HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI
HÀNH ÁN PHẠT TÙ.
PHẦN THỨ NHẤT
MỘT SỐ KỸ NĂNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU :
1. Sự cần thiết :
Hiến pháp năm 2013, Nghị Quyết 37/2012/QH13; Nghị Quyết 63/2013/QH13,
kết luận số 79- KL/TW ngày 28.7.2010 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 khẳng định: Ngành kiểm sát tiếp tục thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, yêu cầu phải đổi mới và nâng cao
chất lượng công tác kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó có hoạt động
kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.
Trong những năm qua, công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và
giáo dục người chấp hành án phạt tù tại các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam đã
đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần vào thành tích chung của Ngành, đấu
tranh có hiệu quả với tội phạm hình sự, góp phần bảo vệ pháp luật trên địa bàn của
tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được công tác này cũng còn bộc lộ nhiều
hạn chế, tồn tại: Nhiều cuộc kiểm sát tiến hành kiểm sát phát hiện được vi phạm
nhưng không viện dẫn căn cứ Điều luật để xác định vi phạm; Chưa kiểm sát được
việc ban hành Quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án, Quyết định hoãn thi hành
án phạt tù, chưa kiểm sát được Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện việc áp giải bị
án đi thi hành án . . . Nguyên nhân chính là do thiếu kỹ năng cơ bản để phát hiện vi
phạm khi kiểm sát công tác thi hành án phạt tù. Do đó, phòng 8 – Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Bình Định xây dựng tài liệu : Hướng dẫn một số vấn đề chung trong công
tác kiểm sát thi hành án phạt tù; Kỹ năng xây dựng bản kết luận KSTT.
2. Mục đích
Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao kỹ năng phát hiện vi
phạm trong công tác thi hành án phạt tù để vận dụng nhằm góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án phạt tù đối với Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện.
3. Yêu cầu :
hành án hình sự quy định :
Khi thực hiện kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và
quyền hạn như sau;
1.Yêu cầu tòa án cùng cấp và cấp dưới ra Quyết định thi hàn hán hình sự đúng
quy định của pháp luật.
2. Yêu cầu tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao
một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông
báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc
thi hành án hình sự;
3. Phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật trong thi hành
án hình sự theo thẩm quyền; quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án
phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật;
4. Định kỳ và đột xuất kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án
của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức được giao
một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trực tiếp kiểm
sát việc tuân theo pháp luật, kháng nghị, kiến nghị yêu cầu đối với trại giam đóng
tại địa phương đó trong việc thi hành án phạt tù;
5. Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án; tham gia việc xét
giảm, miễn thời hạn chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp, rút ngắn thời gian
thử thách;
6. Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự cùng
cấp, cấp dưới, cơ quan tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án và cá nhân có
3
liên quan; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm
pháp luật trong việc thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
7. Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục người
chấp hành án phạt tù, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại tố
cáo đối với việc thi hành án hình sự;
Viện kiểm sát.
4
III. KỸ NĂNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1- Kiểm sát thi hành án phạt tù:
1.1. Kiểm sát việc chấp hành pháp luật trước khi thi hành án phạt tù:
Để đảm bảo việc thi hành án kịp thời nghiêm minh, KSV phải nắm được các
nội dung sau:
- Kiểm sát viên kiểm sát thời gian Tòa án ra Quyết định thi hành án (tức là
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật,
hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm,
quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra Quyết định thi hành
án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra Quyết định thi hành án). (Điều 256
BLTTHS, Nghị quyết số 02/2007 ngày 02.10.2007của HĐTPTANDTC)
- Kiểm sát nội dung của Quyết định thi hành án phạt tù của TA: Quyết định
THA phải ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi
hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định THA; họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp
hành hình phạt bổ sung. Đối với người bị kết án đang tại ngoại, thì trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được Quyết định thi hành án, người bị kết án phải có mặt tại cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, nếu quá thời hạn
trên mà không có mặt thì sẽ bị áp giải thi hành án.( Điều 21 Luật THAHS)
- Kiểm sát việc ủy thác ra Quyết định thi hành án trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được Quyết định ủy thác thi hành án. (Quy định tại Điều 256 BLTTHS,
NQ 02/2007 ngày 02.10.2007 của HHĐTPTATC)
- KSV phải kiểm sát được ngày TA ra Quyết định THA, kiểm sát việc chấp
hành thời hạn gửi và nơi gửi Quyết định thi hành án của Tòa án. Trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù và hình phạt bổ sung, TA
đã ra quyết định phải gửi quyết định THA cho cá nhân, cơ quan sau: Người chấp
thể được xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù:
+ Điều kiện thứ nhất: Có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú cụ thể, rõ
ràng; Không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nào sau khi tuyên án; Không
có căn cứ cho rằng bị án sẽ bỏ trốn.
