ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------
PHAN THANH NAM
VAI TRÒ CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH DÂN VẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------
PHAN THANH NAM
VAI TRÒ CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH DÂN VẬN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thành Lợi
Phan Thanh Nam
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC
PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN
THÔNG NGÀNH DÂN VẬN .................................................................................. 13
1.1. Một số khái niệm ........................................................................................... 13
1.2. Ngành dân vận ............................................................................................... 34
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc và Ban Dân vận Trung ƣơng
về các phƣơng tiện truyền thông mới .................................................................... 42
Tiểu kết chƣơng ................................................................................................. 148
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC PHƢƠNG
TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỐI VỚI TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH
DÂN VẬN ................................................................................................................ 50
2.1. Đánh giá vai trò của các phƣơng tiện truyền thông mới đối với
hoạt động truyền thông của ngành dân vận ........................................................... 50
2.2. Một số vấn đề đặt ra trong việc sử dụng các phƣơng tiện truyền thông
mới đối với hoạt động truyền thông ngành dân vận .............................................. 77
Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................................. 84
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ SỬ DỤNG PHƢƠNG
TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH DÂN VẬN ....................................................... 85
3.1. Dự báo sử dụng các phƣơng tiện truyền thông mới ....................................... 85
3.2. Một số giải pháp và kiến nghị sử dụng các phƣơng tiện truyền thông
mới để nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông ngành dân vận ....................... 99
Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................................ 108
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 113
PGS
: Phó Giáo Sƣ
TS
: Tiến sĩ
TW
: Trung ƣơng
TT&TT
: Thông tin và Truyền thông
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những thập niên cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, cùng với sự phát triển
vƣợt bậc của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền
thông dẫn tới sự ra đời của các loại hình truyền thông mới dựa trên nền tảng
Internet. Cùng với những tác động của toàn cầu hóa và tiến trình Việt Nam
hội nhập toàn diện với thế giới đã tạo điều kiện cho công nghệ thông tin,
truyền thông trong nƣớc phát triển nhanh chóng.
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xƣớng và
lãnh đạo, đất nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và hội nhập quốc tế.Cơ
cấu xã hội, cơ cấu giai cấp, các tầng lớp nhân dân thay đổi nhanh chóng; nhu
cầu về đời sống vật chất, tinh thần, về thông tin, về dân chủ cũng không
đảngvề chủ trƣơng, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận, mong
muốn phát huy tối đa ƣu thế của hoạt động truyền thông mà trọng tâm là các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng của ngành để thực hiện tốt nhiệm vụ
chính trị đƣợc giao.
Hoạt động truyền thông củangành dân vận những năm qua đã đƣợc sự
lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự quan tâm, chăm lo đầu tƣ
trên tất cả các mặt, cả về vật chất, tinh thần, công tác cán bộ... Ngành dân vận
đã áp dụng đa dạng các hình thức truyền thông, tuyên truyền nhƣ: tuyên
truyền miệng, tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, họp báo,
xuất bản sách, làm phim tài liệu, tờ rơi, lôgô... để cung cấp thông tin, tuyên
truyền rộng rãi tới các đối tƣợng công chúng. Ban Dân vận Trung ƣơng đã có
nhiều văn bản chỉ đạo, hƣớng dẫn và tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền,
vận động đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân về các chủ trƣơng, đƣờng lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
2
công tác dân vận, công tác dân tộc, công tác tôn giáo. Tích cực phối hợp với
các báo, tạp chí của Đảng, các phƣơng tiện truyền thông đại chúng của trung
ƣơng và địa phƣơng để tuyên truyền về công tác dân vận, cũng nhƣ cung cấp
thông tin của ngành tới xã hội.
Các phƣơng tiện truyền thông mới có những ƣu điểm, tác động tích cực
đối với công tác dân vận nhƣ: góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt
giữa Đảng, Nhà nƣớc và Nhân dân; phát huy dân chủ; tuyên truyền, thuyết
phục, vận động, nhân dân trong tuân thủ các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc; tổ chức, vận động các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nƣớc, đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng và củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân tộc...Bên cạnh đó,cácphƣơng tiện truyền thông mới nói
xã hội vì những lợi ích thực tế mà nó mang lại, đặc biệt là trong những năm
gần đây khi công nghệ thông tin và truyền thông đại chúng phát triển rất
nhanh ở nƣớc ta, kéo theo đó là nềnkinh tế tri thức, nhu cầu chia sẻ thông tin
và các sản phẩm thông tin ngày càng phát triển cùng nhiều hiện tƣợng xã hội
mới. Truyền thông và truyền thông đại chúngđã trở thành đối tƣợng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học xã hội nhƣ: tâm lý học, lịch sử học, báo chí
học…Với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và truyền thông, thời gian vừa
qua, đã có nhiều cuốn sách, tham luận, luận văn đề cập tới vấn đề này. Trong
đó, nhiều tác phẩm đã đề cập tới sự tác động của các phƣơng tiện truyền
thông mới, trong đó có mạng xã hội đối với truyền thông tại Việt Nam.
