Quản lý nhà nước về chứng thực thực trạng và phương hướng đổi mới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


CHU THỊ TUYẾT LAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thất
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN


Ở VIỆT NAM 15
2.1. Hệ thống cơ quan thực hiện chứng thực, quản lý chứng thực 15
2.1.1 Cơ quan thực hiện chứng thực 15
2.1.2. Cơ quan quản lý chứng thực 16
2.2. Phương thức thực hiện chứng thực 30
2.2.1. Một số thủ tục chứng thực 30
2.3. Cán bộ, công chức Tư pháp hộ tịch 38
2.4.Thực tiễn công tác chứng thực 39
2.5. Đánh giá hiệu quả quản lý chứng thực 45
2.5.1. Những kết quả đạt được 45
2.5.2. Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về chứng thực 56
2.6. Yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý chứng thực 64
Chương 3: ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC 66
3.1. Quan điểm đổi mới trong quản lý chứng thực 66
3.2. Các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về chứng thực 68
3.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý nhà nước về chứng thực 68
3.2.2. Hoàn thiện quy định của pháp luật về chứng thực 70
3.2.3. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đưa quy định tiến bộ của pháp luật
chứng thực vào cuộc sống 73
3.2.4. Cần có quy định cán bộ Tư pháp hộ tịch xác nhận ký chứng thực,
tiêu chuẩn điều kiện, chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác
chứng thực, giúp việc thực hiện chứng thực 77
3.2.5. Đẩy mạnh việc chuyển giao các giao dịch hợp đồng sang các tổ
chức hành nghề công chứng 79
3.2.6.Từng bước xã hội hóa hoạt động chứng thực 81
3.2.7. Cần thống nhất áp dụng đối với việc thu lệ phí thực hiện chứng thực . 82
3.2.8. Tăng cường trách nhiệm thanh tra, kiểm tra phối hợp trong quản lý
nhà nước về chứng thực 84

cứu thực trạng về chứng thực, qua đó phát hiện ra hạn chế, tồn tại, bất cập để
từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp góp phần đổi mới, hoàn thiện
QLNN về chứng thực. Xuất phát từ lý do trên nên tác giả đã mạnh dạn lựa
chọn "Quản lý nhà nước về chứng thực thực trạng và phương hướng đổi
mới" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tính hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một cách
toàn diện, đầy đủ về thực trạng và phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả
trong quản lý nhà nước (QLNN) về chứng thực. Trước đây, chưa chấm dứt
thẩm quyền của Phòng công chứng đối với những việc thuộc thẩm quyền

2
chứng thực của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã. Đồng thời, do có sự lẫn
lộn, trùng lặp giữa hai hoạt động công chứng, chứng thực. Trên thực tế đa số
người dân có nhu cầu công chứng, chứng thực thường đổ dồn về các phòng
công chứng gây ra tình trạng quá tải. Nhiều người cho rằng việc công chứng
ký an tâm, giá trị pháp lý cao hơn so với việc chứng thực. Hậu quả tất yếu là
một số nơi xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, nạn cò mồi. Sau khi Luật Công
chứng ra đời, cùng với đó là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007
của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79) được ban hành Phòng
công chứng không còn thẩm quyền đối với những việc chứng thực của UBND
cấp xã, Phòng Tư pháp (PTP) cấp huyện. Đồng thời phân biệt rõ thẩm quyền
của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện hai loại hoạt động: công chứng,
chứng thực. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính
xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của tổ
chức hành nghề công chứng. PTP cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền
chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký đó là hoạt động
xác nhận hình thức. Như vậy, hoạt động về công chứng, chứng thực đã được
phân định, cũng như phân định rõ thẩm quyền của tổ chức hành nghề công

Bản thân người nghiên cứu cũng mong muốn qua việc viết luận văn sẽ
có điều kiện để tìm hiểu, nghiên cứu phục vụ tốt hơn cho công việc. Tác giả
cũng có bài viết liên quan về chứng thực với tiêu đề:“ Tháo gỡ hệ lụy trong
công tác chứng thức” đăng trên báo pháp luật Việt Nam ngày 18/08/2011.
Bản thân người viết chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về chứng thực thực
trạng và phương hướng đổi mới ” làm luận văn tốt nghiệp ngoài mong muốn
công trình nghiên cứu phục vụ tốt cho chuyên môn nghề nghiệp của mình.
Đồng thời người nghiên cứu cũng có nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ

4
công sức trong việc đề xuất các phương hướng, giải pháp để góp phần hoàn
thiện hơn công tác QLNN về chứng thực.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ nâng cao hiệu quả quản lý chứng thực trong giai đoạn hiện nay. Luận
văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy
và đào tạo cho cán bộ Tư pháp.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, nội dung và kết luận. Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về chứng thực
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chứng thực
Chương 3: Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chứng thực

cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục
và các văn bản đơn giản khác. Trong đó, chứng thực chữ ký chỉ được chứng
thực bởi công chứng viên biết chữ ký hoặc lấy được chữ ký đó; Công chứng
viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây phương hại
đến việc hành nghề của mình.

