Quản lý nhà nước về chứng thực qua thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY DUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHỨNG THỰC
- QUA THƢ̣C TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ ĐỨC ĐÁN

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thùy Dung


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHỨNG THỰC
– QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...........................................33
2.1

Thực trạng các quy định pháp luật về chứng thực ở Việt Nam ..............33

2.1.1 Các giai đoạn hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về
chứng thực ......................................................................................................33


2.1.2 Những ƣu điểm của các quy định pháp luật về chứng thực ...........................36
2.1.3. Những hạn chế của các quy định pháp luật về chứng thực ............................42
2.2

Thực trạng quản lý nhà nước về chứng thực tại thành
phố Hà Nội ...................................................................................................45

2.2.1 Những yếu tố ảnh hƣớng đến hoạt động quản lý nhà nƣớc về chứng
thực tại Hà Nội ...............................................................................................45
2.2.2 Hoạt động quản lý nhà nƣớc về chứng thực tại thành phố Hà Nội hiện nay .......48
2.3.

Những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nƣớc về chứng thực ..............62

2.3.1 Tồn tại, hạn chế chung ...................................................................................62
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nƣớc về chứng thực tại địa
bàn thành phố Hà Nội ....................................................................................64
2.4

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế làm giảm hiệu lực, hiệu

Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về chứng thực tại Việt
Nam hiện nay ................................................................................................87

3.3.1 Giải pháp chung .............................................................................................87
3.3.2 Giải pháp riêng đối với Hà Nội ......................................................................91
KẾT LUẬN ............................................................................................................100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................103


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Hà Nội:

Thành phố Hà Nội

UBND huyện: UBND quận (huyện, thị xã)
UBND tỉnh:

UBND tỉnh (thành phố trực thuộc trung ƣơng

UBND xã:

UBND xã (phƣờng, thị trấn)

UBND:

Ủy ban nhân dân

quyền cho các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng có thẩm quyền thực
hiện các thủ tục về công chứng hợp đồng, giao dịch; còn hoạt động chứng thực
do UBND cấp huyện, UBND cấp xã thực hiện. Nhƣ vậy với quy định trên cá
nhân, tổ chức có thể tùy ý lựa chọn cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực
hiện các thủ tục chứng thực mà không bị phụ thuộc vào sự phân chia địa giới
hành chính nhƣ trƣớc đây và giảm bớt đƣợc thời gian đi lại.
Mốc quan trọng đánh dấu sự phân chia thẩm quyền và tách bạch về cơ sở pháp
lý cũng nhƣ nhận thức pháp luật của hoạt động công chứng và chứng thực là sự ra đời

1


của Nghị định 75/2000/CP về công chứng, chứng thực. Tiếp sau đó là sự ra đời của
Luật công chứng năm 2006 đƣợc coi là văn bản bƣớc ngoặt trong quá trình hoàn
thiện hệ thống công chứng ở Việt Nam và Nghị định 79/2007/NĐ – CP (đƣợc sửa
đổi, bổ sung bằng Nghị định số 04/2012/NĐ-CP, về việc sửa đổi, bổ sung điều 5 của
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ
gốc, chứng thực bản sao từ bản chính. Theo đó hoạt động công chứng thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật công chứng 2006, hoạt động chứng thực thuộc phạm vi điều
chỉnh của Nghị định 79/2007/NĐ – CP và một phần của Nghị định 75/2000/NĐ – CP.
Nhƣ vậy chúng ta thấy Đảng, Nhà nƣớc ta luôn quan tâm đến hoạt động công chứng,
chứng thực đặc biệt trong quá trình thực hiện Chƣơng trình cải cách tổng thể nền
hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2011-2020 và Chƣơng trình cải cách tƣ pháp đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của Việt Nam hiện nay.
Hà Nội là Thủ đô của nƣớc CHXNCN Việt Nam, là một trong những trung
tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội lớn nhất của cả nƣớc. rong nền kinh tế thị
trƣờng, hội nhập kinh tế quốc tế với định hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền thì
quản lý nhà nƣớc về hoạt động chứng thực luôn đƣợc quan tâm.Việc nghiên cứu
quản lý nhà nƣớc về chứng thực tại thành phố Hà Nội là một nội dung có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn. Với nhận thức sâu sắc tầm quan

