i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM ”
NĂM 2012
----------o0o----------
TÊN CÔNG TRÌNH:
Đánh giá mối quan hệ đầu tư công – tăng trưởng kinh tế,
tối ưu hóa phúc lợi xã hội và khuyến nghị chính sách trong
bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế
Thuộc nhóm ngành khoa học : Khoa học xã hội
Hà Nội, 2012
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM ”
NĂM 2012
----------o0o----------
TÊN CÔNG TRÌNH:
Đánh giá mối quan hệ đầu tư công – tăng trưởng kinh tế,
tối ưu hóa phúc lợi xã hội và khuyến nghị chính sách trong
CHƯƠNG 1...............................................................................................................................1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU....................................................................................1
CHƯƠNG 2...............................................................................................................................6
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU....................................................6
CHƯƠNG 3.............................................................................................................................25
TỔNG QUAN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.......25
iv
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC...............................................................................................................................III
DANH MỤC BẢNG...............................................................................................................IV
DANH MỤC HÌNH..................................................................................................................V
TÓM TẮT............................................................................................................................VIII
CHƯƠNG 1...............................................................................................................................1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU....................................................................................1
CHƯƠNG 2...............................................................................................................................6
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU....................................................6
CHƯƠNG 3.............................................................................................................................25
TỔNG QUAN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.......25
Bảng 1: Tỷ lệ đầu tư so với GDP ở một số nước Châu Á..................................................26
Bảng 2: ICOR theo khu vực kinh tế 2 giai đoạn 2000-2005, 2006 – 2010........................30
Bảng 3: Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước theo giá so sánh 1994 phân theo ngành
kinh tế...............................................................................................................................32
Bảng 4: Tóm tắt thống kê các biến kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1986-2011................37
Bảng 6: Kiểm định OLS kiểm định mối quan hệ giữa đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
có ảnh hưởng của các biến điều kiển.................................................................................40
Liên minh châu Âu
Foreign Direct Investment
GDP
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Gross Domestic Product
GSO
Tổng sản phẩm quốc nội
General Statistics Office
ICOR
Tổng cục thống kê
Incremental Capital – Output
LICs
Hệ số sử dụng vốn
Low income countries
MICs
Các quốc gia có thu nhập thấp
Middle-income countries
Non- OECD
vii
viii
TÓM TẮT
Kể từ năm 2008, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế
vĩ mô. Đó là lạm phát cao, sự biến động của thị trường tài chính, những rủi ro
tiềm ẩn về sự mất cân bằng tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Tái
cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu cấp bách đang được đặt ra hiện nay, trong đó để
tái cấu trúc nền kinh tế việc đầu tiên là nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nhà nước,
đó là tái cấu trúc đầu tư công. Tại Việt Nam, chưa có một công trình nghiên cứu
cụ thể nào về tỷ lệ đầu tư công tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế, nhất là tỷ lệ
đầu tư công tối ưu đối với phúc lợi xã hội. Nghiên cứu này nhằm phân tích và
tìm kiếm mối quan hệ của tỷ lệ đầu tư công đối với sự tối đa hóa phúc lợi xã hội.