6
Quy định của pháp luật Việt Nam: tại Điều 19 Nghị định số 31/CP có
quy định về thẩm quyền chứng thực:
“UBND quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp
luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được
quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định này. UBND xã, phường, thị
trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác
do pháp luật quy định” [26, tr. 5-6].
Đồng thời Nghị định này cũng có quy định thẩm quyền chứng nhận của
Phòng công chứng Nhà nước về công chứng, tuy nhiên thẩm quyền về Phòng
công chứng Nhà nước bao gồm cả chứng thực của UBND cấp huyện nên
chưa có phân định rõ. Sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số
75) tại Điều 2 quy định về công chứng, chứng thực:
“Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của
hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân
sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác gọi là hợp đồng, giao dịch và
thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này. Chứng thực là việc
UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ
ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của
họ theo quy định của Nghị định này ”[27, tr. 1-2].
Nghị định số 75 có định nghĩa về công chứng và chứng thực. Tuy nhiên
trên thực tế chưa có sự phân định rõ ràng, chưa chấm dứt thẩm quyền chứng
thực của Phòng công chứng đối với việc chứng thực của UBND cấp huyện, cấp

nhà nước và công nghệ hành chính):“ Quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm
tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối
tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người,

8
nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã
định”[49, tr. 5]. Như vậy, nếu như quản lý là sự tác động có mục đích của chủ
thể quản lý đối với các đối tượng quản lý thì QLNN là hoạt động của các chủ
thể mang quyền lực, bằng pháp luật tác động tới các đối tượng quản lý nhằm
thực hiện những chức năng nhất định. Trong đó quản lý hành pháp là hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động này được thực hiện trước hết
và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước.Theo giáo trình Luật hành
chính Việt Nam:
“Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà
nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà
nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ
quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và
thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá- xã hội và hành chính-
chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành
- điều hành của nhà nước”[ 48, tr.13].
Cũng theo tài liệu này về quản lý hành chính nhà nước này:
“Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp
của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp
luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để
thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, nhằm duy trì và phát
triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật thoả mãn các nhu cầu hợp
pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[48, tr. 8].
Thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Cơ quan thực hiện quản lý hành chính nhà nước là hệ

hiện QLNN được tốt đòi hỏi hoạt động quản lý trong tất cả các lĩnh vực cần

10
đồng bộ. Cơ quan giúp Chính phủ thực hiện công tác QLNN về chứng thực là
BTP. Đó là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện
QLNN về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký. BTP có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc ban hành hoặc trình cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chỉ đạo,
hướng dẫn tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản
sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Ngoài ra, BTP thực hiện công tác tổng
kết, báo cáo Chính phủ về công tác QLNN về chứng thực.
Trong quá trình thực hiện QLNN về chứng thực, ngoài sự phục tùng của
cấp dưới đối với cấp trên, quản lý hành chính nhà nước còn thể hiện sự phân
cấp quản lý. Sự phân cấp quản lý chuyển giao thẩm quyền cho cấp dưới nhằm
tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy sự chủ động, sáng tạo hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Sự phụ thuộc hai chiều trong quản lý hành chính, ở Trung
ương: Chính phủ, BTP. Tại địa phương cấp tỉnh UBND cấp tỉnh, STP; cấp
huyện UBND cấp huyện, PTP; cấp xã: UBND cấp xã, banTư pháp xã. Sự phụ
thuộc theo chiều ngang trong lĩnh vực chứng thực, tạo điều kiện cần thiết cho
cấp dưới phát huy thế mạnh của địa phương nhằm hoàn thành nhiệm vụ cấp
trên đã giao phó. Mối quan hệ phụ thuộc dọc giúp cho cấp trên có thể tập trung
quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động cấp dưới, tạo nên hoạt động chung
thống nhất. Quan hệ phụ thuộc hai chiều trong quản lý chứng thực của cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích
chung với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích địa phương.
1.3. Quy phạm pháp luật về chứng thực
1.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chứng thực
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về
công chứng, chứng thực.

