TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI CAO HỌC môn tâm LÝ HỌC đầu VÀO (LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC) - Pdf 41

ĐỀ CƯƠNG ÔN LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC
VẤN ĐỀ 1: TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HY LẠP CỔ ĐẠI

1. Bối cảnh chung:
- Vào khoảng từ thế kỷ VII trước công nguyên, trong tư duy của các triết gia cổ đại,
người ta đã đề cập đến khái niệm “tâm hồn”, đó là thế giới tinh thần bí ẩn của con người.
- Nhiều triết gia cổ đại đã đặt thành đối tượng để nghiên cứu, lý giải. Nổi bật trong số này
là Socrate (470-399 TCN), nhà triết học duy tâm cổ Hi Lạp.
+ Bằng các câu hỏi thích hợp, ông đã giúp người đối thoại với mình tìm đến chân lý.
Lịch sử đã ghi nhận: đó là phương pháp Socrate. Các vấn đề mà Socrate quan tâm trong các
đối thoại bao gồm một lĩnh vực rất rộng của cuộc sống như chính nghĩa, phi nghĩa, thiện và ác,
lòng tốt, vẻ đẹp, lòng dũng cảm...
+ Quan điểm triết học và tâm lý học nổi tiếng của Socrate thể hiện trong châm ngôn “hãy
nhận thức chính bản thân mình”.
=> Việc xuất hiện châm ngôn này có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của khoa học
tâm lý, ở chỗ lần đầu tiêu trong lịch sử phát triển của khoa học nói chung, của triết học và tâm
lý học nói riêng đã có người kêu gọi cần phải nghiên cứu một loại hiện tượng thuộc về con
người. Chính mỗi con người, chính bản thân mình cần phải được nhận thức: nhận ra rằng con
người cần phải biết suy nghĩ về chính mình có một ý nghĩa bước ngoặt vĩ đại.
- Sau Socrate, các học trò của ông, trong đó có Platon, rồi học trò của Platon là Aristote
cũng như nhiều triết gia khác nhau lao vào nghiên cứu lĩnh vực tinh thần riêng của con người,
tạo nên các quan niệm khác nhau về “tâm hồn”.
=> Trong các tư tưởng tâm lý học cổ đại, đáng kể là các học thuyết về tâm hồn của
Democrite (460 - 370 TCN), Platon (428-347 TCN) và Aristote (384-322 TCN).
2. Các tư tưởng tâm lý học Hy Lạp cổ đại.
a. Học thuyết về tâm hồn của Democrite.
- Démocrite (460-370 TCN) là nhà duy vật chủ nghĩa cổ Hi Lạp. Lênin đã đánh giá
Democrite là đại biểu xuất sắc nhất cho chủ nghĩa duy vật cổ đại.
- Các tư tưởng triết học và tâm lý học duy vật tiến bộ của Democrite thể hiện thông qua
thuyết “nguyên tử luận” của ông, bao gồm các luận điểm cơ bản sau:
+ Nguồn gốc tạo nên vũ trụ bao la là các nguyên tử. Đó là các hạt vật chất nhỏ nhất vĩnh

nghĩa duy tâm khách quan. Platon là ông tổ của chủ nghĩa duy tâm triết học ở Tây Âu.
- Các quan điểm triết học và tâm lý học chủ yếu:
+ Platon chủ xướng học thuyết về sự tồn tại của những hình thức vật thể của các vật
mà ông gọi là những “loài” hay những “ý niệm” và đồng nhất chúng với tồn tại. Cơ sở
của trật tự của thế giới này là lĩnh vực của các hình thức vĩnh hằng ẩn dấu sau bầu trời,
trong vương quốc các ý niệm.
+ Quan niệm về tâm hồn được xây dựng trên cơ sở “ý niệm”: Tâm hồn là cái vận động
nhất và có khả năng tự vận động. Hồn nhập vào cơ thể và có sứ mệnh điều khiển cuộc sống
của cơ thể. Nó là cái có trước còn cơ thể chỉ là mặt tồn tại vật chất vô nghĩa, thụ động.
+ Cấu trúc tâm hồn: Gồm 3 phần với các chức năng khác nhau: tâm hồn tình cảm, lý trí
và tâm hồn dũng cảm- ý chí.
+ Quan niệm nhận thức: Học thuyết về nhận thức của Platon được xây dựng trên các
khái niệm tồn tại, không tồn tại và tồn tại cảm tính.
+ Platon chia quá trình nhận thức của con người ra hai bậc: nhận thức cảm tính và lý tính.
Hai quá trình này bổ sung cho nhau.
+ Quan niệm về con người: Platon coi trọng các hiện tượng trí tuệ, đạo đức và con người và đã
kéo được các nhà triết học thảo luận về điều đó.
=> Đánh giá chung:
- Platon là ông tổ của chủ nghĩa duy tâm triết học ở Tây Âu. Ông đã phê phán sự ngự trị
gần 200 năm của các con số của Pythagore, kéo các nhà triết học, tâm lý học đi vào các khía
cạnh hiện thực của cuộc sống con người là lĩnh vực đạo đức, trí tuệ. Điều này có ý nghĩa to lớn
cho sự phát triển tâm lý học. Mặc dù khi giải thích nó ông lại giải thích bằng quan điểm duy
tâm.
- Quan điểm về tâm hồn của Platon có bước tiến lớn: Nhìn tâm hồn theo quan điểm cấu
trúc, chức năng và có thứ bậc.
- Các vấn đề mà Platon nêu ra đã gây ra những sự tranh cãi khác nhau kích thích việc đi
tìm các giải thích mới mà sau đó được người học trò của là Aristote thực hiện.
c. Học thuyết về tâm hồn của Aristote: “Bàn về tâm hồn - Tác phẩm đầu tiên của Tâm
lý học”.