nhất về cơ sở lý luận về hoạt động chứng thực cũng nhƣ hoạt động quản lý nhà
nƣớc về chứng thực. Tuy nhiên chƣa có công trình nghiên cứu, luận văn, bài viết
nào đã công bố về quản lý nhà nƣớc về chứng thực thông qua thực tiễn thành phố
Hà Nội trong bối cảnh nƣớc ta đang thực hiện Chƣơng trình cải cách tổng thể nên
hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2011 – 2020, Chƣơng trình cải cách tƣ pháp,
Chƣơng trình 08/Ctr của Thành ủy Hà Nội ngày 18/10/2011 về “Đẩy mạnh cải cách
hành chính, nâng cao trách nhiệm và chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức giai đoạn 2011 – 2015.”
Với đề tài “ Quản lý nhà nước về chứng thực – Qua thực tiễn thành phố Hà
Nội” đƣợc coi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nƣớc về
chứng thực tại địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh mới. Trên cơ sở nghiên cứu
thực trạng, đề tài đƣa ra những giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về chứng
thực phù hợp với yêu cẩu của thực tiễn Hà Nội hiện nay.

3


3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những
vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nƣớc về chứng thực thông qua thực tiễn
Thành phố Hà Nội. Luận văn nghiên cứu các hệ thống văn bản qui phạm pháp luật
nói chung và của UBND thành phố Hà Nội nói riêng điều chỉnh hoạt động chứng
thực trên quan điểm đổi mới, phù hợp với tình hình của thực tiễn.Thông qua đó luận
văn đƣa ra những thành tựu, hạn chế trong quản lý nhà nƣớc về chứng thực của Việt
Nam nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng và đƣa ra các giải pháp nhằm
khắc phục những hạn chế đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quát hoạt động quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực chứng thực
tại Việt Nam nói chung và tại địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng trên các mặt xây
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật từ năm

ở Việt Nam nói chung và ở địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng từ năm 2007 đến
nay. Đồng thời đề xuất những giải pháp cơ bản, toàn diện nhàm tăng cƣờng quản lý
nhà nƣớc về chứng thực.
7. Bố cục
Ngoài phần mục lục, mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
chia làm 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nƣớc về chứng thực.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về chứng thực - qua thực tiễn tại Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về chứng thực.

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHỨNG THỰC
1.1 Những vấn đề cơ bản chung về chứng thực
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của chứng thực
Thuật ngữ “công chứng”, “chứng thực” xuất phát từ thuật ngữ Notariat (tiếng
Pháp, Đức,...) hay Notary (tiếng Anh), đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi
chép. Trong thời cổ đại ngƣời ta chỉ sử dụng thuật ngữ “công chứng” mà chƣa có sự
tách bạch. Phải đến thời hiện đại thuật ngữ “chứng thực” mới đƣợc hình thành và
tách bạch với thuật ngữ “công chứng. Tại Việt Nam đến năm 2000 với việc ban
hành Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực
(sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000 NĐ - CP) thì mới có sự phân biệt giữa 2
thuật ngữ “công chứng” và “chứng thực”. Theo đó “chứng thực là việc Ủy ban
nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký
của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo
quy định.”[22, Điều 2].
Nhƣ vậy theo quy định của Nghị định số 75/2000/ NĐ – CP, hoạt động
chứng thực gồm:

giao dịch dân sự).
Nghị định 79/2007/NĐ – CP không điều chỉnh hoạt động chứng thực các hợp
đồng, giao dịch. Hoạt động chứng thực hợp đồng giao dịch đƣợc quy định theo Luật
Đất đai 2003 và các văn bản hƣớng dẫn; Luật Nhà ở năm 2005 và các văn bản
hƣớng dẫn; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2009 về cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất (sau đây gọi tắt là Nghị định số 88/2009/NĐ - CP) quy định cụ thể các loại hợp
đồng, giao dịch mà UBND cấp xã, phƣờng, thị trấn đƣợc chứng thực.
Nhƣ vậy nếu quy định thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp bao gồm
cả hoạt động chứng thực giao dịch, hợp đồng thì vô hình chung đã chồng chéo với
hoạt động công chứng thuộc thẩm quyền của Phòng công chứng và Văn phòng
công chứng. Bởi bản chất của hoạt động công chứng là xác thực tính hợp pháp của
hợp đồng, giao dịch, thẩm quyền này đƣợc trao cho các phòng công chứng. Nhận
thức đƣợc sự chồng chéo đó nên Nghị định số 88/2009/NĐ-CP quy định UBND

