PHÂN LOẠI BỆNH QUỐC TẾ LẦN THỨ 10 VỀ CÁC RỐI LOẠN
TÂM THẦN VÀ HÀNH VI
PHÂN LOẠI BỆNH QUỐC TẾ LẦN THỨ 10
VỀ CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI
(Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán)
The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders
Clinical descriptions and diagnostic guidelines
Người dịch: GS. NGUYỄN VIỆT
LỜI NÓI ĐẦU
Phần “Các rối loạn tâm thần và các rối loạn hành vi” (phần F) của tập phân
loại bệnh quốc tế, biên soạn lần thứ 10 (PLBQT10 (F)) là kết quả rực rỡ của một
quá trình không ngừng hoàn chỉnh cách phân loại và các tiêu chuẩn chẩn đoán
của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) từ hơn 30 năm qua, bắt đầu từ năm 1960.
Hai sự kiện đáng ghi nhớ trong quá trình này là sự ra đời của tập phân loại
bệnh quốc tế 9 năm 1978, phần các rối loạn tâm thần, hay phần V (PLBQT9(V))
và tiếp theo sau, sự ra đời và thành công của tập “chẩn đoán và thống kê các rối
loạn tâm thần”, biên soạn lần thứ 3 (DSM3) của Hội tâm thần học Mỹ (1980). Tập
này đã nêu lên những tiêu chuẩn cụ thể, cần và đủ để chẩn đoán các mục trong
PLBQT9 (V). Cho đến nay, PLBQT9 (V) và DSM3 đã thực sự trở thành cẩm
nang chẩn đoán của số đông các nhà tâm thần học trên thế giới
Trên cơ sở những thành tựu của PLBQT9 (V) và DSM3, TCYTTG chuẩn bị
cho việc biên soạn tập PLBQT10 (F) theo một chương trình hợp tác quốc tế rộng
rãi và dài hạn. Ngay từ 1980 đã bắt đầu xuất hiện những hội nghị quốc tế có liên
quan đến việc biên soạn này. Nhiều bản dự thảo thay nhau ra đời, bản sau hoàn
chỉnh hơn bản trước. Bản (dự thảo năm 1987 được dùng để nghiên cứu lâm
sàng thí điểm (thử nghiệm thực địa) ở hơn 100 Trung tâm nghiên cứu lâm sàng
trong 40 nước trên thế giới. Do điều kiện riêng, năm 1988 ngành tâm thần chúng
ta chỉ tham gia nghiên cứu một phần và đã gửi bản nhận xét tổng quát và đề
nghị sửa đổi của mình cho TCYTTG (GENEVA). Chính trong quá trình tham gia
(psychosomatic) vì chúng có ý nghĩa khác nhau tùy theo ngôn ngữ mỗi dân tộc
và truyền thống tâm thần học mỗi nước. Các thuật ngữ tật chứng (impairment),
rối loạn chức năng hoạt động (disability) và tổn thiệt (handicap) được dùng theo
định nghĩa của TCYTTG năm 1980 (đã được trình bày trong tập PLBQT10 (F)
này, hơn 10 năm qua, các chuyên viên tâm thần học (tham gia biên soạn) đã
thảo luận sôi nổi và kiên trì về khá nhiều mục, chẳng hạn như. Các hội chứng
tiền triệu trong bệnh tâm thần phân liệt (TTPL), tách các rối loạn loạn thần kinh
cấp và nhất thời ra khỏi bệnh TTPL, các rối loạn phân liệt cảm xúc, các trạng thái
hỗn hợp lo âu và trầm cảm, các rối loạn phân ly và dạng cơ thể, bệnh suy nhược
thần kinh, các rối loạn tâm thần hậu sản, các rối loạn tâm thần khởi phát ở tuổi
trẻ em và thanh thiếu niên...
Như vậy, tập PLBQT10 (F) tuy là một thành công xuất sắc nhưng vẫn có
thể còn chứa đựng một số vấn đề cần thử nghiệm và trao đổi thêm, trong phạm
vi toàn thế giới, để thập kỷ sau, lập PLBQT11 (F) sẽ ra đời với nội dung hoàn
chỉnh hơn.