riêng biệt cần phải được nghiên cứu riêng, cần trở thành đối tượng của một khoa học chứ
không phải là một tồn tại tự nó. Các quan điểm về tâm hồn của các tác gia thời kỳ này như là
“những mô hình thử nghiệm đầu tiên” (V.I.Lênin) còn các tác gia của nó: “Các nhà tư tưởng
Hi Lạp mãi mãi là bậc thầy của chúng ta bởi vì bằng tính hồn nhiên khách quan to lớn, họ đã
tìm ra được đối tượng nghiên cứu dưới dạng thuần khiết sạch sẽ của nó, tuy chưa thật rõ nét”
(Các Mác).
- Đỉnh cao của tâm lý học cổ đại là học thuyết về tâm hồn của Aristote được trình bày
trong tác phẩm “Bàn về tâm hồn” của ông.
- Do hạn chế của lịch sử và mức độ phát triển của khoa học lúc đó, hệ thống quan điểm
về tâm hồn thời cổ đại còn mang tính tự nhiên, tự phát, máy móc, phần lớn mang màu sắc duy
linh và còn dừng ở góc độ tiền khoa học.

VẤN ĐỀ 2: TÂM LÝ HỌC THẾ KỶ XVII

1. Bối cảnh chung


- Từ thế kỷ thứ XVII, một hiện tượng nổi bật ở châu Âu là sự phát triển mạnh của
các công trường thủ công đã làm cho chủ nghĩa tư bản đã được hình thành và bắt đầu đạt
mức phát triển khá cao ở nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan... kinh tế tư bản
chủ nghĩa phát triển mạnh.
- Trong khoa học tự nhiên đã bắt đầu có các phát kiến quan trọng phá tan nhiều quan
niệm cũ về thế giới, về xã hội, về những tồn tại xung quanh con người, về sinh lý học và về
chính con người (phát minh ra kính hiển vi (Hà Lan) đầu thế kỷ XVII; Galilê nhờ có kính viễn
vọng, đã chứng minh tính đúng đắn của lý thuyết Côpécnich: trái đất quay xung quanh mặt
trời, góp phần vào đập tan nhiều giả thuyết hoang đường về con người và vũ trụ..)
- Thế kỷ XVII cùng là thời kỳ hoàng kim của các hệ thống siêu hình học với các đại biểu
nổi tiếng như R.Descartes, B.Spinoza, G.Leibnitz...
=> Chính vì vậy những quan niệm duy tâm phản khoa học đã có trước đây về tâm hồn
con người khó đứng vững. Con người đòi hỏi phải có những lý giải khoa học về đời sống tinh

+ Kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi ý niệm.
+ Các ý niệm nảy sinh, hoặc là do các tác động của các vật thể bên ngoài vào giác quan
(ý niệm của cảm giác) hoặc là do sự chú ý hướng về tình trạng và hoạt động của tâm hồn (ý
niệm của phản tư). Nhờ có ý niệm của cảm giác mà chúng ta tri giác được chất thứ nhất hoặc
chất thứ hai trong các sự vật (còn gọi là chất có trước hoặc chất có sau).
+ ý niệm do kinh nghiệm đem lại chỉ là tài liệu cho tri thức chứ chưa phải là bản thân tri
thức. Muốn trở thành tri thức, tài liệu của ý niệm phải được xử lý bằng hoạt động của lý trí.
John Locke viết: “Linh hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thể nói như một tờ giấy trắng,
không có một ký hiệu hay ý niệm nào cả ). Điều này đã khẳng định tư tưởng rằng tâm hồn con
người, nhận thức con người không phải là cái bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình con
người tiếp xúc, lĩnh hội từ thế giới đối tượng. Sự tiếp nhận này không diễn ra như nhau ở các