Đầu tiên chúng tôi xây dựng một mô hình tăng trưởng kinh tế với các biến số về
đầu tư theo gợi ý Aschauer.D.A (1997) và Christophe Kamps (2005). Phương
pháp sử dụng hai hàm hồi quy: tuyến tính và phi tuyến để cố gắng xác định sự
ảnh hưởng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế nói chung và quy mô đầu tư
công tối ưu đối với phúc lợi xã hội nói riêng. Chúng tôi tiến hành phân tích thực
nghiệm dựa trên mô hình lí thuyết đã xây dựng, sử dụng số liệu về tăng trưởng
kinh tế và đầu tư cùng các biến điều kiển khác tại Việt Nam. Phân tích hồi quy
sẽ đưa đến một cái nhìn tổng quát về đầu tư công đối với tăng trưởng và phúc lợi
xã hội và đưa đến cho chúng ta một số gợi í chính sách đối với việc tái cơ cấu
đầu tư công trong giai đoạn hiện nay của VN
Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, đầu tư công, tuyến tính, phi tuyến, tỷ lệ đầu tư
công tối ưu, tái cơ cấu, phúc lợi xã hội
lợi xã hội. Tuy nhiên việc đầu tư nhà nước đã và đang chiếm tỷ trọng rất lớn, sử
dụng kém hiệu quả và đẩy lùi đầu tư tư nhân khá rõ nét đã đến lúc cần xem xét
2
lại. Trong giai đoạn hiện nay yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế đang được chính
phủ đặt lên hàng đầu và trọng tâm chính là tái cấu trúc đầu tư nhà nước. Nhưng
câu hỏi: cần tái cấu trúc như thế nào, tỷ lệ đầu tư công thế nào là tối ưu với xã
hội? thì cần có câu trả lời thỏa đáng. Chính vì vậy nhóm tác giả thông qua
nghiên cứu định lượng sẽ tìm kiếm câu trả lời xác đáng cho những câu hỏi trên.
Đã có một số những công trình trên thế giới đi sâu kiểm nghiệm mối quan
hệ giữa đầu tư công với tăng trưởng kinh tế và đâu là tỷ lệ đầu tư công tối ưu
cho tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội? Hướng thứ nhất của nghiên cứu tập
trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng, một trong số
những công trình nghiên cứu đó là của Barth và Bradley (1987), Easterly &
Rebelo (1993), Devarajan et al. (1996), David Alan Aschauer (1998, 2000),..
Kết luận của họ là không giống nhau khi đưa ra hai tranh luận trái chiều: mối
quan hệ này là tích cực hoặc tiêu cực. Hướng thứ hai của nghiên cứu sẽ tập trung
nghiên cứu về tỷ lệ đầu tư công tối ưu cho tăng trưởng, phúc lợi xã hội. Điển
hình như công trình nghiên cứu của Aschauer (1997), Christophe Kamps (2005)
…
Tại Việt Nam, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu định lượng
nào để đánh giá về mối quan hệ và tỷ lệ đầu tư công tối ưu cho tăng trưởng cũng
như phúc lợi xã hội. Các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiêu
quả của chi tiêu chính phủ đến từng ngành kinh tế hay hiện tượng lấn át đầu tư
công. Một số nghiên cứu điển hình của Tô Trung Thành (2011), Phạm Thế Anh
(2008),. Vì vậy chúng tôi sẽ mở đầu cho nghiên cứu về vấn đề trên đây bằng
việc thực hiện phương pháp định tính và định lượng dựa trên những số liệu về
các biến số tại Việt Nam và góp phần đưa ra những tài liệu tham khảo có ý
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, nhóm tác giả tiến hành xây dựng mô
hình lí thuyết dựa trên đề xuất từ công trình nghiên cứu của Auchauser (1997)
và thực nghiệm với các biến số dựa trên phương pháp tiếp cận của Christophe
Kamp (2005).
Auchauser (1997) xây dựng mô hình lí thuyết dựa trên cơ sở tiêu dùng và
hàm sản xuất Cobb – Gouglas với 2 biến số đầu tư với giả định chính phủ có sự
rằng buộc ngân sách. Để tìm ra tỷ lệ tối ưu cho tăng trưởng tác giả đề xuất sử
dụng mô hình phi tuyến khi nhận thấy rằng mô hình tuyến tính không giải thích
4
được mối quan hệ giữa đầu tư công và sản lượng. Christophe Kamp (2005) phát
triển mô hình của Auchauser (1997) để thực hiện tính toán dựa trên bộ số liệu
của 22 nước OECD và 14 nước EU giai đoạn 1960 – 2001. Sử dụng kết quả tính
toán, tác giả cho rằng tại một số nước EU có sự thiếu hụt đầu tư công, bên cạnh
đó một số nước khác lại có đầu tư công quá mức.
