Thử nghiệm sản xuất phân bón từ phụ phẩm Biogas bằng phương pháp làm khô qua hệ thống lò sấy và đánh giá sơ bộ hiệu quả trên một số loại cây trồng ngắn ngày. - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

PHẠM ĐỨC CẢNH
Tên đề tài:
THử NGHIệM SảN XUấT PHÂN BÓN Từ PHụ PHẩM BIOGAS
BằNG PHƢƠNG PHÁP LÀM KHÔ QUA Hệ THốNG LÒ SấY VÀ ĐÁNH
GIÁ SƠ Bộ HIệU QUả TRÊN MộT Số LOạI CÂY TRồNG NGắN NGÀY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính qui

Chuyên ngành/ngành

: Công nghệ sinh học

Khoa

: CNSH - CNTP

Khóa học

: 2012 - 2016

Thái Nguyên, 2016



nghiệp, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thử nghiệm sản xuất phân bón
từ phụ phẩm Biogas bằng phƣơng pháp làm khô qua hệ thống lò sấy và
đánh giá sơ bộ hiệu quả trên một số loại cây trồng ngắn ngày”.
Sau thời gian tham gia nghiên cứu thực hiện đề tài, đến nay em đã hoàn
thành đề tài nghiên cứu của mình.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới: ThS. Dương Mạnh Cường,
Khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Vi Đại Lâm đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Công nghệ
Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học
trong suốt thời gian học tập.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ,
động viên để em có tự tin trong học tập và thực tập tốt nghiệp.
Dù đã cố gắng nhiều, xong bài khóa luận không thể tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Kính mong nhận được chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý
Thầy Cô cùng toàn thể các bạn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả !
Thái nguyên, tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Phạm Đức Cảnh


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hàm lượng N, P, K có trong phụ phẩm biogas .............................. 10

Hình 4.8: Biểu đồ chiều cao cây khi được bón phân của 2 phương pháp làm
khô khác nhau ................................................................................. 39
Hình 4.9: Mẫu trước và sau khi chuẩn độ ....................................................... 40


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

CT

: Công thức

DNA

: Deoxyribonucleic acid

ĐC

: Đối chứng

NN

: Nông nghiệp

NPK

: Phân hóa học bón lót NPK

PTNT

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tế ........................................................................ 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 5
2.1. Cở sở khoa học........................................................................................ 5
2.1.1. Tổng quan về phân bón..................................................................... 5
2.1.2. Khái quát về biogas........................................................................... 8
2.1.3. Vai trò nitơ đến cây trồng. .............................................................. 12
2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng của một số loại cây trồng ............................ 14
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................... 18
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................... 18
2.2.2. Tình hình nghiên trên thế giới ........................................................ 19
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 20
3.1.1. Đối tượng ........................................................................................ 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu ......................................... 20
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ....................................................................... 20
3.2.2. Thời gian nghiên cứu. ..................................................................... 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 21


vi

3.4.1. Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của biogas và phân bón hóa học đến
cây trồng ............................................................................................ 21
3.4.2. Thiết lập quy trình sấy khô phụ phẩm bằng hệ thống lò sấy trong
các khoảng thời gian khác nhau ................................................................ 22
3.4.3. So sánh ảnh hưởng của phụ phẩm sấy ở nhiệt độ cao và phụ phẩm
làm khô trực tiếp ....................................................................................... 23
3.4.4. Xác định hàm lượng Nitơ trong các mẫu đất.................................. 23

dưỡng dưới dạng muối khoáng (vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa
học. Hiện nay phân hóa học được sử dụng nhiều trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả lượng phân bón trên được cho vào
đất, được phun trên lá… cây sẽ hấp thụ hết để nuôi cây lớn lên từng ngày.
Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hóa học ở Việt
Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ 4045% và kali từ 40-50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương
pháp bón, loại phân bón… Như vậy, còn 60-65% lượng đạm tương đương với
1,77 triệu tấn urê, 55-60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân
và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được
bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng. Trong số phân bón cây
không sử dụng được, một phần còn được giữ lại trong các keo đất là nguồn
dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau; một phần bị rửa trôi theo nước mặt và chảy vào
các ao, hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt; một phần bị trực di (thấm
rút theo chiều dọc) xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động
của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí… Như vậy
gây ô nhiễm môi trường của phân bón trên diện rộng và lâu dài của phân bón
là việc xảy ra hàng ngày hàng giờ của vùng sản xuất nông nghiệp.