+ Điều kiện thứ hai: Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được
hồi phục (Bệnh nặng là trường hợp bị án bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành
hình phạt tù được và nếu buộc họ phải chấp hành án sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Tình trạng bệnh tật của họ phải có kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh trở lên – Điểm
7.1 Nghị quyết 01/2007/HĐTP); Hoặc qua kết quả xét nghiệm thấy rằng bị án bị
nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có
tiên lượng xấu – Khoản e, điểm 1, Mục III Nghị quyết 02/2007/HĐTP và điểm 7.1
Nghị quyết 01/2007/HĐTP; Hoặc là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng
tuổi thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi, nếu họ bị xử phạt lần đầu –
Khoản b, điểm 7.1 nghị quyết 01/2007/HĐTP.
Bị án làm đơn xin hoãn kèm theo kết luận của Bệnh viện cấp huyện trở lên là
họ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh (hoặc giấy chứng sinh) của con người bị
kết án và xác nhận của chính quyền địa phương về việc họ đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi... điểm g, khoản 1.3, Mục III Nghị quyết 02/2007/HĐTP.
Hoặc là người lao động duy nhất trong gia đình và nếu chấp hành hình phạt
tù thì gia đình họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt (bị án phải có xác nhận của chính quyền
địa phương nơi bị án thường trú).
6
Bị án có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù đến một năm (trừ trường hợp họ
bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng – khoản h, điểm 1, Mục III Nghị quyết 02/2007/HĐTP;
Điểm 7.1 Nghị quyết 01/2007/HĐTP.
Bị án bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu Công vụ thì được hoãn
thiết thì KSV yêu cầu TA giải trình hoặc phối kết hợp trong việc xác minh điều kiện
hoãn THA. Khi xác định rõ vi phạm thì KSV phải báo cáo Lãnh đạo để yêu cầu TA
7
sửa đổi hoặc hủy bỏ - Điểm 1.6 tiểu mục 1, Phần III Nghị quyết 01/2007/HĐTP;
Khoản 6 Điều 141, 143 Luật THAHS.
- Kiểm sát việc THA khi hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù:
+ Chậm nhất là 7 ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh
án TA đã cho hoãn phải ra quyết định THA, phải thông báo bằng văn bản và gửi ngay
thông báo đó cho người chấp hành án, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 23
Luật THAHS. (VKS cùng cấp, cơ quan THA Công an cấp tỉnh, cơ quan THA Công
an cấp huyện nơi người được hoãn THA đang cư trú khoản 6 Điều 24 Luật THAHS;
Khoản 1 và 2 Điều 261 BLTTHS.
+ Trong trường hợp bị án có đủ điều kiện để được xem xét tiếp tục hoãn chấp
hành án phạt tù như: Đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, mắc bệnh hiểm nghèo….
Thì 7 ngày trước khi hết hạn hoãn THA, KSV yêu cầu TA xác minh điều kiện tiếp
tục được hoãn.
+ Nếu quá thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù,
bị án không có mặt tại cơ quan Công an để đi chấp hành án phạt tù mà không có lý do
chính đáng thì cơ quan THAHS Công an cấp huyện phải áp giải người bị kết án đi
chấp hành án phạt tù – Khoản 3 Điều 15, khoản 4 Điều 22 Luật THAHS, khoản 2
Điều 261 BLTTHS.
- KSV muốn xác định được thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù của bị án một
cách chính xác thì phải có sổ theo dõi từng bị án và thường xuyên kiểm tra, đối chiếu
với các cơ quan liên quan.
- KSV có thể thông qua nhiều hình thức, nhiều biện pháp (tùy thuộc vào mối
quan hệ công tác, thông qua các cuộc giao ban Liên ngành…) để nhắc nhở, ghi nhớ
thời hạn hoãn của bị án.
1.3 Kiểm sát việc thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù :
ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt.