Các biến số chính được sử dụng trong bài nghiên cứu được chọn lựa dựa
trên đề xuất từ nghiên cứu của Auchauser (1997, 2000); các biến điều chỉnh
khác trong nghiên cứu dựa trên gợi ý của Kamp (2006). Bằng cách sử dụng kết
hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS Ordinary Least Squares), phương pháp phi tuyến. Chúng tôi đưa các biến có liên
quan vào trong 2 mô hình: hồi quy tuyến tính và phi tuyến để trả lời các câu hỏi
phần trên đã đề cập.
Tại Việt Nam, do hạn chế về số liệu thống kê kinh tế nên chúng tôi lựa
chọn bộ số liệu giai đoạn 1986 – 2011. Giai đoạn này, các biến số chính chúng
tôi sử dụng khá đầy đủ, điều này giúp cho mô hình hồi quy cho kết quả chính
xác nhất. Để phục vụ cho bài nghiên cứu và đảm bảo đủ số liệu, chúng tôi trích
suất số liệu từ nhiều nguồn khác nhau: GSO, IMF, niên giám thống kê các năm,
WB, ADB…
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Báo cáo tổng quan nghiên cứu sẽ tổng thuật lại những nghiên cứu được
thực hiện trong vòng hai mươi năm trở lại đây. Bao gồm các nghiên cứu về vai
trò của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, đánh giá tỷ lệ đầu tư công tối ưu
cho toàn nền kinh tế, phúc lợi xã hội nói chung và các ngành kinh tế nói riêng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đánh giá và tìm kiếm những khoảng trống còn tồn tại
và giải quyết mục đích nghiên cứu.
2.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT.
2.1.1. Khái niệm đầu tư công.
Kinh tế học định nghĩa đầu tư công là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất
và cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ, là các khoản chi của
chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như xây dựng đường xá, trường học,
dịch vụ phòng và chữa bệnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng…
Hiểu theo định nghĩa của đầu tư: “Đầu tư công” là việc sử dụng nguồn
vốn nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội không nhằm mục đích kinh doanh. Đầu tư công gồm:
− Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế,
xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều
kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học,
giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác.
− Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả
việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.
7
− Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo
quy định của pháp luật.
− Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính
hợp (hình 1). Nó cũng làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố khác, bao gồm cả
lao động. Nếu thị trường lao động là cạnh tranh và sự cung ứng lao động là
không co dãn, sự tăng lên của năng suất lao động dẫn đến sự gia tăng trong tiền
lương.
Hình 1: Mô hình hóa sự gia tăng vốn công đến sản lượng
Output
Public capital
Nguồn: Aaron H (1970)
Khi vốn công và tư nhân bổ sung, sự ra tăng của vốn công sẽ nâng cao tỷ
lệ năng trưởng của một quốc gia, ít nhất là lên một điểm.
Để minh họa, giả sử phương trình (1) có thể được minh họa bởi hàm Cobb
– Douglas:
(ii)
Trong đó: y=Y/L là năng suất lao động của một công nhân; k=K/L là vốn
tư nhân trên một công nhân; g=G/L là vốn công của một công nhân, hệ số
kà đại diện cho hệ số co dãn của sản lượng tổng hợp với nguồn vốn tư nhân và
vốn công (giả sử cũng là tỷ lệ tiết kiệm tư nhân không bị ảnh hưởng bởi đầu tư
tư nhân).
Dài hạn hoặc ổn định mức sản lượng đầu ra của một công nhân được
viết bởi hàm:
9
(iii)
Trong đó:
10
Hình 2: Mô hình ảnh hưởng của các giai đoạn đầu tư công
Tốc độ tăng trưởng
kinh tế
A
B
Đầu tư công/ GDP
A
B
Đầu tư công/ GDP
Tốc độ tăng trưởng
kinh tế
Nguồn: Barro (1990)
2.2.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM.