Trong hoàn cảnh nước ta, dịch và xuất bản kịp thời tập PLBQT10 (F) đã
phục vụ cho các công tác chẩn đoán, điều trị và giảng dạy cũng như cho Hội
thảo quốc gia (12-1992), về chương F4) cũng là một thành tựu đáng kể. Trước
hết đó là công sức của những người dịch, những người biên tập ấn loát đã kiên
trì đóng góp vào việc xuất bản, bản dịch thứ nhất (1988) và bản dịch thứ 2
(1992) này.
Chúng ta không quên công sức của giáo sư N. Sartorius, người đại diện
của TCYTTG và chủ biên tập PLBQT10 (F) này đã tạo điều kiện thuận lợi cho
chúng ta tham gia thử nghiệm thực địa năm 1986.
Chúng ta cũng nhớ đến BS. N. Shinfuku người đã tán thành, động viên và
giúp đỡ chúng ta tổ chức các cuộc hội thảo và tập huấn về PLBQT10 (F) năm
1988 và 1992.
Một nhân tố hết sức quan trọng đã thúc đẩy sự hình thành và ra đời tập
thương não và rối loạn chức năng não.
F09. Rối loạn tâm thần triệu chứng hoặc thực tổn, không biệt định.
MỞ ĐẦU
Phần này bao gồm những rối loạn tâm thần có chung căn nguyên rõ rệt là
bệnh ở não, chấn thương, hoặc thương tổn khác dẫn tới rối loạn chức năng não.
Rối loạn chức năng có thể là nguyên phát như trong các bệnh lý não, các chấn
thương hoặc các thương tổn tác động trực tiếp hoặc ưu thế trên não; hoặc thứ
phát như trong các bệnh lý hệ thống và các rối loạn tác động lên não do bệnh ở
một trong những cơ quan hoặc những hệ thống của cá thể có liên quan. Các
bệnh lý não do rượu và ma túy, mặc dù về logic thì thuộc về nhóm này, nhưng
được xếp loại ở mục F10 - F19 vì đặt tất cả các rối loạn do các chất tác động
tâm thần vào một mục riêng là tiện lợi cho việc thực hành hơn.
Mặc dù những biểu hiện tâm thần bệnh lý của những bệnh được nêu ở
đây là rộng, những nét chủ yếu của các rối loạn này hình thành hai nhóm chính.
Một mặt, có những hội chứng trong đó, nhưng nét biểu hiện bất biến và nổi bật
nhất hoặc là những rối loạn chức năng hiểu biết như trí nhớ, trí tuệ, học tập hoặc
là những rối loạn chức năng nhận biết như các rối loạn ý thức và sự chú ý. Mặt
khác, có những hội chứng trong đó những biểu hiện rõ rệt nhất thuộc lĩnh vực tri
giác (các ảo giác), nội dung của tư duy (các hoang tưởng) hoặc khí sắc và cảm
xúc (trầm cảm, hưng phấn, lo âu), hoặc toàn bộ mẫu hành vi và nhân cách, trong
khi loạn chức năng nhận thức và giác quan nhẹ và khó xác định. Những rối loạn
của nhóm sau ít gắn bó trong phần này so với nhóm trước bởi vì nhiều rối loạn
của nó về mặt triệu chứng học cũng tương tự như các trạng thái được xếp loại ở
các phần khác (F20 - F29, F30 - F39, F40 F49, F60 - F69) và được thấy xuất
hiện không có các rối loạn chức năng hoặc bệnh lý não rõ rệt. Tuy nhiên sự phát
triển tất yếu của một số bệnh não và bệnh hệ thống có mối quan hệ căn nguyên
đối với sự xuất hiện các hội chứng đó đủ xác định cho việc định hướng lâm sàng
xếp loại của chúng ở đây.
mạch máu não, và trong nhiều trạng thái khác tác động nguyên phát hoặc thứ
phát lên não.