12
nước ngoài, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước
ngoài. Nghị định số 79 chưa phân cấp cho PTP cấp huyện được quyền chứng
thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và chứng thực chữ
ký trong giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt đây là hạn chế của Nghị định số 79
dẫn đến bất tiện cho công dân khi đi chứng thực bản sao, chữ ký bằng tiếng
Việt thì phải đến 2 cấp thẩm quyền khác nhau để được giải quyết. Bản thân
tác giả cũng có bài báo viết về tháo gỡ hệ lụy trong công tác chứng thực đối
với bất cập trên. Sau khi có vướng mắc trên ngày 20-1-2012, Chính phủ đã
ban hành Nghị định 04/2012/NĐ-CP (Nghị định 04) sửa đổi, bổ sung Điều 5
Nghị định số 79 PTP được bổ sung thêm quyền chứng thực bản sao từ bản
chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy
tờ, văn bản bằng tiếng Việt. Nghị định bổ sung thêm thẩm quyền trên nhằm
tạo thuận lợi cho công dân khi có nhu cầu không phải đến hai cơ quan có
thẩm quyền khác nhau để chứng thực. Đối với việc cấp bản sao từ sổ gốc theo
quy định tại Điều 4 Nghị định số 79 thuộc trách nhiệm của cơ quan đang quản
lý sổ gốc, riêng đối cấp bản sao từ sổ gốc các giấy tờ hộ tịch được thực hiện
theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005
của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Về thẩm quyền chứng thực Cơ
quan đại diện ngoại giao được quyền chứng thực bản sao từ bản chính các
giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký
trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài; chữ ký
người dịch trong các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.
Tại Việt Nam, đối với việc chứng thực UBND cấp xã thì Chủ tịch hoặc
Phó Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định về
thẩm quyền. Công chức Tư pháp hộ tịch xã, phường thị trấn giúp Chủ tịch hoặc
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thực hiện chứng thực. Theo quy định của pháp

13

- Bản chính đã bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt hoặc đã bị hư hỏng, cũ
nát không thể xác định rõ nội dung.
- Bản chính không được phép phổ biến trên các phương tiện thông tin
đại chúng theo quy định của pháp luật.
- Đơn, thư và các giấy tờ do cá nhân tự lập không có chứng nhận,
chứng thực hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Các giấy tờ, văn bản khác mà pháp luật quy định không được sao.
+ Trách nhiệm của người thực hiện việc chứng thực:
- Thực hiện việc chứng thực một cách trung thực, khách quan, chính
xác; đáp ứng đủ số lượng bản sao theo yêu cầu của người yêu cầu chứng thực.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chứng thực.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin
cần thiết cho việc xác minh tính hợp pháp của các giấy tờ, văn bản được yêu
cầu chứng thực.
- Lập biên bản tạm giữ giấy tờ, văn bản có dấu hiệu giả mạo; phối hợp
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý các trường hợp sử dụng
giấy tờ giả mạo.
- Trong trường hợp từ chối chứng thực, người thực hiện chứng thực
phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu chứng thực; nếu việc chứng thực
không thuộc thẩm quyền của cơ quan mình thì hướng dẫn họ đến cơ quan
khác có thẩm quyền.
Pháp luật hiện hành của Việt Nam có những quy định cụ thể về chứng
thực, các quy định của pháp luật đang dần ngày càng hoàn thiện. Để nâng cao
hiệu quả QLNN về chứng thực cần có bức tranh khái quát về thực trạng quản
lý chứng thực ở Việt Nam.