Phần này, chúng tôi tóm tắt các bằng chứng thực nghiệm gần đây nhất
chính phủ và một số biến khác từ nguồn “thống kê tài chính quốc tế”. Biện pháp
chi tiêu này không bao gồm đầu tư công và chuyển giao mà bao gồm hầu hết các
chi tiêu về quốc phòng và giáo dục. Sử dụng dữ liệu cho mỗi quốc gia trung
bình trong khoảng thời gian 20 năm họ đã tìm thấy rằng không có mối quan hệ
đáng kể giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình và chi tiêu chính phủ trong
GDP. Nghiên cứu của ông chưa thể phản ánh được mối quan hệ chặt chẽ giữa
12
tăng trưởng và đầu tư công (đầu tư công là một phần của chi tiêu chính phủ)
nhưng là tiền tề để các nghiên cứu sau này phát triển.
2.2.1.1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và đầu tư công là mối quan hệ tích
cực (dương).
Một trong những nghiên cứu điển hình là Barro (1990) đã nhận thấy rằng,
phần trung bình của đầu tư công trong GDP đã có một tác động tích cực đến
tăng trưởng. Tuy nhiên nó không có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 1960 –
1985.
Đánh giá này được theo sau bởi một nghiên cứu khác của Easterly &
Rebelo (1993), mở rộng phân tích theo hai hướng. Đầu tiên, đầu tư bao gồm đầu
tư của doanh nghiệp nhà nước (chính phủ trung ương). Thứ hai, họ phân biệt
giữa đầu tư công trong các lĩnh vực khác nhau. Ngược lại với Barro (1991), họ
thấy rằng đầu tư công đã có một tác động tích cực và có cả ý nghĩa thống kê về
tăng trưởng kinh tế đồng thời họ cũng tìm thấy rằng đầu tư công vào giao thông
vận tải có một ảnh hưởng đặc biệt lớn và có ý nghĩa thống kê tăng trưởng kinh
tế.
Các nghiên cứu gần đây David Alan Aschauer (1998) khi nghiên cứu về
mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại 48 tiểu bang của Hoa
Kì. Tác giả đã kiểm tra các tiên đoán của mô hình tăng trưởng tân cổ điển trong
nghiên cứu trước đó nhưng vẫn rất khó khăn để rút ra bất kì kết luận chắc chắn
từ bằng chứng này.
2.2.1.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và đầu tư công là mối quan hệ tiêu
cực (âm).
Các nghiên cứu trước năm 1990 không đánh giá về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và đầu tư công nói riêng mà thường đánh giá mối quan hệ giữa
tăng trưởng và chi tiêu chính phủ. Để xem xét tổng quan hơn chúng tôi cũng đưa
ra những bài nghiên cứu về mối quan hệ này.
14
Hai tác giả Grier & Tullock (1987) mở rộng hình thức phân tích của
Kormendi Meguire (1985) lên 115 quốc gia bằng cách sử dụng dữ liệu về tiêu
thụ của chính phủ và các biến khác. Nghiên cứu của họ qua tổng hợp, phân tích
chuỗi thời gian, sử dụng dữ liệu trung bình trong khoảng thời gian 5 năm thì họ
tìm thấy giữa tăng trưởng GDP thực tế và chi tiêu chính phủ có mối quan hệ tiêu
cực âm, mặc dù mối quan hệ này bắt nguồn từ 24 nước khối OECD.
Cùng chung đề tài nghiên cứu với Grier & Tullock (1987), Barth &
Bradley (1987) cũng tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế
và chi tiêu chính phủ cho 16 nước thuộc khối OECD trong giai đoạn 1971 –
1983. Họ cũng tìm thấy rằng phần đầu tư chính phủ (đầu tư công) trong GDP có
một thống kê không đáng kể vào tăng trưởng mặc dù tìm thấy được điểm tích
cực. Tuy nhiên ước tính cuối cùng được áp dụng khi tỷ lệ đầu tư tư nhân vào
GDP được giữ không đổi.
Devarajan et al. (1996) thách thức kết quả này. Họ phân biệt sự khác nhau
giữa chi tiêu công trong thành phần kinh tế và khu vực kinh tế. Số liệu chi tiêu
được lấy từ IMF Government Financial Statistics phân tách chỉ tiêu theo: phân
loại kinh tế, phân loại chức năng (quốc phòng, an ninh, hành chính,…).