Trong việc đánh giá có hay không có hội chứng mất trí cần phải tiến hành
đặc biệt thận trọng nhằm tránh chẩn đoán dương tính sai lầm: các nhân tố động
cơ hoặc cảm xúc, đặc biệt là trầm cảm, cùng với sự chậm chạp vận động và sự
mệt mỏi chung của cơ thể giải thích sự thất bại trong năng lực thực hiện hơn là
do mất năng lực trí tuệ gây nên.
Mất trí là một suy sụp đáng kể chức năng trí tuệ và thường gây trở ngại
cho các hoạt động sinh sống hàng ngày của cá thể như tắm rửa, mặc quần áo,
ăn, vệ sinh cá nhân, bài tiết và các hoạt động trang điểm. Sự suy giảm ở mức
nào, biểu hiện của nó tùy thuộc rất nhiều vào khung cảnh văn hóa xã hội mà
bệnh nhân đang sống. Những thay đổi trong việc thực hiện vai trò như sự giảm
sút khả năng duy trì hay tlm kiếm một nghề nghiệp, không được sử dụng như
một tiêu chuẩn của mất trí bởi vì có sự khác biệt rộng lớn xuyên văn hóa khi xét
cái gì đó là thích hợp, và bởi vì thường có thể có những sự thay đổi áp đặt từ
bên ngoài khi tìm công việc sẵn có trong một nền văn hóa riêng biệt.
Nếu có triệu chứng trầm cảm song chưa có đủ tiêu chuẩn của một giai
đoạn trầm cảm V(F32.0 - F32.3) chúng có thể được ghi mã bởi con số thứ 5. Sự
có mặt của các ảo giác hoặc hoang tưởng cũng có thể được xử lý tương tự.
.X0 Không có các triệu chứng thêm vào
.X1 Có các triệu chứng khác, ưu thế hoang tưởng
.X2 Có các triệu chứng khác, ưu thế ảo giác
.X3 Có các triệu chứng khác, ưu thế trầm cảm
.X4 Có các triệu chứng hỗn hợp khác.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Đòi hỏi đầu tiên cho chẩn đoán là bằng chứng về sự suy giảm của cả trí
nhớ lẫn tư duy đủ để gây trở ngại cho hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của
cá nhân, đã mô tả ở trên. Sự suy giảm trí nhớ là điển hình trong ghi nhận, bảo
sử gia đình có người bị mất trí tương tự, quá trình phát triển bệnh nhanh hơn và
có những nét ưu thế tổn thương thùy đỉnh và thái dương, bao gồm rối loạn vong
ngôn hoặc rối loạn vong hành. Trong những trường hợp khởi phát muộn hơn,
tiến triển có khuynh hướng chậm hơn và đặc trưng bởi tật chứng lan tỏa nhiều
hơn trong toàn bộ các chức năng vỏ não cao cấp. Bệnh nhân với hội chứng
Down có nhiều nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer.
Có những biến đổi đặc trưng trong não: sự giảm sút đáng kể trong quần
thể nơron, đặc biệt ở các hồi hải mã; chất vô danh; nhân đỏ; vùng vỏ não trán và
thái dương đỉnh; xuất hiện các mảng tơ thần kinh cấu tạo bãi các sợi xoắn kép;
các màng thần kinh (ái bạc) bao gồm nhiều chất amyloid và chứng tỏ sự tiến
triển nhất định trong quá trình phát triển (song cũng có những mảng không chứa
đựng Amyloid); và những thể hốc hạt. Những biến đổi hóa thần kinh cũng được
phát hiện, bao gồm sự giảm sút rõ rệt trong enzyme choline - acetyl transferaza, trong bản thân acetylcholine và trong các chất dẫn truyền thần kinh
khác và những chất điều chỉnh thần kinh.