+ Trường hợp người tạm đình chỉ chết, UBND cấp xã nơi người đó cư trú, đơn
vị quan đội được giao quản lý người đó thông báo cho CQTHAHS Công an cấp
huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết
định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho
cơ quan có liên quan và Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. (Điều 32
Luật THAHS)
1.4. Kiểm sát việc quản lý và giáo dục người được hoãn, tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù:
- Kiểm sát việc chuyển giao quyết định hoãn, tạm đình chỉ cho bị án và chính
quyền địa phương nơi bị án cư trú hoặc làm việc. Nếu quá thời hạn quy định mà bị án
hoặc chính quyền địa phương chưa nhận được quyết định thì KSV phải yêu cầu TA
trực tiếp giao nhận và xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của bị án, của chính quyền
địa phương trong thời gian bị án được hoãn, tạm đình chỉ THA.
- KSV kiểm sát việc chấp hành pháp luật của người được hoãn, tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù, kiểm sát công tác quản lý và giáo dục bị án của chính quyền địa
phương được giao trách nhiệm quản lý và giáo dục họ theo Điều 24 Luật THAHS,
Điều 263 BLTTHS:
+ Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được
hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được giao trách nhiệm quản lý và giáo dục
họ.
9
+ Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được
hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có quyền cho phép hay không cho phép
người được hoãn đi nơi khác.
Trong thời gian được hoãn chấp hành án mà người bị kết án có hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó sẽ bỏ trốn, thì:
10
+ Trường hợp người tạm đình chỉ chết, sau khi nhận được thông báo, Tòa án
đã ra quyết định THA phải ra Quyết định đình chỉ THA theo khoản 5 Điều 32 Luật
THAHS.
1.5. Kiểm sát việc miễn chấp hành án phạt tù:
- Kiểm sát điều kiện miễn chấp hành hình phạt tù (Điều 57 BLHS): Đối với
người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt lập
công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (trừ
trường hợp được đặc xá, hoặc đại xá).
- Kiểm sát việc chấp hành thủ tục xét miễn chấp hành án phạt tù:
+ VKS nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú có thẩm quyền lập hồ sơ đề
nghị TAND cấp tỉnh xét miễn chấp hành án phạt tù.
+ Hồ sơ gồm có: Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; Văn bản đề nghị của
VKS có thẩm quyền; Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án; Bản
tường trình của người bị kết án về việc lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của
cơ quan có thẩm quyền hoặc kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng
bệnh tật của người bị kết án bị mắc bệnh hiểm nghèo - Mục 2 Nghị quyết
01/2007/HĐTP.
+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Tòa án có thẩm quyền
phải mở phiên họp xét miễn và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp
biết để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Trường hợp hồ sơ cần được bổ sung
theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ
sơ bổ sung.
+ Trong ba ngày làm việc, kể tù ngày ra quyết định miễn chấp hành án phạt tù,
Tòa án có trách nhiệm gửi quyết định miễn chấp hành án phạt tù cho người được
miễn chấp hành án, Viện kiểm sát đã đề nghị, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp,
CQTHAHS cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, UBND cấp xã nơi người
đó cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở.(Điều 34 Luật THAHS).
chấp hành hình phạt bổ sung, bồi thường dân sự..;
+ Có mặt theo yêu cầu của UBND xã, phường, nếu vắng mặt ở địa phương từ 1
ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng cho Công an xã, phường;
+ 3 tháng một lần phải nộp bản kiểm điểm tự nhận xét cho người trực tiếp
giám sát (nếu đi khỏi nơi cư trú từ 3 đến 6 tháng thì phải có nhận xét của Công an cấp
xã nơi người đó đến cư trú).
- Biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
- Tạo điều kiện lao động, học tập của người được hưởng án treo.
- Thực hiện các chế độ chính sách có đầy đủ không?
2.3. Về thủ tục rút ngắn thời gian thử thách:
- Điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách: Chấp hành được ½ thời gian
thử thách, có nhiều tiến bộ (Khoản 4, Điều 60 BLHS);
- Phải có đơn của người được hưởng án treo.
- Tại khoản 1, Điều 66 Luật THAHS thì Cơ quan THAHS Công an cấp huyện
lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp nơi người được hưởng án treo cư trú xem xét,
quyết định.
- Thời hạn mở phiên họp của TA để xét là 15 ngày(Khoản 2, Điều 66 Luật
THAHS).
