I.
Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước
1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường nhà nước
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
của các tổ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể. Vì vậy,
khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì cũng phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
không chỉ nhằm khôi phục các tổn thất tài sản mà còn phải bù đắp những tổn thất tinh
thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về
tinh thần trong trường hợp cán bộ, công chức nhà nước có hành vi trái pháp luật trong
khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,
tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước gồm các yếu tố
cơ bản sau: chủ thể; khách thể; các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Về chủ thể, các bên trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước luôn
luôn bao gồm bên gây thiệt hại - Nhà nước, và bên bị thiệt hại là các cá nhân, tổ chức,
chủ thể khác; trong đó, Nhà nước luôn luôn là một bên trong quan hệ về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại này. Việc quy định trực tiếp trách nhiệm bồi thường thuộc về một cơ
quan đại diện chung hay trách nhiệm thuộc về từng cơ quan cụ thể thuộc về chính sách
pháp lý của mỗi quốc gia, tuy nhiên cần phải khẳng định rằng một bên chủ thể có trách
nhiệm luôn luôn là Nhà nước; cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường không nhân
danh mình mà nhân danh Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như
nhân danh Nhà nước khi thực hiện công vụ.
Về khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thể là lợi ích vật chất hoặc tinh
thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật.
Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách thể là đối tượng mà các chủ thể quan tâm, hướng
Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần (sau đây gọi chung là
người bị thiệt hại) trong các trường hợp quy định tại Luật này thì được Nhà nước bồi
thường.
Như vậy, theo quy định của Luật TNBTCNN thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào,
không phân biệt cá nhân, tổ chức của Việt Nam hay cá nhân, tổ chức nước ngoài, cũng
đều có thể trở thành đối tượng được bồi thường miễn là đáp ứng đủ các điều kiện dưới
đây:
Thứ nhất, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ gây ra;
Thứ hai, thiệt hại đó thuộc các trường hợp được bồi thường mà Luật TNBTCNN
quy định tại các điều 13, 26, 28, 38 và 39.
Như vậy, các đối tượng được bồi thường theo Luật TNBTCNN bao gồm:
(1) Công dân Việt Nam, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt
Nam;
(2) Công dân nước ngoài - bao gồm người mang quốc tịch của quốc gia, vùng lãnh
thổ khác, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam;
Trang 2
(3) Người không quốc tịch đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam.
3. Phân loại và phạm vi bồi thường thiệt hại
Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên
xét về mặt tổ chức thực hiện quyền lực, các công việc mà Nhà nước thực hiện được chia
thành các hoạt động: Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (hoạt động
lập pháp); tổ chức thực hiện pháp luật (hoạt động hành pháp) và bảo vệ pháp luật (hoạt
động tư pháp). Các hoạt động này do các cơ quan tương ứng của Nhà nước thực hiện, cụ
thể bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, với quan
điểm lập pháp cho rằng, việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
phải bảo đảm phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước cần phải được quy định phù hợp
dân sự, hợp đồng kinh tế.
- Những thiệt hại gây ra do tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, vận hành của
Nhà nước.
- Những trường hợp thiệt hại gây ra do việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
¬- Những trường hợp thiệt hại gây ra không phải trong quá trình thi hành công vụ.
II. Trách nhiệm bồi thường của nhà
1. Xác định thiệt hại được bồi thường
nước trong quản lí hành chính
Theo thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010
(TTLT số 19/2010) hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính quy định những thiệt hại được bồi thường:
Điều 5. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được xác định theo Điều 45 của Luật. Trong
trường hợp tài sản bị xâm phạm là quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài
sản khác gắn liền với đất thì thiệt hại được bồi thường được xác định theo quy định tại
Điều 45 của Luật và các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Thời gian tính lãi đối với các khoản tiền quy định tại khoản 4 Điều 45 của Luật
được tính từ ngày tiền được nộp vào ngân sách nhà nước; bị tịch thu; thi hành án; được
đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền đến ngày ban hành quyết định giải quyết bồi
thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc bản án, quyết định của Toà án.