Như đã mô tả từ đầu, các nét lâm sàng phải kèm theo các biến đổi não đã
nói ở trên. Tuy nhiên, ngày nay không phải 2 điều kiện ấy nhất thiết phải tiến
triển song song: điều kiện này có thể hiện diện một cách rõ rệt trong khi điều kiện
kia chỉ xuất hiện tối thiểu. Tuy vậy, với các biểu hiện lâm sàng của bệnh
Alzheimer đôi khi cũng có thể có được chẩn đoán đáng tin cậy chỉ căn cứ duy
nhất trên nền tảng lâm sàng.
Mất trí trong bệnh Alzheimer là không hồi phục được.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Những nét sau đây là những yêu cầu cốt yếu để chẩn đoán xác định:
(a) Có biểu hiện mất trí như đã mô tả ở trên.
(b) Khởi phát âm ỉ với sự suy thoái chậm. Trong khi, khởi phát dường như
thường khó xác định kịp thời, thì toàn phát có thể xuất hiện một cách đột ngột.
Đỉnh cao của bệnh có thể xảy ra trong quá trình tiến triển.
(c) Không có bằng chứng lâm sàng, hoặc các phát hiện qua các nghiên
trong quá trình mất trí ở hầu hết các trường hợp.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Như với mất trí đã mô tả ở trên với sự khởi phát trước tuổi 65, và thường
các triệu chứng tiến triển nhanh. Bệnh sử gia đình của bệnh Alzheimer là một
nhân tố đóng góp song không nhất thiết phải có để chẩn đoán, như có hội chứng
Down hoặc bệnh tăng sinh mô limphô trong lịch sử gia đình.
Bao gồm: bệnh Alzheimer, kiểu 2 mất trí trước tuổi già, kiểu Alzheimer.
F00.1 Mất trí trong bệnh Alzheimer khởi phát muộn.
Mất trí trong bệnh Alzheimer với khới phát lâm sàng ở sau tuổi 65 và
thường là vào những năm cuối của tuổi 70 hoặc sau nửa, với một sự tiến triển
chậm và thường có tật chứng trí nhớ là nét chính yếu.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Như đối với mất trí đã mô tả ở trên, song cần lưu ý có hoặc không có
những nét phân biệt bệnh này với thể khởi phát sớm (F00.0).
Bao gồm: bệnh Alzheiper, kiểu 1 mất trí tuổi già kiểu Alzhimer.
F00.2 Mất trí trong bệnh Alzheimer thể không điển hình hoăc thể hỗn
hợp.
Mất trí không phù hợp với sự mô tả và các nguyên tắc chẩn đoán cho cả
F00.0 hoặc F00.1 được xếp loại ở đây; mất trí hỗn hợp Alzheimer và mạch máu
cũng được xếp vào đây.
F00.9 Mất trí trong bệnh Alzheimer, không biệt định.
F01. MẤT TRÍ TRONG BỆNH MẠCH MÁU.
Mất trí mạch máu (trước gọi là xơ động mạch) bao gồm mất trí do nhồi
máu rải rác, được phân biệt với mất trí trong bệnh Alzheimer bởi bệnh sử khởi
phát bệnh, những nét lâm sàng và quá trình tiếp theo. Điển hình, có trong tiền sử
những đợt thiếu máu cục bộ nhất thời với rối loạn ý thức ngắn, liệt nhẹ thoáng
qua hoặc mất thị giác. Mất trí cũng có thể tiếp sau các tai biến mạch máu não
vào bệnh cảnh lâm sàng và bệnh sử gợi ý bệnh Alzheimer.
F01.0 Mất trí mạch máu khởi phát cấp.
Thường phát triển nhanh tiếp sau các cơn đột quị liên tiếp do nghẽn, lấp
mạch máu não hoặc do xuất huyết. Nguyên nhân chỉ là nhồi máu não lớn duy
nhất thì hiếm thấy hơn.
F01.1 Mất trí do nhồi máu rải rác.
Khởi phát từ từ hơn thể cấp, tiếp sau những đợt thiếu máu cục bộ nhẹ,
gây tích tụ các đám nhồi máu ở nhu mô não.