7


cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công
chứng ở địa phƣơng để đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất; xem xét,
quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà UBND cấp
huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn cấp
huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng đƣợc yêu cầu công chứng... Ở
những địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng đƣợc yêu cầu
công chứng và có quyết định của UBND cấp tỉnh về việc chuyển giao việc chứng
thực các hợp đồng, giao dịch mà UBND huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ
chức hành nghề công chứng thì UBND huyện, cấp xã nơi đó không thực hiện
chứng thực các hợp đồng, giao dịch.
Tại Thông tƣ số 03/2008/ TT – BTP ngày 25/8/2008 về Hƣớng dẫn thi

quan công quyền, do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chứng thực sao y bản chính,
sao từ sổ gốc, chứng thực chữ ký, chứng thực giao dịch,hợp đồng và chịu trách
nhiệm về tính xác thực của văn bản theo quy định của pháp luật.
Theo nghĩa hẹp: Chứng thực là hoạt động mang tính chất hành chính do cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền chứng thực và chịu trách nhiệm về tính xác thực của
việc sao y từ bản chính, sao y từ sổ gốc và chứng thực chữ ký trong các giấy tờ liên
quan đến bản thân ngƣời yêu cầu chứng thực. Trong phạm vi đề tài này chỉ xem xét
thuật ngữ chứng thực ở phạm vi hẹp. Bởi hiện nay tại địa bàn Hà Nội với số lƣợng
Phòng công chứng và Văn phòng công chứng nhiều nhất cả nƣớc đã phân bổ ở rộng
khắp các đơn vị hành chính. Hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch tại UBND
cấp xã tại thành phố Hà Nội rất hiếm khi đƣợc thực hiện.
Đặc điểm của hoạt động chứng thực là:
Một là hoạt động mang tính chất hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện
Hoạt động chứng thực phải do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực
hiện là UBND cấp huyện, UBND cấp xã các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nƣớc
ngoài thực hiện mà không thể ủy quyền cho bất cứ cơ quan nào khác. Không giống
nhƣ hoạt động công chứng có thể ủy quyền cho một cơ quan khác không mang tính
quyền lực nhà nƣớc thực hiện là các Văn phòng công chứng hoạt động chứng thực
phải do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện.

9


Hai là xác thực giá trị pháp lý của văn bản theo quy định của pháp luật
Bản sao đƣợc cấp từ sổ gốc, bản sao đƣợc chứng thực từ bản chính có giá trị
pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch. Chữ ký đƣợc chứng thực có
giá trị chứng minh ngƣời yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định
trách nhiệm của ngƣời ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.
Trƣớc đây, các cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận hồ sơ giấy tờ thƣờng đặt ra các

định của pháp luật. Về bản chất cơ quan chịu trách nhiệm chứng thực chỉ chứng thực
đúng bản sao từ bản chính, bản sao từ sổ gốc, chứng thực chữ ký của công dân theo
quy định của pháp luật mà không chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản.
Chủ thể thực hiện: Phòng Tƣ pháp cấp huyện, cấp xã và cơ quan đại diện của
Việt Nam tại nƣớc ngoài là chủ thể thực hiện chứng thực theo quy định của pháp
luật. Trong phạm vi, quyền hạn của mình chủ thể thực hiện chứng thực bố trí nhân
sự có đủ trình độ, kỹ năng và kiến thức pháp luật để tiếp nhận yêu cầu chứng thực
và giúp việc cho Trƣởng phòng Tƣ pháp, Phó phòng tƣ pháp; Chủ tịch, Phó Chủ
tịch UBND. Ngƣời đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nƣớc
ngoài trong công tác chứng thực. Khi chứng thực, ngƣời thực hiện chứng thực phải
đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Thực hiện việc chứng thực theo đúng thẩm quyền.
- Từ chối chứng thực theo quy định của pháp luật.Trong trƣờng hợp từ chối
chứng thực, ngƣời thực hiện chứng thực phải giải thích rõ lý do cho ngƣời yêu cầu
chứng thực. Nếu việc chứng thực không thuộc thẩm quyền của cơ quan mình thì
hƣớng dẫn họ đến cơ quan khác có thẩm quyền.
- Yêu cầu ngƣời chứng thực xuất trình đủ các giấy tờ cần thiết cho việc
thực hiện chứng thực. Tiếp nhận, kiểm tra các giấy tờ do ngƣời yêu cầu chứng
thực xuất trình.
- Cung cấp phiếu hẹn khi hồ sơ đầy đủ (đối với trƣờng hợp không giải quyết
hồ sơ trong ngày). Hƣớng dẫn cho ngƣời yêu cầu chứng thực về thủ tục, thành phần
hồ sơ và ghi phiếu yêu cầu bổ sung hồ sơ đối với trƣờng hợp hồ sơ không đầy đủ.
- Giải thích rõ ràng, khách quan, chính xác cho ngƣời có yêu cầu chứng thực
các quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến văn bản, giấy tờ yêu cầu chứng thực.
- Phải thật sự trung thực, khách quan, chính xác, chịu trách nhiệm trƣớc pháp
luật về việc chứng thực.