Điều 6. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
1. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của tổ chức
Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của tổ chức quy định tại Điều
46 của Luật được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 2 năm liền kề trước thời
điểm xảy ra thiệt hại. Thu nhập của tổ chức được xác định theo báo cáo tài chính hợp
pháp của tổ chức; trường hợp không có báo cáo tài chính, tổ chức có thể chứng minh thu
quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động đầy đủ theo quy
định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không được nhận khoản tiền
bồi thường tương ứng; nếu người bị thiệt hại được cơ quan, người sử dụng lao
động trả lương, trả tiền công lao động một phần thì phần còn lại được xác định là
thu nhập thực tế bị giảm sút và họ được bồi thường khoản thu nhập bị giảm sút đó.
Ví dụ 1:
Ông A làm nghề bán báo tự do. Do bị đưa vào cơ sở chữa bệnh trái pháp luật nên
trong thời gian này ông A không có thu nhập. Thu nhập của ông A trước khi bị đưa vào
cơ sở chữa bệnh là không ổn định nhưng xác định được thu nhập của ông A trong 3 tháng
trước khi bị thiệt hại lần lượt là 1.200.000 đồng, 1.000.000 đồng và 1.100.000 đồng. Thu
nhập thực tế của ông A được xác định là mức thu nhập trung bình của 3 tháng liền kề
trước khi xảy ra thiệt hại: 1.100.000 đồng. Trường hợp này, thu nhập thực tế của ông A bị
mất và ông A được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bị đưa vào
cơ sở chữa bệnh mỗi tháng là 1.100.000 đồng.
Trang 5
Ví dụ 2:
Bà B làm cho một công ty tư vấn pháp luật. Thu nhập của bà B trước khi sức khoẻ
bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Do sức khoẻ bị xâm
phạm, bà B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho bà B 40% tiền lương là
1.200.000 đồng. Trường hợp này, thu nhập thực tế của bà B bị giảm sút mỗi tháng
1.800.000 đồng nên bà B được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị giảm sút trong thời
gian điều trị.
Ví dụ 3:
Ông C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định là 1.700.000 đồng. Do sức
khoẻ bị xâm phạm, ông C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đầy đủ
các khoản thu nhập cho ông C. Trường hợp này, thu nhập thực tế của ông C không bị mất
nên ông C không được bồi thường khoản tiền này.
Điều 7. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần
định tại khoản 3 Điều 47 của Luật được xác định như sau:
a) Nếu người bị thiệt hại chết trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa
vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh mà không phải do lỗi của
chính họ hoặc không do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết thì thân nhân của
họ được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần một khoản tiền là ba trăm sáu
mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại
thời điểm giải quyết bồi thường.
b) Nếu người bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở
giáo dục, cơ sở chữa bệnh chết trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh mà do lỗi của chính họ hoặc
do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết thì thân nhân của họ không được bồi
thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của
Luật.
c) Khoản tiền bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần là khoản tiền bồi
thường chung cho thân nhân của người bị thiệt hại (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha
nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại, người trực tiếp nuôi dưỡng
người bị thiệt hại). Những người được bồi thường trong trường hợp này phải còn
sống tại thời điểm người bị thiệt hại chết.
Điều 8. Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước
khi chết quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với
tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời
điểm chi, bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế;
tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế; chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu
âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền tiếp đạm,
tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi
phí thực tế, cần thiết khác trước khi người bị thiệt hại chết (nếu có).
2. Chi phí cho việc mai táng người bị thiệt hại chết quy định tại khoản 2 Điều 48
của Luật được xác định theo mức trợ cấp mai táng theo quy định của pháp luật bảo hiểm
c) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời
gian điều trị được xác định theo quy định tại Điều 46 của Luật và theo hướng dẫn
tại khoản 2 Điều 6 Thông tư này.
3. Người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm
sóc là người không còn khả năng thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Chi
phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại mất khả năng lao động
quy định tại khoản 4 Điều 49 của Luật được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho
người chăm sóc người tàn tật ở địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
2. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường
Theo quy định tại điều 14 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước thì cơ quan có trách
nhiệm bồi thường:
Trang 8
Điều 14. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường
1. Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái
pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
2. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan có trách nhiệm bồi
thường được xác định như sau:
a) Trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được chia tách,
sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan
nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết
định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
b) Trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi
hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì
cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại
thời điểm gây ra thiệt hại;
+ Trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại do các cơ quan
chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định
13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và các cơ quan khác trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý
thì các cơ quan này có trách nhiệm bồi thường.
+ Trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là thành viên
Ủy ban nhân dân cấp huyện và người thi hành công vụ do các cơ quan chuyên
môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp quản lý thì cơ quan có trách
nhiệm bồi thường là Ủy ban nhân dân cấp huyện.
+ Trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là thành viên
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc là cán bộ, công chức cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp
xã là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
+ Cơ quan nhà nước khác theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về
công tác bồi thường có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này.
III. Thủ tục giải quyết bồi thường
1. Thủ tục giải quyết bồi thường
Việc giải quyết yêu cầu bồi thường tại tòa án được thực hiện theo quy định tại
điều 15, 16, 17, 18, 19, 20 và điều 21 trong Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước
cụ thể như sau:
Điều 15. Yêu cầu xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ
1. Cá nhân, tổ chức khi cho rằng mình bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây
ra thì có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét, kết luận hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.
Trang 10
quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường.
Điều 18. Xác minh thiệt hại
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có
trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định
mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại
nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể kéo dài nhưng không quá 40 ngày.
Trang 11
2. Căn cứ vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường
có thể tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại về tài sản, giám định thiệt hại về
sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc giải quyết bồi thường. Chi
phí định giá, giám định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước.
3. Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định mà
yêu cầu định giá, giám định lại và được cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng ý thì chi
phí định giá, giám định lại do người bị thiệt hại chi trả, trừ trường hợp kết quả định giá,
giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có căn cứ.
Điều 19. Thương lượng việc bồi thường
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có
trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về
việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn
thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
2. Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường và
người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp cần thiết, người thi
hành công vụ gây ra thiệt hại được mời tham gia vào việc thương lượng.
Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm quyền để
thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm trước cơ quan có
ra thiệt hại.
Điều 21. Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường
Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị
thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi
kiện ra Toà án.
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định người bị thiệt hại phải thực
hiện việc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp
luật gây thiệt hại giải quyết bồi thường trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi
thường. Thủ tục giải quyết bồi thường gồm các giai đoạn:
Thứ nhất, giai đoạn yêu cầu xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ:
Sau khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ, người bị thiệt hại lập hồ sơ yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường bồi
thường cho người bị thiệt hại (Điều 15 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà
nước năm 2009).
Thứ hai, giai đoạn lập hồ sơ yêu cầu bồi thường:
Đơn yêu cầu bồi thường gồm có các nội dung chính sau đây: tên, địa chỉ của
người yêu cầu bồi thường; lý do yêu cầu bồi thường; thiệt hại và mức yêu cầu bồi
thường. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng
cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường(Điều 16).
Trang 13
Thứ ba, giai đoạn thụ lý đơn yêu cầu bồi thường:
Khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, trong thời hạn 05 ngày cơ quan có trách
nhiệm bồi thường phải kiểm tra và xác định tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo.
Nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã
nhận hồ sơ phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn cho người bị thiệt
Trang 14
Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải có chữ ký
của các bên và được gửi cho người bị thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương
lượng.
Một điểm cần lưu ý là trong bất cứ trường hợp nào (có thương lượng thành hoặc
không thành) thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường vẫn ra quyết định giải quyết bồi
thường.
Thứ sáu, giai đoạn cơ quan có trách nhiệm bồi thường ra quyết định giải quyết bồi
thường:
Trường hợp người bị thiệt hại đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường và
không khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định
giải quyết bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt
hại, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành
công vụ gây ra thiệt hại.
Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị
thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi
kiện ra Toà án.
Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường
thì trong thời hạn 15 ngày trước khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, người
bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường.
Lưu ý, trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật
thì người bị thiệt hại không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
2. Giải quyết yêu cầu bồi thường tại tòa án
Việc giải quyết yêu cầu bồi thường tại tòa án được thực hiện theo quy định tại điều
22, điều 23 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước:
1. Trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính mà người khởi kiện cho rằng, hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì có quyền yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính thực hiện việc giải quyết bồi thường. Trong
trường hợp này, đơn khởi kiện còn phải có các nội dung sau đây:
a) Yêu cầu xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;
b) Nội dung yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường;
d) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường.
2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính được áp dụng theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính.
Điều 25. Nội dung giải quyết yêu cầu bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính nếu có yêu cầu bồi thường thì bản
án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung sau đây:
a) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;
b) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;
Trang 16
c) Mức bồi thường;
d) Hình thức bồi thường.
