Quản lý nhà nước về hộ tịch - Lý luận, thực trạng và phương hướng đổi mới - Pdf 41

I HC QUC GIA H NI

Qun lý nh nc v h tch - Lý lun, thc trng v phng hng i mi

Phm Trng Cng
Khoa Lut Nm 2003

Lời nói đầu

Quản lý dân c- là một trong những lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia, dù ở
bất kỳ chế độ chính trị nào với trình độ phát triển nào cũng đều quan tâm. Để quản lý dân c-, mỗi quốc
gia có những ph-ơng thức quản lý khác nhau nh-ng đều h-ớng đến mục đích quản lý một cách đầy đủ,
kịp thời, chính xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân. ở n-ớc ta, quản lý hộ tịch
đ-ợc xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân c-. Quản lý hộ tịch tốt là cơ sở để Nhà
n-ớc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và tổ chức thực
hiện có hiệu quả các chính sách đó. Mặt khác, thông qua quản lý hộ tịch Nhà n-ớc mới có thể bảo vệ một
cách tốt nhất những quyền nhân thân cơ bản của công dân đã đ-ợc ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật
Dân sự. Đăng ký hộ tịch là hoạt động thể hiện một cách tập trung, sinh động mối quan hệ giữa Nhà n-ớc
và công dân. ở ph-ơng diện này có thể thấy quản lý hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động thể hiện sâu sắc
chức năng xã hội của Nhà n-ớc.
Song hành cùng quá trình hình thành và phát triển của nền hành chính quốc gia, đến nay hoạt
động quản lý hộ tịch ở n-ớc ta đã trải qua hơn 50 năm phát triển. Tuy nhiên, do bị chi phối bởi nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan nh-: đặc điểm lịch sử, truyền thống, tập quán, chế độ chính trị, pháp lý, trình
độ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội - khoa học - công nghệ, nhận thức của ng-ời dân... nên hiện nay
lĩnh vực quản lý hộ tịch của n-ớc ta còn nhiều điểm bất cập, ch-a đáp ứng yêu cầu bức xúc mà thực tiễn
của sự nghiệp xây dựng nền một hành chính phục vụ năng động, hiệu quả, hiện đại đã và đang đặt ra.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nói trên là do pháp luật về quản lý hộ tịch của n-ớc ta còn chậm đổi
mới, cơ chế hoạt động còn nhiều bất hợp lý, nhiều quy định vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế hành chính
quan liêu, lạc hậu.
Sau hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hiện nay đất n-ớc đang b-ớc vào một giai đoạn
phát triển mới mà trong đó, vấn đề xây dựng một nền hành chính dân chủ, hiệu quả, hiện đại đang đặt ra

I.1. Khái niệm hộ tịch
Tr-ớc hết cần khẳng định việc tìm hiểu, xây dựng về mặt khoa học nội hàm của khái niệm hộ tịch
là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để làm rõ khái niệm này, theo chúng tôi cần tìm hiểu nó theo
các chiều cạnh d-ới đây:
Thứ nhất, cần tìm hiểu ngữ nghĩa của từ hộ tịch từ góc độ ngôn ngữ học;
Thứ hai, nghiên cứu khái niệm hộ tịch với tính cách là một khái niệm khoa học pháp lý và quản
lý. Để làm rõ đ-ợc khái niệm này, cần có sự so sánh, tìm hiểu những cách quan niệm khác nhau ở trong
n-ớc cũng nh- những khái niệm t-ơng ứng của khoa học pháp lý n-ớc ngoài; đồng thời cũng cần có sự so
sánh, phân biệt giữa khái niệm hộ tịch với khái niệm hộ khẩu vốn là những khái niệm hiện nay
th-ờng bị sử dụng nhầm lẫn với nhau rất phổ biến.
Về mặt ngôn ngữ, hộ tịch là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố hộ
và tịch, trong đó tịch là thành tố chính. Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ
chỉ khái niệm trừu t-ợng [2, tr.211]. Nếu tìm hiểu riêng rẽ từng thành tố thì có thể thấy các từ điển tiếng
Việt hiện nay khá thống nhất cách hiểu về từng từ đơn này. Theo đó, từ hộ khi sử dụng là danh từ có


nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong đó có một nghĩa là đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng
ăn ở với nhau. Tương tự, từ tịch có nghĩa là sổ sách hoặc là sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc. Tuy
nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành từ danh từ hộ tịch lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn
ngữ, và đ-ợc sử dụng với thuộc tính là kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ
ngữ) [36, tr.9]. Chính do tính chất đặc biệt ấy nên hiện nay, nếu khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì có
thể thấy có rất nhiều cách giải nghĩa từ hộ tịch rất khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ:

Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng ký c- dân trong địa ph-ơng mình
theo từng hộ (Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ năm, NXB Đà
Nẵng, 1998);
Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của
pháp luật (Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Nh- ý chủ biên, NXB Văn hoá Thông tin, 1998);
Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của
pháp luật (khai sinh, khai tử, kết hôn, tiền án, tiền sự, nhân khẩu) (Từ điển Hán cổ

nh- những cách định nghĩa tham khảo từ khoa học pháp lý n-ớc ngoài. Việc tìm hiểu những quan niệm
khác nhau về khái niệm này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi vì theo quan điểm của chúng tôi, chỉ có thể
xây dựng một định nghĩa mới về hộ tịch và định nghĩa này chỉ được chấp nhận khi nó tiếp thu, phản ánh
đ-ợc những khía cạnh truyền thống, đồng thời, cũng tiệm cận với quan điểm, xu h-ớng của khoa học pháp
lý hiện đại.
Quan niệm của các luật gia Việt Nam thời kỳ tr-ớc 1975
ở nước ta, khái niệm hộ tịch lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại
học Luật khoa Sài Gòn d-ới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả
sau:
Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm hộ tịch trong cuốn tài
liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 nh- sau:

Hộ tịch còn gọi là nhân thế bộ là cách sinh hợp pháp của một công dân
trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện t-ợng quan trọng nhất
của con người: sinh, giá thú và tử (Phan Văn Thiết, Hộ tịch chỉ nam, Tủ sách phổ
thông, in lần thứ nhất, 1958)
Các tác giả Vũ Văn Mẫu Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm hộ
tịch:


Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch
gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử (Vũ Văn Mẫu, Lê
Đình Chân Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật, Tủ sách Đại học Sài Gòn,
1968)
Tác giả Trần Thúc Linh, người đã dày công biên soạn cuốn Danh từ pháp luật lược giải vốn
đ-ợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên đ-ợc biên soạn một cách khá kỹ
lưỡng, toàn diện không đưa ra định nghĩa về khái niệm hộ tịch mà chỉ đưa ra định nghĩa về khái niệm
chứng thư hộ tịch. Tuy nhiên, khái niệm chứng thư hộ tịch của Trần Thúc linh đã hàm chứa trong nói
khái niệm về hộ tịch:
Chứng th- hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân

6. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt
Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994.
7. Phạm Mạnh Doanh, Đây Toà án, Hộ tịch cẩm nang, Tủ sách Phổ thông, Sài Gòn,
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001.
9. Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép n-ớc, NXB Pháp lý, Hà Nội, 1985.
10. Nguyễn Sỹ Giác, Lê triều chiếu lịnh thiện chính, Vũ Văn Mẫu đề tựa, Nhà in Bình Minh, Sài Gòn,
1961, trang 127.
11. Trần Minh H-ơng (chủ biên), Giáo trình Luạt hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà nội,
1998.
12. Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên), Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành ở Việt Nam, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2001.
13. Bùi Quang Khánh, Hành chánh địa ph-ơng, in lần thứ nhất, Nhà in Thái H-ng, Sài gòn, 1963.
14. Bùi Quang Khánh, L-ơng Thọ Phát, Các vấn đề th-ờng thức tại xã, ấp, Nhà in Rạng Đông, Sài gòn,
1971
15. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn hoá Thông tin, Hà nội, 1999.
16. Nguyễn Thị Hồng Liên, Quản lý hộ tịch ở thành phố Hồ Chí Minh (luận văn Cao học), 1996.
17. Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật l-ợc giải, Nhà sách Khai trí, Sài gòn, 1965.
18. Trần Đức Lương, Đổi mới: Sự lựa chọn cách mạng nhằm mục tiêu phát triển của Việt Nam, Tạp chí
Cộng sản, số 4+5/2002.
19. Luật tục Êđê (tập quán pháp), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
20. Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Danh từ & tài liệu dân luật và hiến luật, Tủ sách Đại học Sài gòn, Sài
gòn, 1968;
21. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, quyển thứ nhất, tập hai, Sài Gòn, 1975.
22. Nhà Pháp luật Việt Pháp, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân bằng luật dân sự, (kỷ yếu
Hội thảo), Hà nội, 1998.
23. Đào Trí úc (chủ biên), Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật, NXb Chính trị Quốc
gia, 1995.




III. Tiếng Đức
42. Horst Tinch, Từ điển thuật ngữ pháp lý Đức, tập 2, xuất bản lần thứ hai, NXB C.H.BECK, 1992.














Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status