11



12


- Chứng thực chữ ký: là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chứng thực
chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của ngƣời đã yêu cầu chứng thực.
- Cấp bản sao từ sổ gốc (hoặc được gọi là chứng thực bản sao từ sổ gốc): là
việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản
sao từ sổ gốc phải có nội dung đúng với nội dung ghi trong sổ gốc.
1.1.4. Yêu cầu của hoạt động chứng thực
Một là yêu cầu về tính kịp thời
Mọi yêu cầu chứng thực của cá nhân, tổ chức phải đƣợc cán bộ Tƣ pháp thực
hiện kịp thời nhằm đảm bảo lợi ích của cá nhân, tổ chức và thực hiện đúng các quy
định của pháp luật về quy trình, thời gian, thẩm quyền giải quyết. Bởi tính kịp thời
của hoạt động chứng thực ảnh hƣởng rất lớn đến các giao dịch dân sự, thủ tục hành
chính… của cá nhân, tổ chức. Không đảm bảo về tình kịp thời có thể gây ảnh hƣởng
lớn về kinh tế, gây mất ổn định xã hội và tâm lý của ngƣời dân.Tuy nhiên, tính kịp
thời của công tác quản lý chứng thực chỉ có thể đạt đƣợc khi ngƣời dân có ý thức tự
giác trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hoạt động
chứng thực đồng thời cán bộ Tƣ pháp phải có ý thức trách nhiệm trong việc chủ
động theo dõi, nắm vững các quy định của pháp luật về chứng thực để đảm bảo hoạt
động chứng thực đƣợc diễn ra thuận lợi và đúng quy định.
Hai là yêu cầu về tính chính xác, khách quan
Hoạt động chứng thực phải thực hiện đúng thẩm quyền, thủ tục, trình tự theo
quy định tại các văn bản pháp luật về chứng thực và thủ tục hành chính hiện hành.
Cán bộ Tƣ pháp phải nắm vững và vận dụng chính xác các quy định pháp luật đối
với hoạt động chứng thực. Nghiêm cấm hành vi làm sai các quy định của pháp luật.
Trƣớc đây, do nhận thức chƣa đầy đủ về ý nghĩa quan trọng của việc đảm
bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động chứng thực nên có tình trạng ngƣời
dân vì muốn cho con đi học sớm nên tìm mọi cách để cấp bản sao Giấy khai sinh có
thông tin về năm sinh sai lệch so với bản chính, hoặc sử dụng bằng cấp giả để thực

cấp xã, huyện thực hiện.
Chứng thực là chứng nhận sự việc trong khi công chứng bảo đảm nội dung
của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch đó và qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu
rủi ro. Hoạt động công chứng mang tính pháp lý cao hơn hoạt động chứng thực.