Cuốn sách của tác giả Bùi Hoài Sơn (2008) mang tên “Phương tiện
truyền thông mới và những thay đổi văn hoá xã hội ở Việt Nam” doNxb Khoa
học Xã hội đề cập tới sự phát triển của các phƣơng tiện truyền thông mới ở
Việt Nam với hai đại diện tiêu biểu là điện thoại di động và Internet. Trong
đó, tác giả điểm qua một số phƣơng diện lý thuyết trong việc nghiên cứu
4
phƣơng tiện truyền thông mới ở Việt Nam; phân tích những thay đổi văn hoá
- xã hội dƣới ảnh hƣởng của các phƣơng tiện truyền thông mới.
Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện
đại” của tác giả Nguyễn Thành Lợi chỉ ra vai trò của truyền thông xã hội
trong kỉ nguyên số, những đặc điểm của truyền thông xã hội, vai trò, ảnh
hƣởng của truyền thông xã hội đối với báo chí hiện đại. Nội dung chính của
cuốn sách cũng chỉ ra sự thay đổi, phát triển của các lý thuyết truyền thông
trong môi trƣờng truyền thông Internet.
Cuốn sách “Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Khoa Báo
chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
Gia Hà Nội xuất bản năm 2014 đã đƣa ra nhiều bài viết giá trị về truyền thông
chúng và Internet trong những năm gần đây.
Cuốn sách “Người chơi Facebook khôn ngoan biết rằng…” do NXB Trẻ ấn
hành năm 2014 khẳng định sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của Facebook đối với cuộc sống
hiện đại. Tập sách đƣa ra cảnh báo về trào lƣu “mạng xã hội”, nơi mà con ngƣời
đang dần bị phụ thuộc.Luận văn thạc sĩ của Bùi Thu Hoài (2014) “Tác động của mạng
xã hội đến giới trẻ, tìm hiểu thực trạng việc sử dụng mạng xã hội hiện nay của giới trẻ” đã
chỉ ra thực trạng sử dụng mạng xã hội hiện nay của giới trẻ. Tác giả đã phân tích, đánh giá
tác động của mạng xã hội đến đối tƣợng này trong lối sống, việc thu thập, tiếp nhận, kết
nối, chia sẻ và truyền phát thông tin, cũng nhƣ quan điểm của họ về mạng xã hội và báo
chí truyền thống.
Qua khảo sát cũng cho thấy, công tác dân vận và ngành dân vận là một
đối tƣợng nghiên cứu khoa học khá phổ biến, song thuộc các chuyên ngành
xây dựng Đảng và thƣờng đƣợc lựa chọn góc độ tiếp cận nghiên cứu nhƣ: tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, “Dân vận khéo” theo tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh, đổi mới công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay, dân vận và dân
chủ, công tác dân vận trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, công tác dân vận chính
quyền, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các loại hình, xây dựng đội
ngũ cán bộ làm công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay...
6
Tuy nhiên,các nghiên cứu và bài viết về truyền thông của hệ thống các
cơ quancủa Đảng, Nhà nƣớc thì thƣờng ở những góc độ,vấn đềrất cụ thể, theo
chuyên ngành không thể lấy làm nền tảng để phát triển.Hoặc các bài viết về
truyền thông mang tính vĩ mô nhƣ: PR chính trị, truyền thông chính trị, hoạt
động tuyên truyền của tổ chức... nhƣng thông tin không mang tính thời sự.
Gần nhƣ chƣa có nghiên cứu hay hội thảo khoa học chuyên ngành nào về
truyền thông trong công tác dân vận, truyền thông của ngành dân vận.
tác dân vận của Đảng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về các phƣơng tiện truyền thông mới, mối liên hệ giữa các
phƣơng tiện truyền thông mới và truyền thông ngành dân vận. Qua đó hệ
thống hóa những lý thuyết cơ bản về các phƣơng tiện truyền thông mới,
truyền thông ngành dân vận và vai trò của các phƣơng tiện truyền thông mới
với truyền thôngngành dân vận.
- Phân tích và khảo sát những tác động của các phƣơng tiện truyền
thông mới đối với cách thức truyền thông của một số cơ quan Đảng, Nhà
nƣớc tại Việt Nam đƣợc phản ánh qua mạng xã hội (Facebook)từ năm 2013 2015 , cả định lƣợng và định tính.
- Phỏng vấn một số lãnh đạo, chuyên gia, nhà báo gắn bó với công tác
dân vận để tìm hiểu quan điểm của họ vai trò của các phƣơng tiện truyền
thông mới với báo chí truyền thông nói chung và truyền thông ngành dân vận
nói riêng.
- Chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của các phƣơng tiện truyền
thông mới với truyền thông ngành dân vận.
- Kiến nghị các giải pháp, đề xuất nhằm phát huy những tác động tích
cựccủa các phƣơng tiện truyền thông mới đối với hoạt động truyền thông của
ngành dân vận.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
8
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là vai trò của các phƣơng tiện
truyền thông mới đối với truyền thông của ngành dân vận trong giai đoạn hiện
nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các phƣơng tiện truyền thông mớiđang đƣợc ngành dân vận sử dụng
đơn lẻ khảo sát đƣợc đểrút ra một số kết quả nghiên cứu mới trong luận văn;
đồng thời, bƣớc đầu xây dựng khung lý thuyết liên quan và vận dụng những
lý thuyết cụ thể vào thực tiễn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trên cơ sở nghiên cứu nội dung cơ
bản của đề tài, tác giả thiết kế các câu hỏi phỏng vấn sâu một số nhà lãnh đạo,
quản lý, chuyên gia hoạt động trong ngànhdân vận và báo chí truyền thông.
Tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi tập trung vào việc phân tích, đánh giá
một vai trò và nhữngảnh hƣởng tích cực, tiêu cực của mạng các phƣơng tiện
truyền thông mới đối với truyền thông của các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc nói
chung và cụ thể là ngành dân vận. Với kết quả thu đƣợc, tác giả tiếp tục sử
dụng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích để đƣa ra những nhận định khách quan
về vấn đề đƣợc đƣa ra.
- Phương pháp phân tích nội dung:là phƣơng pháp này đƣợc áp dụng
khá phổ biến trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn. Tác giả thu thập các tin, bài tiêu biểu đăng trên các phƣơng tiện truyền
thông mới và mạng xã hội Facebook mang tính thời sự và chủ đề tƣơng đối
trùng hợp để khảo sát, phân tích về nội dung, phƣơng pháp thông tin, truyền
thông và qua đó đánh giá ƣu điểm, hạn chế của chúng.
- Phương pháp nghiên cứu thống kê xã hội học:Các yếu tố định
lƣợng từ hoạt động này dùng đểtham chiếu, tăng tính thuyết phụccho những
phân tích trong luận văn. Tác giả tiến hành phát 200 bảng hỏi anket. Đối
10
tƣợng khảo sát là: cán bộ, công chức trong hệ thống dân vận, ngƣời làm công
tác báo chí truyền thông (tập trung ở Ban Dân vận Trung ƣơng, ban dân vận
các tỉnh, thành ủy). Cách thức: Gửi và nhận bảng hỏi qua mạng internet.Xử lý:
Thiết kế và xử lý kết quả bằng chƣơng trình Google Docs. Bảng hỏi đƣợc thiết kế
CÁC PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG NGÀNH DÂN VẬN
- Chương 2:THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỐI VỚI TRUYỀN THÔNG
CỦA NGÀNH DÂN VẬN
- Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ SỬ DỤNG
PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA NGÀNH DÂN VẬN
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ
CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI TRONG
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NGÀNH DÂN VẬN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1.Truyền thông
Lịch sử loài ngƣời cho thấy, con ngƣời có thể sống đƣợc với nhau, giao
tiếp và tƣơng tác lẫn nhau trƣớc hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông
qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải những thông
điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc). Qua quá trình truyền thông liên tục, con ngƣời
sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và
hành vi. Chính vì vậy, truyền thông đƣợc xem là cơ sở để thiết lập các mối
quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, là nền tảng hình thành nên cộng đồng,
xã hội. Nói cách khác, truyền thông là một trong những hoạt động căn bản
của bất cứ tổ chức xã hội nào.
Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời sẽ không thể duy trì nếu không có
hoạt động giao tiếp trong đó chủ yếu là sự trao đổi thông tin giữa từng cá thể
với nhau, giữa cá thể với cộng đồng hay giữa cộng đồng với nhau. Tác giả Tạ
quá trình vận động tất yếu của truyền thông.