2. Việc xác định trách nhiệm bồi thường và mức bồi thường được thực hiện theo
quy định của Luật này.
IV. Trách
nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ được thực hiện theo qui định của
Trang 17
thẩm quyền xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường theo quy định
tại Điều 26 Luật TNBTCNN.
Trong trường hợp các văn bản quy định tại khoản 1 Điều này chưa xác định lỗi
của người thi hành công vụ thì Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả căn cứ vào các tài
liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và các tình tiết của vụ việc để xác định lỗi của
người có trách nhiệm hoàn trả trên cơ sở áp dụng quy định của pháp luật dân sự và quy
định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 TTLT này.
2. Việc kiến nghị về việc xác định lỗi của người có trách nhiệm hoàn trả được thực
hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín và theo nguyên tắc đa số trên tổng số thành viên Hội
đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả có mặt.
Trường hợp số phiếu biểu quyết là ngang nhau thì việc xác định lỗi của người thi
hành công vụ sẽ do Chủ tịch Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả quyết định.
Điều 8. Xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ
1. Nguyên tắc xác định mức hoàn trả
a) Việc xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ được thực hiện theo quy
định tại Điều 16 và Điều 18 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP;
b) Mức hoàn trả của người thi hành công vụ được xác định tối đa không vượt quá
số tiền thực tế mà Nhà nước đã chi trả cho người bị thiệt hại.
2. Xác định mức hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây
ra thiệt hại
a) Trường hợp số tiền bồi thường thực tế đã chi trả là dưới ba mươi (30) triệu đồng
thì mức hoàn trả được xác định là tối đa không quá một (01) tháng lương của người đó tại
thời điểm quyết định việc hoàn trả;
b) Trường hợp số tiền bồi thường thực tế đã chi trả từ ba mươi (30) triệu đồng đến
dưới một trăm (100) triệu đồng thì mức hoàn trả được xác định tối thiểu là một (01) tháng
lương và tối đa không quá hai (02) tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định
định tại Điểm d và Điểm đ Khoản 2 Điều 14 Luật TNBTCNN và người thi hành công vụ
có trách nhiệm hoàn trả không do cơ quan này trực tiếp quản lý thì cơ quan có trách
nhiệm bồi thường phải gửi Quyết định hoàn trả tới cơ quan trực tiếp quản lý người đó và
cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó.
2. Thủ tục ban hành và trách nhiệm của người có thẩm quyền ban hành Quyết định
hoàn trả thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP.
Điều 10. Thực hiện việc hoàn trả
1. Việc hoàn trả được thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật TNBTCNN.
Trường hợp để xác định việc hoàn trả được thực hiện một lần hoặc nhiều lần, Hội
đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả căn cứ vào điều kiện kinh tế, thu nhập thực tế, số
lượng đối tượng thuộc phạm vi giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật về thuế thu
nhập cá nhân của người có trách nhiệm hoàn trả đã gây ra thiệt hại để xem xét, quyết
định phương thức hoàn trả.
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả có thể mời
người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại tham dự cuộc họp của Hội đồng xem xét trách
nhiệm hoàn trả.
Trang 19
2. Trường hợp người thi hành công vụ thực hiện hoàn trả một lần thì trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày Quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật, người có trách nhiệm
hoàn trả phải trả đủ số tiền đã được xác định trong Quyết định hoàn trả.
3. Trường hợp thực hiện hoàn trả nhiều lần thì người có trách nhiệm hoàn trả số
tiền theo mức và thời hạn đã được xác định trong Quyết định hoàn trả.
Điều 11. Trách nhiệm thông báo về việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả
1. Sau khi Quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi
thường có trách nhiệm thông báo việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả cho người có trách
nhiệm hoàn trả.
trả được thực hiện theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch số
71/2012/TTLT-BTC-BTP.
Điều 13. Trách nhiệm báo cáo việc xem xét trách nhiệm hoàn trả
1. Trong quá trình thực hiện việc xem xét trách nhiệm hoàn trả, cơ quan có trách
nhiệm bồi thường phải báo cáo cho cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp về các nội dung
sau đây:
a) Việc thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả;
b) Mức hoàn trả và phương thức hoàn trả;
c) Thu số tiền hoàn trả vào ngân sách nhà nước;
d) Việc khiếu nại hoặc khởi kiện Quyết định hoàn trả (nếu có).