14


Ba là về giá trị pháp lý của văn bản:
Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: Có hiệu lực thi hành đối với các
bên liên quan; trong trƣờng hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình
thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ
trƣờng hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác; có giá trị
chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh,
trừ trƣờng hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”. [47, Điều 6]
Về giá trị pháp lý của văn bản đƣợc chứng thực: Bản sao đƣợc cấp từ sổ gốc,
bản sao đƣợc chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính
trong các giao dịch; Chữ ký đƣợc chứng thực có giá trị chứng minh ngƣời yêu cầu
chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của ngƣời ký về nội
dung của giấy tờ, văn bản”.[26, Điều 3]
Tóm lại, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực là hai lĩnh vực hoàn
toàn khác nhau, khác về thẩm quyền, khác về đối tƣợng, tính chất công việc và khác
nhau về tính chất pháp lý. Đây là cơ sở để đổi mới về nhận thức lý luận về hoạt
động chứng thực ở Việt Nam hiện nay.
1.2. Quản lý nhà nƣớc về chứng thực
1.2.1 Khái quát về hoạt động quản lý nhà nước
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quan điểm về hoạt động quản lý nhà
nƣớc. Nhƣng quan điểm chung nhất về quản lý do các nhà điều khiển học đƣa ra là
“quản lý là sự tác động định hướng lên bất kỳ một hệ thống nào đó nhằm trật tự

luật chứ không phải bằng đạo lý. Và tiếp theo đó đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII của Đảng tiếp tục khẳng định phải thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật dƣới sự
lãnh đạo của Đảng. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa
VII tiếp tục quán triệt mục tiêu xây dựng và từng bƣớc hoàn thiện Nhà nƣớc pháp
quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt của đời sống
xã hội bằng pháp luật. Để quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đƣợc hiệu quả ngoài pháp
luật thì còn cần bổ sung các yếu tố khác mà tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng đã đƣa ra là phải kết hợp quản lý xã hội bằng pháp luật và coi trọng việc giáo
dục, nâng cao đạo đức. Giáo dục nâng cao với đạo đức phải song hành với quản lý nhà
nƣớc bằng pháp luật thì mới đảm bảo đƣợc mục tiêu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
XNCN của dân, do dân và vì dân.

16


Tiếp tục kế thừa phát huy tinh thần của các kỳ đại hội trƣớc Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng vẫn khẳng định “Nhà nƣớc quản lý xã hội
bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức, mọi côn dân có nghĩa
vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”.[28, tr.10]
Hiến pháp năm 1992 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây gọi tắt là
Hiến pháp năm 1992) qui định:
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải
nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp
luật...[30, Điều 12]
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu quản lý nhà nƣớc là quản
lý xã hội do nhà nước tiến hành bằng công cụ pháp luật thông qua các hoạt
động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện, xử lý vi phạm pháp luật để tác động

quan quyền lực nhà nƣớc cùng cấp, trong sự phục tùng của cấp dƣới với cấp
trên, địa phƣơng đối với trung ƣơng, trong sự phân cấp quản lý, trong sự phụ
thuộc hai chiều của cơ quan quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng và sự hƣớng về cơ
sở của cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Ba là nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước:
Nguyên tắc này đƣợc thể chế, thừa nhận tại điều 12 Hiến pháp năm 1992.
Nguyên tắc này đòi hỏi Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quản lý phải không ngừng
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật là cơ sở, căn cứ tổ chức và
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nƣớc trong việc thực hiện chức năng quản
lý của mình.Các cơ quan quản lý Nhà nƣớc chỉ đƣợc làm những gì pháp luật cho
phép còn mọi công dân đƣợc làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm.
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về chứng thực
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, tổ chức bộ máy hành chính nhà
nƣớc đƣợc tổ chức từ trung ƣơng đến địa phƣơng thực hiện quản lý theo ngành và
lãnh thổ. Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nƣớc chung, UBND các cấp thực
hiện quản lý nhà nƣớc tại địa phƣơng. Đối với UBND cấp quận, cấp xã bên cạnh
chức năng thực hiện quản lý nhà nƣớc tại địa phƣơng, các cơ quan hành chính nhà

18


nƣớc phải thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ công. Chứng thực theo yêu cầu
của công dân là một trong những dịch vụ hành chính công mà UBND cấp huyện, xã
phải thực hiện mà không thể ủy quyền cho bất cứ cơ quan nào khác bởi hoạt động
này luôn gắn với thẩm quyền hành chính nhà nƣớc và chỉ có hiệu lực khi cơ quan
hành chính nhà nƣớc thực hiện.
Các quy định pháp luật về chứng thực là tập hợp tất cả những qui phạm pháp
luật do các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, chủ thể thực
hiện hoạt động chứng thực và các chủ thể liên quan trong hoạt động chứng thực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status