Bao gồm: mất trí ưu thế vỏ não.
F01.2 Mất trí mạch máu dưới vỏ.
Có thể có bệnh sử cao huyết áp và ổ hủy hoại do thiếu máu cục bộ ở vùng
sâu chất trắng của bán cầu đại não, chẩn đoán lâm sàng có thể nghi ngờ, chẩn
đoán khẳng định nhờ chụp não cắt lớp có máy tính. Vỏ não vẫn thường được
duy trì và điều này ngược với bệnh cảnh lâm sàng có thể rất giống với bệnh
cảnh mất trí Alzheimer (khi sự tiêu hủy myelin lan tỏa trong chất trắng được
chứng minh, có thể sử dụng thuật ngữ “bệnh não Binswanger”).
F01.3 Mất trí mạch máu vỏ và dưới vỏ não hỗn hợp.
Thành phần vỏ não và dưới vỏ hỗn hợp của mất trí do mạch máu có thể
nghi ngờ từ các biểu hiện lâm sàng, các kết quả khám nghiệm (bao gồm cả mổ
tử thi) hoặc cả hai.
F01.8 Mất trí mạch máu khác.
F01.9 Mất trí mạch máu, không biệt định.
F02. MẤT TRÍ TRONG CÁC BỆNH KHÁC ĐƯỢC XẾP LOẠI Ở CHỖ
KHÁC.
Những trường hợp mất trí do hoặc coi như là do những nguyên nhân khác
không phải bệnh Alzheimer hoặc bệnh lý mạch máu não. Khởi phát có thể ở bất
kỳ lứa tuổi nào, song ít khi ở tuổi già.
bệnh lý thần kinh đặc hiệu (bệnh não mềm bán cấp) coi như gây nên bởi các tác
nhân lây truyền, Khởi đầu thường xảy ra ở lứa tuổi trung niên hoặc muộn hơn.
Điển hình vào lứa tuổi 50.
Nhưng có thể gặp ở bất kỳ tuổi thành niên nào. Quá trình tiến triển bốn
cấp, dẫn đến tử vong trong vòng 1-2 năm.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Nên nghĩ tới bệnh Creutzfeldt-Jacob tất cả những trường hợp mất trí tiến
triển tương đối nhanh từ nhiều tháng đến một hoặc hai năm và kèm theo hoặc
tiếp theo có những triệu chứng thần kinh phong phú. Trong một số trường hợp,
như thể gọi là teo cơ, các dấu hiệu thần kinh có thể xuất hiện trước khi mất trí
khởi đầu.
Thường có liệt cứng tiến triển của các chi, kèm theo các dấu hiệu ngoại
tháp như run, co cứng và các vận động kiểu múa giật, múa vờn; các dạng khác
có thể gặp: thất điều, mất thị giác, hoặc rung sợi cơ và teo nơron vận động trên.
Bộ 3 triệu chứng bao gồm:
- Mất trí nặng và tiến triển nhanh.
- Rối loạn tháp và ngoại tháp với rung giật cơ và
- Điện não đồ đặc hiệu (3 pha) có giá trị cao cho gợi ý chẩn đoán bệnh
này,
Chẩn đoán phân biệt: Cân xem xét: Bệnh Alzheimer (F00-hoặc bệnh Pick
(F02.0); Bệnh Parkinson (F02.3); Hội chứng Parkinson sau viêm não (G21.3).
Sự tiến triển nhanh và rối loạn vận động sớm nên nghĩ tới bệnh
Creutzfeldt-Jacob.
F02.2 Mất trí trong bệnh Huntington.
Mất trí xuất hiện như một phần của sự thoái hóa lan tỏa của não. Bệnh
Huntington được truyền bởi một gen trội tự thân duy nhất. Các triệu chứng xuất
hiện điển hình trong khoảng tuổi 30 đến 40 tuổi và tần xuất mắc bệnh ở cả hai
Mất trí phát triển ở người mắc bệnh Parkinson rõ rệt, thường là trầm trọng.
