỉ cần thể hiện một khoảnh khắc, hé mở một nỗi niềm.
2.2. Đặc điểm lời thơ :
Trữ tình là phương thức sáng tạo văn học tiêu biểu nhất cho thơ, nhưng nó
không phải chỉ có trong thơ. Trữ tình còn có mặt trong các loại văn xuôi khác, như
trong văn tùy bút. Để là thơ, ngoài yếu tố trực tiếp bộc lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình
còn cần thêm một yếu tố nữa : Là sự diễn đạt nội dung trữ tình bằng một kiểu lời nói
đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính, giàu hình ảnh, mang tính chất gợi
cảm cao độ, thường gọi là lời thơ.
21
Trịnh Thị Thu Hương, Cao học K18, khoa GDTH
Chuyên đề Phát triển năng lực đọc cho HS Tiểu học
tincanban.com – choque24h.net
Do chỗ trữ tình là sự thổ lộ những cảm nghĩ rung động của con người trước thế
tincanban.com – choque24h.net
3. Tính dân tộc trong thơ
Cội nguồn của thơ trước hết là dân tộc. Thơ dù cụ thể hoá, hay trừu tượng hoá
tới đâu cũng gắn với dân tộc mình, thời mình sống. Ở thời nào, dù bình hay biến, nam
hay bắc, mục tiêu nhân văn nhân nghĩa truyền thống đã hướng cho thơ đi về đích
chân, thiện, mỹ của dân tộc Việt Nam ta. Bao đời nay thơ đã làm cho con người biết
thương con người. Dẫu rằng thơ luôn luôn khai thác số phận con người, niềm vui cũng
như nỗi đau, cao thượng cũng như thấp hèn, hùng và bi... với những cung bậc khác
nhau, âm hưởng khác nhau.
Thời nào thi sĩ cũng thờ trên đầu chữ tâm - cái gốc rễ sâu bền của dân tộc, của
nhân loại. các nhà thơ không ai cầm bút đứng ngoài dân tộc. Nhưng tiếng đàn chỉ cất
cao khi tâm hồn người nghệ sĩ hoà nhập cùng quê hương xứ sở, dân tộc mình. Bằng
chức năng sáng tạo nhà thơ góp phần làm giàu cho tâm hồn, tình cảm của dân tộc
mình. Đời sống tâm hồn của mỗi người, sự sống còn của dân tộc, tình cảm nhân loại
đi vào thơ như một dòng thác. Cái bể chứa hùng vĩ để tạo nên dòng thác của thơ vẫn
là cội nguồn gốc rễ từ quê hương mình, dân tộc mình. Trên dòng thác ấy có con sóng
chìm, lại có con sóng nổi, có con sóng tung trời trắng xoá, lại có con sóng dịu êm. Tư
duy thơ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và trình độ thẩm mỹ của công
chúng. Bài thơ có thể hình thành hồn nhiên từ ánh nhìn (đôi mắt sâu thẳm của tình
yêu) đến ánh nắng (chói chang mùa hè, thủy tinh mùa đông), từ bất động (một bức
tường rong rêu) đến chuyển động (một cơn gió, một cơn mưa). Những bài thơ đi trực
tiếp từ trái tim mà ngôn từ chỉ là những cái vỏ bọc đựng. Mỗi bài thơ hay là một định
nghĩa cho thơ. Thời gian thấm vào mỗi dòng thơ; cũng bởi sau thời gian chúng ta mới
bắt đầu chiêm nghiệm và ký ức. Thời gian không ngừng trôi qua mỗi dòng thơ như
nước chảy qua kẽ tay.
Bàn luận về sự bồi đắp tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong thơ ca nước ta, không
thể không đối chiếu thơ hôm nay với thơ ngày xưa. Thơ văn Việt Nam hiện nay viết
bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ đẹp và phong phú, có khả năng diễn đạt mọi tư tưởng,
mọi sắc thái tình cảm, tiếng nói ấy là niềm tự hào chính đáng của mọi người Việt Nam