15
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHỨNG THỰC Ở VIỆT NAM


trình quản lý nhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt động chứng thực
làm cho quá trình này diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và đặt mục đích
nhất định. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất trong việc
thống nhất QLNN. Nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ được quy định tại
Khoản 4, Điều 18 Luật về tổ chức chính phủ năm 2001 “Thống nhất quản lý
công tác hành chính tư pháp, các hoạt động về luật sư, giám định tư pháp,
công chứng và bổ trợ tư pháp, tổ chức và quản lý công tác thi hành án, quốc
tịch, hộ khẩu, hộ tịch” [29, tr. 11]. Với vị trí pháp lý là cơ quan đứng đầu hệ
thống hành pháp, có quyền quyết định tối cao đối với việc giải quyết mọi vấn
đề thuộc địa hạt quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc.
Về hệ thống tổ chức quản lý chứng thực của nước ta có sự tham gia của mọi
cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở, có cả chủ thể quản lý ở trong nước
và ở nước ngoài. Hệ thống cơ quan có thẩm quyền chung Chính phủ và
UBND các cấp và hệ thống cơ quan chuyên môn của ngành Tư pháp và ngành
ngoại giao, thể hiện sự phân cấp hợp lý, bảo đảm cho quan hệ phối hợp ngang
cấp và quan hệ chỉ đạo, chấp hành.
2.1.2.1. Quản lý nhà nước về chứng thực trước khi có Luật công chứng và
Nghị định 79/2007/NĐ-CP
Trước khi có Luật công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP ra đời
chưa có sự phân định rõ hoạt động công chứng và chứng thực. Cụ thể có thể
phân chia các giai đoạn phát triển như sau:
Giai đoạn từ năm 1945-1954: Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời ngày 15/11/1945. Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh 59/SL, ấn định

17
thể lệ việc thị thực các giấy tờ với nội dung trình tự thủ tục thị thực giấy tờ
cho công dân trong giao lưu dân sự như mua bán, trao đổi, chứng nhận địa chỉ
cụ thể của một người tại địa phương. Việc áp dụng Sắc lệnh trên chủ yếu xác
nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự. Tại Điều
thứ nhất quy định:

143/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Tư pháp ban hành. Trên cơ sở của Nghị định 143/HĐBT, BTP có
Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 quy định về công tác công chứng
nhà nước quy định:
“Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước nhằm giúp công
dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp
pháp hóa các văn kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực
hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù
hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp
được thuận lợi góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[4, tr. 1].
Thông tư có nội dung quy định trách nhiệm của BTP quản lý thống
nhất công tác công chứng nhà nước. Hệ thống cơ quan theo ngành dọc là STP,
có nhiệm vụ giúp BTP và UBND tỉnh, Thành phố, đặc khu trực thuộc trung
ương quản lý tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở địa phương mình.
Trong văn bản pháp lý về hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về công chứng
được kế thừa cho đến tận thời điểm này thể hiện việc QLNN đối với hoạt
động công chứng được giao cho cơ quan BTP và UBND tỉnh, thành phố.
Giai đoạn từ năm 1990-2006: ngày 27/02/1991 Hội đồng Bộ trưởng
ban hành Nghị định số 45/1991/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt

19
động công chứng nhà nước. Về việc QLNN về công chứng về cơ bản được kế
thừa quy định BTP quản lý thống nhất về tổ chức và hoạt động công chứng
trong phạm vi cả nước. Tại Điều 10 của Nghị định số 45/HĐBT quy định
“UBND tỉnh, Thành phố đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản
lý công chứng ở địa phương mình. Giám đốc STP giúp UBND tỉnh thực hiện
các nhiệm vụ nói trên ”[51, tr. 3]. Như vậy, theo Nghị định số 45/HĐBT thì
hệ thống các cơ quan quản lý công chứng được xác định theo hai cấp: ở Trung

BTP quy định thống nhất về ban hành các mẫu văn bản công chứng và các
mẫu sổ công chứng trong phạm vi cả nước. Nếu như theo Nghị định số
45/HĐBT việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên giao cho Chủ tịch
UBND tỉnh thực hiện thì Nghị định 31/CP giao cho BTP theo đề nghị của
giám đốc Sở nhằm chuyên môn hoá hoạt động công chứng. BTP quy định
thống nhất về ban hành các mẫu văn bản công chứng và các mẫu sổ công
chứng trong phạm vi cả nước.
Ngày 08/12/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
thay thế Nghị định 31/CP. Theo đó Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN về
công chứng, chứng thực trong phạm vi cả nước cụ thể:
*/ Cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quyền hạn trên chính là
Bộ tư pháp nhiệm vụ quyền hạn như:
- Soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về công chứng, chứng thực và ban hành theo thẩm quyền văn bản
hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài việc tham mưu cho
cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản trong phạm vi mình quản lý thì BTP
ban hành văn bản hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền của mình:
+ Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/03/2001 của Bộ Tư pháp về

Trích đoạn Quan điểm đổi mới trong quản lý chứng thực Hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý nhà nước về chứng thực Hoàn thiện quy định của pháp luật về chứng thực Đẩy mạnh cải cách hành chính, đưa quy định tiến bộ của pháp luật Cần có quy định cán bộ Tư pháp hộ tịch xác nhận ký chứng thực,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status