Devarajan et al cũng thể hiện từng loại chi phí như là môt tỷ lệ của tổng ngân
Sanjeev Gupta, Alvar Kangur, Chris Papageorgiou & Abdoul Wane (2011) phát
triển mô hình dựa trên mô hình tăng trưởng Arslanalp et al. (2010), đi sâu phân
tích về mối quan hệ này của 52 nước đang phát triển giai đoạn 1960 – 2009
(ALL, MICs, LICs). Kết quả nghiên cứu kết luận rằng có sự khác nhau về tốc độ
tăng trưởng kinh tế của hai nhóm nước (thu nhập trung bình, thu nhập thấp) khi
phân tích và sử mô hình hàng tổn kho vĩnh viễn cho mẫu gồm 71 quốc gia. Các
nước có thu nhập trung bình hầu như có tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn 1 điểm
phần trăm so với các nước có thu nhập thấp trong khoảng thời gian 50 năm và
sự khác nhau này được giải thích bằng việc nỗ lực đầu tư công. Các nước có thu
nhập trung bình có tỷ lệ đầu tư cao hơn 2 điểm phần trăm so với các nước có thu
nhập thấp.
2.2.2. Tỷ lệ đầu tư công tối ưu với tăng trưởng.
16
Đánh giá về tỷ lệ đầu tư công tối ưu với tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi
phân tích tổng quan nghiên cứu của 4 tác giả: Barro (1990), David Alan
Aschauer (1998); Christophe Kamps (2005) và Augustin Kwasi Fosu, Yoseph
Yilma GetachewThomas Ziesemer (2011).
Nghiên cứu của Barro (1989) là một trong những nghiên cứu đầu tiên về
điểm tối ưu đầu tư công. Barro (1989) khi nghiên cứu 98 nước sau chiến tranh
thế giới thứ II giai đoạn 1970 – 1985 với mô hình trong đó tăng trưởng kinh tế
phụ thuộc vào tỷ lệ đầu tư công/đầu tư tư nhân. Theo ông tác động của đầu tư
công lên tăng trưởng kinh tế có ba giai đoạn và đi theo hình chữ U ngược. Đỉnh
của chữ U là điểm tối ưu đầu tư công.
Christophe Kamps (2005) dựa trên mô hình Aschauer (2000) để đánh giá
tỷ lệ đầu tư tối ưu. Các biến số được sử dụng trong mô hình của Aschauer
(2000) đó là sự phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế với các biến ϕ ( tỉ lệ đầu tư
công /đầu tư tư nhân) và u (tỉ lệ thất nghiệp) nhưng kết quả cho thấy mô hình
mẽ cho chính phủ các nước, nhất là các nước đang phát triển để thực hiện các
chương trình đầu tư, kiểm soát một tỷ lệ đầu tư phù hợp nâng cao tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên những bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa
đầu tư công và tăng trưởng kinh tế chưa thể kết luận vì còn nhiều ý kiến trái
chiều. Điều này có thể giải thích rằng khả năng tiếp cận dữ liệu hiện có và thông
tin còn hạn chế cùng với sự ảnh hưởng của môi trường chính trị mỗi quốc gia.
Các nghiên cứu gần đây bổ sung cho các kết quả trong quá khứ. Các
hướng chính cho nghiên cứu (chúng tôi xem xét áp dụng tại Việt Nam) có thể
nhóm lại thành 2 loại: nhóm đầu tiên liên quan đến phương pháp đánh giá hiệu
quả đầu tư công như thế nào (đo lường, quan hệ đầu tư công và tư nhân là quan
hệ gì..?). Mối quan tâm thứ 2 là: Tái cơ cấu như thế nào? (Tỉ lệ đầu tư
công/GDP như thế nào là tối ưu, nên đầu tư vào những ngành nào,vùng nào là
hiệu quả?).
Mô hình mà chúng tôi sẽ xây dựng chủ yếu dựa trên mô hình của
Aschauer (1997) vs Kamp (2005) với Việt Nam để tìm xem liệu có sự phân bổ
nguồn lực tốt hơn không. Xây dựng một mô hình kinh tế lượng đơn giản sử