2

Phân hữu cơ: bao gồm các loại phân có nguồn gốc là sản phẩm hữu cơ,
như các loại phân chuồng, phân xanh, thân lá cây trồng được dùng để bón
ruộng...tận dụng các nguồn chất thải là biện pháp hiệu quả và kinh tế trong
giải quyết ô nhiễm chất thải hữu cơ vào đất hoặc nguồn nước từ sản xuất nông
nghiệp. Trong các giải pháp được đặt ra thì làm phân hữu cơ là giải pháp đơn
giản, hiệu quả và mang lại nhiều thuận lợi nhất (Thambirajah, 1993). Phân
hữu cơ là những vật liệu có hoạt tính sinh học cao là kết quả của quá trình
phân huỷ chất hữu cơ dưới những điều kiện được kiểm soát. Phân hữu cơ
được sử dụng nhằm cải thiện tính chất đất và cung cấp dưỡng chất cho cây

phục vụ chất đốt, thắp sáng mà chưa tận dụng hết những lợi ích của công trình
biogas có thể mang lại. Trong đó, việc sử dụng nguồn phụ phẩm: bã thải,
nước xả của hầm để bón cho cây trồng là một nguồn lợi phân bón hữu cơ
chưa được sử dụng. Do các loại phụ phẩm này tồn tại ở thể lỏng và đặc, dẫn
đến hạn chế trong việc bảo quản và vận chuyển. Ở nhiều cơ sở chăn nuôi quy
mô lớn, việc dư thừa phụ phẩm biogas và thiếu hướng giải quyết phù hợp
đang là một thách thức và trở ngại lớn.Vì vậy, nhằm mục đích sử dụng triệt để
phần phụ phẩm biogas để tạo ra các sản phẩm phân hữu cơ với khả năng tăng
năng xuất cây trồng. Xuất pháy từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài:
“Thử nghiệm sản xuất phân bón từ phụ phẩm biogas bằng phương pháp
làm khô qua hệ thống lò sấy và đánh giá sơ bộ hiệu quả trên một số loại cây
trồng ngắn ngày”
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá phân bón hữu cơ từ phụ phẩm biogas.
- Xây dựng phương pháp làm khô phụ phẩm
- Bước đầu đánh giá hiệu quả của phân bón hữu cơ từ phụ phẩm biogas
đã được sấy khô đối với một số nhóm cây trồng ngắn ngày.


4

1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập phụ phẩm biogas và thiết lập quy trình sấy khô.
- Xác định công thức phẩm biogas phù hợp cho một số loại rau
- Kiểm tra, đánh giá để xác định tính ảnh hưởng của phụ phẩm biogas

đến khả năng sinh trưởng và phát triển của một số loại rau.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học

không bổ sung các nguồn phân hữu cơ hay việc lạm dụng chúng quá mức
nhằm nâng cao năng suất và tạo ra những sản phẩm đẹp mắt đã để lại nhiều
hệ lụy cho môi trường và sức khỏe người tiêu dùng và đây là một trong những
nguyên nhân gây nên tình trạng thoái hóa đất mà nhiều người vẫn lầm tưởng
rằng nó có khả năng cải tạo đất.


6

Phân hóa học là các loại muối khoáng có chứa các chất dinh dưỡng cần
thiết cho cây. Các loại phân vô cơ thường dùng là phân đạm, lân, kali, phân
hỗn hợp, phân trung lượng, vi lượng và các loại phân bón lá.
Ta biết lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ và mỗi loài thì có
một nhu cầu dinh dưỡng riêng, việc bón quá nhiều phân hoá học sẽ dẫn đến
tình trạng dư thừa mà thực vật không thể hấp thu hết và chúng lưu lại trong
đất, qua phân giải chuyển hoá chúng biến thành những hợp chất gây nguồn ô
nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Cùng với sự tăng lên về số
lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng thì tình trạng ô nhiễm
đất ngày càng nghiêm trọng.
Theo Dương Thị Oanh (2014): “đối với loại phân đạm vô cơ (N)- một
loại phân mang lại hiệu quả rõ rệt nhất cho năng suất cây trồng nhưng cũng dễ
gây ô nhiễm cho môi trường đất do tồn dư của nó. Phần lớn nitrat phân bón
dư thừa được giữ lại trong đất, chúng ngấm xuống nước ngầm dưới dạng
NO3-. Trong môi trường đất, nó làm tăng tính chua vì dạng acid HNO3 rất phổ
biến. Ngoài ra, nếu trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối
thì đạm sẽ chuyển từ NH4- sang NO3-, khi vào cơ thể người NO3- sẽ chuyển
sang dạng NO2-, gây hại cho tim, phổi và gan. Một dạng phân hóa học khác
cũng gây ô nhiễm môi trường đất là phân lân, với lượng lân cao, sẽ gây chua
cho môi trường sinh thái đất. Mặt khác các dạng phân hóa học đều là các
muối của acid (hoặc là muối kép hoặc là muối đơn). Vì vậy khi hòa tan

sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất.
- Phân hữu cơ khoáng: là phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ.
Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất cây trồng. Kết quả nghiên cứu khoa
học trong rất nhiều năm của các viện, trường, cũng như kết quả điều tra kinh
nghiệm của các hộ nông dân cho thấy, năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế
cao, ổn định ở những nơi có bón tỷ lệ N hữu cơ và N vô cơ cân đối với tỷ lệ N
tính từ hữu cơ chiếm khoảng 25-30% tổng nhu cầu của cây trồng. Ước tính do


8

bón phân hữu cơ năng suất cây trồng đã tăng được 10-20%. Nếu tính riêng về
thóc do bón phân hữu cơ (chủ yếu là phân chuồng) đã đạt khoảng 2,5-3,0 triệu
tấn thóc/năm. Bón phân hữu cơ còn làm giảm bớt lượng phân khoáng cần bón
do phân hữu cơ có chứa các nguyên tố di dưỡng đa lượng, trung lượng và vi
lượng. Theo Bùi Huy Hiền (2010b): “bón chất hữu cơ sẽ cải thiện được các
tính chất vật lý đất, hóa học và sinh học của đất; đồng thời hạn chế mức độ
độc hại của một số nguyên tố như: nhôm (Al), sắt (Fe); giảm bớt sự cố định
lân trong đất dưới tác dụng kết hợp Al3+, Fe3+ dưới dạng phức chất; nâng cao
sự hoà tan lân ở dạng phốt phát sắt hoá trị ba dưới tác dụng khử ôxy. Bón
phân hữu cơ có tác dụng làm giảm rửa trôi, giảm bốc hơi của phân đạm bón
vào. Do đó, hiệu quả sử dụng của phân đạm vô cơ tăng lên”.
2.1.2. Khái quát về biogas
Biogas hay khí sinh học là hỗn hợp khí được tạo ra nhờ quá trình lên
men các chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí. Do có thành phần chính là khí
methane (CH4) nên khí sinh học có thể cháy được và sinh ra nhiệt năng.
Biogas có thể được tạo ra bằng cách lên men kỵ khí các chất thải trong chăn
nuôi nhờ sử dụng các hệ thống ống nối và bể chứa phù hợp. Sự tăng trưởng
của vi khuẩn tùy thuộc vào loại phân sử dụng và điều kiện nhiệt độ. Có 2
nhóm vi khuẩn trong bể biogas là: nhóm vi khuẩn phân giải cellulose và nhóm

thành các hợp chất khác nhau và các chất khí như CO2, N2, H2 và cả CH4 (bắt
đầu lên men methan). Các vi sinh vật kỵ khí phát triển mạnh còn các vi sinh
vật hiếu khí bị tiêu diệt. Các vi khuẩn methane phát triển rất mạnh và chuyển
hóa rất nhanh để tạo thành CO2 và CH4.
Biogas đã được ứng dụng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam trong
những năm qua nhằm mục đích xử lý chất thải chăn nuôi và tạo ra nguồn
nhiên liệu cho đun nấu và thắp sáng. Trong quá trình sản xuất khí biogas,
những phụ phẩm như nước xả và bã cặn được sinh ra. Nhiều nghiên cứu đã
chỉ ra những thành phần dinh dưỡng quan trọng trong phụ phẩm biogas. Do