12
- Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định rút ngắn thời gian
thử thách, Tòa án phải gửi Quyết định đó cho người được rút ngắn thời gian thử
thách, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án
treo, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở (Khoản 3 Điều 66 Luật
THAHS).
2.4. Trường hợp thay đổi nơi cư trú:
- VKS phải xác định kịp thời UBND xã nơi người được hưởng án treo đến cư
trú để giám sát, giáo dục (thay đổi trong phạm vi quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
Các loại hình phạt khác gồm: cấm cư trú, quản chế; trục xuất; tước một số
quyền công dân; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định.
Do pháp luật về thi hành các loại hình phạt và thi hành các biện pháp tư pháp
này rất cụ thể về trình tự, thủ tục; về quyền, trách nhiệm của các cơ quan có trách
nhiệm tổ chức thi hành và nghĩa vụ của người bị kết án. VKS trên cơ sở căn cứ pháp
luật tổ chức kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các đối tượng trên.
5. Kiểm sát hồ sơ xóa án tích:
Phải gồm các tài liệu thể hiện được điều kiện và thủ tục được xóa án. Việc
chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ
sung và các quyết định khác của bản án. Người được miễn chấp hành phần hình phạt
còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.
- Việc xóa án tích có ý nghĩa trong việc xác định tái phạm. Do vậy, đối với
trường hợp xóa án theo quyết định của TA thì trong hồ sơ phải có: Yêu cầu của người
được xóa án tích; Các tài liệu phản ảnh tính chất của tội phạm đã được thực hiện,
nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án; Bản
nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú
hoặc làm việc; Bản phát biểu của KSV; Quyết định xóa án tích; Quyết định bác đơn
xin xóa án tích lần đầu hoặc các lần tiếp theo (nếu có).
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ :
Để làm tốt công tác kiểm sát thi hành án hình sự, kịp thời phát hiện những vi
phạm của Tòa án; Cơ quan thi hành án hình sự và các cơ quan khác, tổ chức được
giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, cán bộ, Kiểm sát viên làm khâu công tác
này phải có kiến thức tổng hợp, nắm chắc các quy định của BLTTHS, BLHS, Luật
THAHS, các Nghị Định, Thông tư liên tịch; Thông tư cũng như Nghị quyết của Hội
đồng thẩm phán Tòa án tối cao và các văn bản pháp luật có Liên quan về thi hành án
hình sự.
Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật và Quy chế nghiệp vụ trong quá
trình kiểm sát, lập hồ sơ kiểm sát các trường hợp chậm áp giải, hoãn, xét giảm, miễn
có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý người bị tạm giữ, tạm giam.
Đây là phần hết sức quan trọng, toàn bộ kết quả hoạt động kiểm sát có chất
lượng hay không đều được thể hiện qua việc đánh giá thông qua nội dung bản kết
luận; Sau khi thu thập được các tài liệu có liên quan đến nội dung công tác kiểm sát,
KSV tổng hợp tình hình chấp hành pháp luật trong công tác quản lý người bị tạm giữ,
tạm giam tại Nhà tạm giữ và hệ thống hóa từng nội dung, vấn đề cần kết luận; Đối
chiếu với các quy định của pháp luật để xác định những ưu điểm, vi phạm tồn tại, xác
định nguyên nhân (khách quan,chủ quan) của những ưu điểm, vi phạm tồn tại, trách
nhiệm của từng vi phạm, phân loại các vi phạm, tích chất, mức độ, hậu quả của vi
phạm tồn tại theo quy định tại Điều, khoản của văn bản pháp luật nào, vi phạm phải
cụ thể rõ ràng có dẫn chứng và tài liệu hồ sơ chứng minh, làm căn cứ để xác định
kiến nghị hay kháng nghị, từ đó xây dựng kết luận.
Phần thứ ba : Kháng nghị, kiến nghị
Trong phần thứ ba của bản kết luận cần nêu rõ yêu cầu vấn đề gì ? Kháng nghị,
kiến nghị cần khắc phục, sửa chữa, chấm dứt việc làm có vi phạm. Quy rõ trách
nhiệm của cơ quan đơn vị, cá nhân vi phạm. Vi phạm thuộc điều luật nào ?
Còn các vi phạm khác thuộc các cơ quan hữu quan sẽ có báo cáo hoặc tiến
hành kháng nghị, kiến nghị riêng./.
15
PHÒNG KIỂM SÁT VIỆC TẠM GIỮ,
TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Người thực hiện
Lữ Thị Xuân Dương
16