Kèm theo báo cáo phải có bản sao các tài liệu có liên quan đến việc xem xét trách
nhiệm hoàn trả.
2. Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau
đây viết tắt là UBND cấp tỉnh) thì báo cáo về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả theo quy
định tại Khoản 1 Điều này được gửi cho Bộ Tư pháp.
3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng phải báo cáo việc
xem xét trách nhiệm hoàn trả tới cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan tiến hành tố tụng
trung ương.
4. Ngoài các nhiệm vụ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này, theo yêu cầu
của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền, cơ quan có trách
nhiệm bồi thường phải kịp thời báo cáo về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả để phục vụ
hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Điều 14. Thực hiện theo dõi hoạt động xem xét trách nhiệm hoàn trả
1. Bộ Tư pháp theo dõi hoạt động xem xét trách nhiệm hoàn trả trong hoạt động
quản lý hành chính và thi hành án trên phạm vi cả nước.
2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo dõi hoạt động xem
xét trách nhiệm hoàn trả trong phạm vi ngành mình.
cụ thể
Điều 16. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã
nghỉ hưu
1. Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả là cán bộ, công chức đã nghỉ hưu thì
việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của họ được thực hiện theo các quy định từ Điều 6 đến
Điều 11 Thông tư liên tịch này.
2. Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã được cơ quan có trách nhiệm bồi
thường thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả mà cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn
trả thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội đang trả
lương hưu cho người có trách nhiệm hoàn trả thu hồi số tiền hoàn trả bằng việc trừ dần
Trang 22
vào lương hưu hàng tháng theo mức từ mười (10) đến ba mươi (30) phần trăm lương hưu
hàng tháng của người có trách nhiệm hoàn trả.
Điều 17. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã
chuyển công tác sang cơ quan khác trong bộ máy nhà nước
1. Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã chuyển công tác đến cơ quan
khác trong bộ máy nhà nước thì việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người đó được
thực hiện theo quy định từ các Điều 6 đến Điều 11 Thông tư liên tịch này.
2. Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã được cơ quan có trách nhiệm bồi
thường thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả mà cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn
trả thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường phối hợp với cơ quan nhà nước đang quản lý
người đó thu hồi số tiền hoàn trả bằng việc trừ dần vào lương hàng tháng theo mức từ
mười (10) đến ba mươi (30) phần trăm lương hàng tháng của người có trách nhiệm hoàn
trả.
Điều 18. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả
b) Ngay sau khi ban hành Quyết định hoàn trả, cơ quan đã ra Quyết định
hoàn trả có trách nhiệm gửi Quyết định này đến người thi hành công vụ có trách
nhiệm hoàn trả. Người có trách nhiệm hoàn trả có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
hoàn trả theo mức và phương thức được xác định tại Quyết định hoàn trả trong
trường hợp Quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Khoản 1
Điều 61 Luật TNBTCNN.
Điều 19. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả chết
1. Trường hợp Quyết định hoàn trả được ban hành trước khi người có trách nhiệm
hoàn trả chết và người có trách nhiệm hoàn trả có tài sản thừa kế và người thừa kế, thì
những người thừa kế di sản của người đó phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định
của pháp luật thừa kế.
Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả chết mà không có di sản thì cơ quan có
trách nhiệm bồi thường có trách nhiệm xác minh, lập thành văn bản và có xác nhận của
chính quyền địa phương nơi người đó cư trú khi còn sống về việc người đó không có di
sản.
Ngay sau khi hoàn thành việc xác minh, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải
ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Trong thời hạn ba (03) ngày làm việc
kể từ ngày ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả, cơ quan có trách nhiệm bồi
thường phải báo cáo bằng văn bản và gửi kèm theo quyết định miễn thực hiện trách
nhiệm hoàn trả tới cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan tài chính có thẩm quyền.
2. Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả chết trước khi cơ quan có trách
nhiệm bồi thường ban hành Quyết định hoàn trả thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường
không xem xét trách nhiệm hoàn trả đối với người đó.
Điều 20. Quyền khởi kiện người có trách nhiệm hoàn trả thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã tiến hành các biện pháp cần
thiết theo quy định của pháp luật mà vẫn không thu hồi được số tiền hoàn trả của người
có trách nhiệm hoàn trả thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường có quyền khởi kiện người
đó yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tại