Bao gồm: Mất trí trong liệt run
Mất trí trong hội chứng Parkinson.
Chẩn đoán phân biệt: Cần xem xét: Các mất trí thứ phát khác (F02.8); mất
trí do nhồi máu rải rác (F01.1) kết hợp với bệnh tăng huyết áp, hoặc bệnh mạch
máu do đái đường; u não (C70-C72); thủy thũng não áp lực bình thường (G912).
F02.4 Mất trí trong bệnh suy giảm miễn dịch do vi rút ở người (HTV).
Một rối loạn được đặc trưng bởi sự thiếu hụt nhận thức đáp ứng các tiêu
chuẩn chẩn đoán lâm sàng của mất trí, trong khi không có bệnh lý hoặc rối loạn
khác đi kèm ngoài nhiễm HTV có thể giải thích được.
Mất trí do nhiễm HIV biểu hiện điển hình với phàn nàn là hay quên, kém
lanh lợi, khả năng tập trung kém và khó khăn trong việc đọc và giải quyết các
vấn đề. Thường thấy vô cảm, tính sáng ý suy giảm, cô lập khỏi xã hội, ở một số
rất ít bệnh nhân bị nhiễm bệnh, bệnh lý có thể biểu hiện không điển hình như
một rối loạn xúc, một bệnh loạn thần hoặc các co giật. Khám cơ thể thường thấy
run, các động tác lặp đi lặp lại nhanh bị suy giảm, mất thăng bằng, mất điều hòa,
tăng trương lực, tăng phản xạ lan tỏa, các dấu hiệu giải phóng thùy trán dương
tính và suy giảm động tác theo dõi và rung giật của mắt.
Ở trẻ em còn biểu hiện một rối loạn sự phát triển thần kinh kết hợp với
nhiễm HIV được đặc trưng bởi sự chậm phát triển, tăng trương lực, đầu bé và
sự vôi hóa hạch cơ bản. Rối loạn thần kinh thường xuất hiện khi không có các
nhiễm trùng và khối u, điều này không thấy ở người lớn.
Mất trí do nhiễm HTV nhìn chung tiến triển nhanh (nhiều tuần hay nhiều
tháng) đến mất trí toàn bộ nặng, không nói và chết, nhưng không phải luôn luôn
như thế.
Bao gồm: Phức hợp SIDA-mất trí,
Bệnh não hoặc viêm não bán cấp do HIV.
F02.8 Mất trí trong các trạng thái biệt định khác được phân loại ở chỗ
do
trypanosom
(Châu
Phi
B56
-
Mỹ
B57)
(trypanosomiasis)
Thiếu vitamine B12 (E53.8)
F03. MẤT TRÍ KHÔNG BIỆT ĐỊNH.
Mục này được sử dụng khi các tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán mất trí là
thỏa đáng, song không thể xếp vào một trong các thể đặc biệt nào (F00.0 F02.9).
Bao gồm:
- Mất trí tuổi già hoặc trước tuổi già không biệt định cách khác (NOS)
- Loạn thần tuổi già hoặc trước tuổi già không biệt định cách khác (NOS)
- Mất trí thoái hóa nguyên phát không biệt định cách khác (NOS).
F04. HỘI CHỨNG QUÊN THỰC TỔN KHÔNG DO RƯỢU VÀ CÁC CHẤT
TÁC ĐỘNG TÂM THẦN KHÁC.
quên phân ly (F44.0); với suy giảm chức năng trí nhớ trong rối loạn trầm cảm
(F30 - F39) và với giả bệnh có phàn nàn mất nhớ (Z76.5).
Hội chứng Korsakov do rượu và ma túy không nên ghi mã ở đây mà nên
để ở khu vực thích hợp (F1x.6).
F05. SẢNG KHÔNG DO RƯỢU VÀ CÁC CHẤT TÁC ĐỘNG TÂM THẦN
KHÁC.