10

vậy, có thể được sử dụng làm phân bón cho cây trồng, tạo nguồn cung cấp
phân hữu cơ quan trọng cho cây (Hoàng Kim Giao, 2011).
2.1.2.1. Thành phần phụ phẩm biogas
Phụ phẩm biogas là sản phẩm ở dạng lỏng và rắn của quá trình phân giải
cơ chất. phụ phẩm biogas gồm 3 phần là nước xả, bã cặn và váng. Trong đó
93% nước, 7% chất khô trong đó 4,5% là hợp chất hữu cơ và 2,5% là các chất
vô cơ. Thành phần chính của phụ phẩn khí sinh học:
- Những chất hữu cơ ở thể rắn (chất mùn)
- Các chất dinh dưỡng dễ hòa tan (có đặc tính phân bón và tác dụng cải
tạo đất)
- Các nguyên tố vi lượng (Cu, Zn, Fe, Mn…)
- Những tế bào mới hình thành trong quá trình phân giải.
Thành phần của phụ phẩm biogas phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu
nạp. Hàm lượng NPK trong đó thường rất khác nhau và phụ thuộc vào
nguyên liệu nạp và tỷ lệ pha loãng nguyên liệu (Hoàng Kim Giao, 2011). Ở
Việt Nam, nguyên liệu nạp chủ yếu là chất thải lợn, phân trâu bò, phân người
và phân gia cầm. Các chất dinh dưỡng N, P, K có hàm lượng dao dộng trong

Bảng 2.2: Hàm lƣợng một số kim loại nặng trong nƣớc xả biogas
Pb (mg/l)

As (mg/l)

Hg (mg/l)

Cd (mg/l)

0,0625

0,045

0,003

0,009

≤ 0,1

0,05 – 0,1

≤ 0,001

Phân tích của
Viện chăn nuôi
(2008)
TCVN cho
nước tưới
(TCVN 6773 –


số loại sâu bệnh. Nếu trộn phụ phẩm với một lượng nhỏ thuốc trừ sâu sẽ làm
tăng hiệu quả thuốc trừ sâu, hiệu quả nhanh do đó giảm bớt lượng thuốc trừ
sâu bón cho cây trồng, hạn chế độc hại, ô nhiễm môi trường.
- Sử dụng phụ phẩm khí sinh học làm thức ăn bổ sung cho lợn: Chứa 1
lượng nhất định axit amin, vitamin, axit hữu cơ, các chất khoáng… là các chất
dinh dưỡng cần thiết cho gia súc và hầu hết vi trùng hiếu khí gây bệnh và
trứng giun sán trong nước xả đã bị tiêu diệt. Ngoài ra phụ phẩm còn chứ
nhiều enzyme có tác dụng tăng tính thèm ăn, tăng hiệu quả chuyển hóa thức
ăn của vật nuôi.
- Sử dụng phụ phẩm biogas làm thức ăn nuối cá: Phụ phẩm biogas giàu
nitơ, photpho và kali dễ hấp thụ cho các loài tảo làm thức ăn cho cá. Phụ
phẩm này chỉ chứa một lượng nhỏ chất hữu cơ, do đó không làm tăng hàm
lượng CO2 trong nước, gây cho cá chết như khi bón phân tươi.
2.1.3. Vai trò nitơ đến cây trồng.
Nitơ chỉ thường chiếm 1-5% khối lượng khô của thực vật. Tuy nhiên, đối
với thực vật nói chung và cây trồng nói riêng, nitơ có vai trò sinh lý đặc biệt
quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất. Nitơ có
mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có vai trò quyết định trong
quá trình trao đổi chất và năng lượng, đến hoạt động sinh lý của cây.
Nitơ là nguyên tố đặc thù của protein mà protein lại có vai trò cực kì quan
trọng đối với cây trồng. Protein là thành phần chủ yếu tham gia cấu trúc nên hệ


13

thống chất nguyên sinh trong tế bào, cấu tạo nên hệ thống màng sinh học, các
bào quan trong tế bào. Protein là thành phần bắt buộc của các enzyme.
Nitơ có trong thành phần của acid nucleic (DNA và RNA). Ngoài chức
năng duy trì và truyền thông tin di truyền, acid nucleic đóng vai trò rất quan
trọng trong quá trình sinh tổng hợp protein, sự phân chia và sự sinh trưởng