1.1.2. Truyền thông đại chúng
Nếu truyền thông là hành vi xuất hiện từ trƣớc khi hình thành xã hội
loài ngƣời và có thể diễn ra không có chủ đích, thì truyền thông đại chúng
(mass communication) với tƣ cách là một quá trình xã hội có chủ đích – quá
trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi nguời trong xã hội thông
qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng – thuật ngữ truyền thông đại
chúng chỉ xuất hiện trên thế giới từ khoảng cuối thế kỷ XVI, trên cơ sở của
nhiều loại tiến bộ kỹ thuật khác nhau, đặc biệt là kỹ thuật in ấn. Bƣớc sang thế
14
kỷ XX, với sự ra đời của phát thanh, truyền hình, điện thoại và tiếp đó là sự
xuất hiện của máy tính điện tử cá nhân rồi đến mạng máy tính toàn cầu và
mạng Internet, truyền thông đại chúng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy
mô lẫn mức độ ảnh hƣởng tới từng cá nhân riêng lẻ đến toàn xã hội. Truyền
thông đại chúng không chỉ là một định chế đóng vai trò quan trọng trong việc
phổ biến thông tin và kiến thức cho dân chúng, mà còn tác động trở lại mạnh
mẽ vào tất cả các định chế xã hội khác, từ chính trị, kinh tế cho đến văn hóa,
gia đình…
Theo nhà xã hội học truyền thông Francis Balle, trong lịch sử các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng, thời gian kể từ khi phát minh ra một kỹ
thuật tới khi một phƣơng tiện truyền thông mới ra đời và đƣợc thƣơng mại
hóa ngày càng đƣợc rút ngắn. Đối với báo in, phải mất 4 thế kỷ, kỹ thuật điện
ảnh chỉ mất khoảng 60 năm, kỹ thuật truyền sóng phát thanh là hơn 20 năm,
trong khi truyền hình chỉ mất hơn 10 năm. Điều này cho thấy, ngoài yếu tố kỹ
thuật, nhu cầu nắm bắt thông tin của con ngƣời cũng có sự phát triển nhanh
chóng và ngày càng đa dạng.
Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ “truyền thông đại chúng” đƣợc sử
mở (wikipedia), podcast, video…
Trong cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trƣờng truyền thông
hiện đại”, tác giả Nguyễn Thành Lợi đƣa ra định nghĩa:
“Truyền thông xã hội đƣợc hiểu là phƣơng tiện truyền thông xã hội –
một cách thức truyền thông kiểu mới dựa trên nền tảng của các dịch vụ web
2.0. Trong đó, web 2.0 đƣợc coi là thế hệ thứ hai của web, nó tạo ra nhiều sự
tiện lợi hơn cho ngƣời dùng, các thông tin, dữ liệu đƣợc cập nhật hàng ngày,
hàng giờ, đặc biệt ngƣời sử dụng có thể tham gia đóng góp, chia sẻ và làm
phong phú thêm cho trang web”. [17]
Trên cơ sở đó, học viên xin đƣa ra khái niệm tóm tắt về truyền thông xã
hội nhƣ sau: Truyền thông xã hội là cách thức truyền thông mới xây dựng dựa
16
trên nền tảng là sự kết nối của các dịch vụ web 2.0. Trong đó diễn ra quá
trình chia sẻ, trao đổi từ nhiều phía, tạo nên nguồn thông tin, dữ liệu vô cùng
đa dạng và phong phú.
* Đặc điểm của truyền thông xã hội
- Truyền thông xã hội hoạt động trên nền tảng các dịch vụ trực tuyến
Truyền thông xã hội ra đời và phát triển dựa trên nền tảng của web 2.0,
với những tiện ích quan trọng trong việc truyền tải và liên kết dữ liệu. Đối
tƣợng của truyền thông xã hội cũng chính là số lƣợng “cƣ dân” đông đảo trên
mạng Internet.
Tính tới năm 2014, có tới hơn 3 tỷ ngƣời trên thế giới sử dụng Internet,
con số này chiếm 39% dân số toàn thế giới . Khoảng 44% số hô ̣ gia đình trên
toàn thế giới có kết nối Internet, tăng 4% so với năm 2013, và 14% so với bốn
năm trƣớc đó . [26] Cộng đồng này liên tục cung cấp, chia sẻ và trao đổi để
làm giàu nguồn tài nguyên thông tin trên môi trƣờng truyền thông hiện đại.
Do hoạt động trên nền tảng các dịch vụ trực tuyến nên truyền thông xã hội
bị sửa đổi và hoàn toàn có thể biến mất do những trục trặc về phần cứng, phần
mềm.
- Truyền thông xã hội tạo ra sự khác biệt trong phương thức sản xuất
thông tin
Trong khi công chúng của các phƣơng tiện báo chí truyền thống là
ngƣời tiếp nhận thông tin một cách thụ động thì công chúng của truyền thông
xã hội đồng thời là ngƣời sản xuất tin, thực hiện chia sẻ, trao đổi các thông
tin, ý tƣởng thông qua quan hệ ảo và cộng đồng ảo. Những tính năng tƣơng
tác ngày càng đƣợc nâng cấp khiến cá nhân đƣợc thể hiện mình một cách
mạnh mẽ trên mạng xã hội. Nói cách khác, truyền thông xã hội đã tạo ra sự
thay đổi cơ bản trong quan hệ xã hội giữa công chúng với chủ thể truyền
thông.
18