Một hội chứng căn nguyên không đặc hiệu đặc trưng bởi rối loạn đồng thời
ý thức, chú ý, tri giác, tư duy, trí nhớ, tâm thần vận động, cảm xúc và chu kỳ thức
ngủ. Có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng phổ biến nhất là lứa tuổi 60.
Trạng thái sảng là nhất thời và với cường độ giao động; Phần lớn các trường
hợp hồi phục trong vòng 4 tuần hoặc ít hơn.
Tuy nhiên, sảng kéo dài, với sự giao động tới 6 tháng không phải là hiếm,
đặc biệt xuất hiện trong quá trình của bệnh gan mạn tính, bệnh ung thư, hoặc
viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp. Đôi khi sự phân biệt giữa sảng cấp và
bán cấp về lâm sàng là ít thỏa đáng; chỉ nên xem là một hội chứng nhất nguyên
có độ kéo dài biến đổi, và có mức độ trầm trọng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng.
Một trạng thái sảng có thể bị thêm chứng mất trí hoặc tiến triển tới mất trí.
Không nên chẩn đoán loại này cho các trạng thái sảng liên quan đến việc
sử dụng các thuốc tác động tâm thần được biệt định ở mục F10 - F19.
Các trạng thái sảng do dùng thuốc (như trạng thái lú lẫn cấp ở người già
do thuốc chống trầm cảm) nên được ghi mã ở đây. Trong các trường hợp như
vậy các thuốc có liến quan nền được ghi bởi mã T thêm vào trong chương XIX
của ICD-10.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Để chẩn đoán xác định, các triệu chứng, nhẹ hoặc nặng, phải có ở mỗi
một lĩnh vực trong các lĩnh vực sau:
(a) Tật chứng về ý thức và sự chú ý (đi từ mù mờ đến hôn mê; giảm khả
năng định hướng tập trung, duy trì và thay đổi sự chú ý).
nhất thời (F23-); với các trạng thái cấp của tâm thần phân liệt (F20-) hoặc rối
loạn khí sắc (cảm xúc) (F30 - F39) trong đó những nét lú lẫn có thể xuất hiên.
Sảng do rượu và các chất tác động tâm thần khác nên được xếp loại ở mục
thích hợp hơn (F1x.4).
F05.0 Sảng, không gối lên mất tri, như đã mô tả.
Mục này để ghi mã cho trạng thái sảng không gối lên mất trí đã có trước.
F05.1 Sảng gối lên mất trí.
Dùng mã này đối với các trạng thái thỏa mãn các tiêu chuẩn trên, nhưng
phát triển trong quá trình mất trí (FOO - F03).
F05.3 Sảng khác.
Bao gồm: Sảng căn nguyên hỗn hợp
Trạng thái lú lẫn bán cấp hoặc sảng.
F05.4 Sảng, không biệt định.
F06. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN KHÁC DO TỔN THƯƠNG VÀ RỐI
LOẠN CHỨC NĂNG NÃO VÀ BỆNH LÝ CƠ THỂ.
Mục này bao gồm những trạng thái bệnh hỗn tạp có liên quan về nguyên
nhân với loạn chức năng não do bệnh não nguyên phát, do bệnh hệ thống tác
động thứ phát đến não, do các rối loạn nội tiết như trong hội chứng Cushing
hoặc các bệnh cơ thể khác, và do một số chất độc ngoại lai (loại trừ rượu và ma
túy đã được xếp loại ở mục F10 - F19) hoặc các chất nội tiết. Những trạng thái
này có các nét lâm sàng chung là tự chúng không cho phép làm một chẩn đoán
có căn cứ về một rối loạn tâm thần thực tổn, như là sảng hoặc mất trí. Hơn nữa,
các biểu hiện lâm sàng lại giống hoặc đồng nhất với những rối loạn của những
bệnh không xem như “thực tổn” theo nghĩa đặc thù hẹp của phần này trong bảng
phân loại. Sơ dĩ chúng được xếp ở đây là căn cứ trên giả thuyết rằng chúng trực
tiếp gây ra do một bệnh não hoặc rối loạn chức năng não hơn là do sự kết hợp