Nếu cây trồng được cung cấp đủ lượng nitơ, cây mọc nhanh cho nhiều
thân, lá có màu xanh đậm đẹp do có nhiều diệp lục, hiệu suất quang hợp tăng.
Đồng thời, cây sinh trưởng tốt giúp đồng hóa chất dinh dưỡng mạnh và cây
trồng cho năng suất cao (Lê Viết Phùng, 1987).
2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng của một số loại cây trồng
Mỗi loại cây trồng sẽ có những đặc tính sinh trưởng trong các thời kì và
từng giai đoạn khác nhau (Lù Thị Lìu, 2007).
- Rau xà lách:
Cây xà lách là cây ưa nhiệt độ thấp, sinh trưởng thích hợp nhất ở nhiệt
độ 15-200C. Bộ rễ tương đối phát triển. Thời gian sinh trưởng khoảng 45-55
ngày. Cây thân thảo hằng năm có rễ trụ và có sơ, thân hình trụ và thẳng, có
thể cao tới 60 cm, phân nhánh ở phần trên. Lá ở gốc, xếp hình hoa thị, tạo
thành búp dầy đặc hình cầu, các lá ở thân mọc so le, lá có màu lục sáng, gần
tròn hay thuôn, hình xoắn ngược, lượn sóng, dài 6–20cm, rộng 3–7cm, mép
có răng không đều. Cụm hoa chùy dạng ngù ở ngọn gồm nhiều đầu hoa, mỗi
đầu có 20 hoa, hình môi màu vàng. Xà lách có thể trồng được quanh năm
nhưng vụ thu đông cho năng suất cao hơn.
- Rau cải:
Gieo từ tháng 8 đến tháng 11 hay gieo từ tháng 2 đến tháng 6. Thời gian
sinh trưởng từ 25 đến 30 ngày. Cây cải ngọt có thể gieo hạt thẳng hoặc gieo ở
vườn ươm rồi cấy. Chọn đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ có độ pH 5,5 - 6,5. Cải
ngọt là cây ngắn ngày, rất cần nước để sinh trưởng, do vậy cần phải giữ ẩm
thường xuyên. Cây thường bị các loại sâu bệnh hại chính như: các loại rệp, bọ


15

nhảy, sâu xám, sâu tơ, sâu xanh, bệnh thối nhũn. Dùng các loại thuốc sau để
phòng trừ: Sherpa 25EC hoặc thuốc trừ sâu sinh học Bt để diệt trừ sâu.
- Bắp cải:

400kg supe lân, 500kg clorua kali. Vì vậy, phải đảm bảo lượng phân bón sao
cho cây có trạng thái tốt, chống đỡ sâu bệnh và cho năng suất cao.
- Su hào:
Cây su hào thuộc họ Thập tự. Thân của cây phát triển phình to thành củ
khí sinh, trong chứa nhiều chất dinh dưỡng. Có thể chịu nóng hơn cây cây bắp
cải 2-3oC. Vì vậy su hào có thể trồng sớm hoặc muộn hơn cải bắp.
Ở nước ta su hào thường có 2 giống: su hào dọc trung và su hào dọc đại.
Su hào dọc trung (hay su hào dọc nhỡ): củ tròn, to, mỏng vỏ, cọng và
phiến lá to hơn loại su hào dọc tăm. Điển hình là su hào Hà Giang. Thời gian
sinh trường 90 – 105 ngày.
Su hào dọc đại (su hào bánh xe): củ to, hơi dẹt, vỏ rất dày, cọng và phiến
lá rất to, dày. Thời gian sinh trưởng 120 – 130 ngày. Đặc trưng là su hào Tiểu
Anh Tử (Trung Quốc) hoặc Thiên Anh Tử (Nhật Bản).
Su hào có thể gieo 2 vụ: vụ chính gieo tháng 9 đến hết tháng 10 và vụ
muộn gieo tháng 11.
Su hào thường hay bị sâu phá hoại, đặc biệt là rệp rau: chúng tập trung ở
phần nõn củ và lá non mới nhú để chích hút làm cho các bộ phận này bị teo
đi, su hào không lớn được. Phải phát hiện cứu thời và dùng dipterec 1/1600 để
phun trừ.
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống, từng vụ và thấy mặt củ
đã bằng, lá non ngừng sinh trưởng thì thu hoạch: kéo dài thêm sẽ già, nhiều
xơ, giảm phẩm chất.


17

- Cải ngồng HN888:
Cải ngồng là loại cải có thân non, màu xanh mướt, thường mộc vỏng
lên phiến lá xòe ra hình cánh quạt. Cải ngồng HN888 là giống cải ngồng được
cải tiến, cho năng suất và chất lượng thu được rất cao. Kháng bệnh tốt, có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status