con người. Ông nhấn mạnh “Trong số những người được giáo dục như nhau tồn tại một sự bất
bình đẳng rất lớn về khả năng”.
=> ảnh hưởng của các tư tưởng triết học, tâm lý học của John Locke trong sự phát triển
của khoa học nói chung, tâm lý học nói riêng là rất to lớn. Những tư tưởng chính trị- xã hội
của ông đòi hỏi sự cần thiết phải tiến hành cải cách xã hội, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục phát
triển con người đã có ý nghĩa rất đáng kể cho tiến bộ xã hội.
* Về nguyên nhân của các hiện tượng tâm lý.
- Có quan niệm cho rằng nguyên nhân đó nằm ngay trong nội tại các hiện tượng tâm lý.
Laibnitxơ cho rằng thế giới tâm lý là sự vận động nội tại bên trong một “đơn tử”. Đây là tư
tưởng quyết định luận tâm lý.
- Descartes đã có quan niệm đúng, cho rằng nguyên nhân của các hiện tượng tâm lý nằm
ở bên ngoài hiện tượng này.
b. Thuyết phản xạ của Descartes
Đây là một thành tựu đáng kể nhất trong lịch sử phát triển khoa học thế kỷ XVII. Thuyết
phản xạ của Descartes là cơ sở khoa học cho tư tưởng quyết định luận duy vật trong triết học
và tâm lý học.
Vài nét về tiểu sử của Descartes.

cho rằng tâm hồn và cơ thể hợp lại thành tồn tại sống. Ông đã đặt nền móng cho nền tâm lý
học hiện đại.
c. Các nghiên cứu về quá trình nhận cảm, liên tưởng.
* Thuyết nhận cảm.
Trên cơ sở học thuyết phản xạ của Descartes, các nhà tâm lý học thế kỷ XVII đã cố gắng
giải thích một cách khoa học sự phát sinh các hiện tượng tâm lý dưới tác động của các kích
thích bên ngoài liên quan đến hoạt động của các giác quan. Những công trình thuộc phạm vi
này đã tạo nên dòng lý thuyết về nhận cảm (thuyết nhận cảm).
Những kết quả nghiên cứu đã đi đến khẳng định rằng:
- Cảm giác tri giác của con người là hiệu quả của một tác động từ bên ngoài lên cơ thể.
Bất kỳ một kích thích nào cũng được biểu đạt bằng danh từ của vật lý như cường độ, tính chất,
tần số...
- Về vai trò của các kích thích bên ngoài, có tác giả quan niệm các tác động từ bên ngoài
chỉ đóng vai trò nguyên nhân chứ không quyết định nội dung của cảm giác và tri giác
(Descartes và Locke).
=> Các kết quả dẫn ra ở trên có ý nghĩa khoa học to lớn ở chỗ vào thời kỳ này, do ảnh
hưởng thống trị của các quan điểm duy tâm, đã có không ít người đã quan niệm cảm giác của
con người có được là do tự cảm nhận thấy từ bên trong, không có liên quan đến các kích thích
bên ngoài, hoặc cảm giác có được là do sự kết hợp (phức hợp) hoạt động đặc biệt của các giác
quan. Cũng tồn tại những quan niệm cho rằng cảm giác xuất hiện chỉ đơn thuần là vận động
của cơ thể không có ảnh hưởng gì đến hoạt động sống. Nó là hiện tượng phụ ( Thomas
Hobbes).
* Thuyết liên tưởng.
Cũng có không ít tác giả lao vào việc giải thích các hiện tượng tâm lý nảy sinh bên trong
cơ thể sau khi có tác động từ bên ngoài. Dòng các nghiên cứu này tạo thành thuyết liên tưởng.
Đây là những cố gắng nhằm thử nghiệm tìm tòi, phát hiện ra cơ chế vận động của tâm hồn,
tâm lý. Nổi bật hơn cả trong số này là Hobbes Thomas, Locke, Dercartes.
Một số kết quả đạt được:
- Cơ chế liên tưởng có được chỉ là do các quá trình cảm tính đã xuất hiện vận động tiếp
như là theo quán tính. Không có môt lực lượng bên ngoài nào khác tham gia vào hành động

sinh ra đều như nhau: “Giới tự nhiên đã tạo ra mọi người như nhau cả về thể xác và tinh thần.
Nhưng sự khác nhau nhất định về thể xác và tinh thần giữa họ không lớn tới mức để cho bất
kỳ người nào dựa trên điều đó có thể kỳ vọng kiếm lợi điều gì cho bản thân mình mà những
người khác lại không thể làm được”.
→ Nhưng cũng theo ông, “con người luôn có các khát vọng, nhu cầu riêng, và đây là tiền
đề để con người làm điều ác. Mỗi người hành động trước tiên “vì tính ích kỷ yêu bản thân
mình chứ không phải vì xã hội, không phải vì lợi ích của người khác”. Ông cũng khẳng định
lợi ích cá nhân là một trong những động lực cơ bản trực tiếp của hoạt động của mỗi con người
và toàn xã hội.
=> Các quan niệm của ông còn chịu ảnh hưởng khá lớn của chủ nghĩa duy vật tự nhiên trong
việc xem xét đánh giá con người và các hiện tượng xã hội người, các quan niệm này cũng bộc lộ
rõ xu hướng tư sản tiến bộ đấu tranh đòi phá bỏ thần quyền, sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội
phong kiến, nhu cầu mở rộng dân chủ, thúc đẩy xã hội phát triển.


- B. Spinoza là một nhà triết học lỗi lạc người Hà Lan chịu ảnh hưởng nhiều của triết học
Descarte. Tác phẩm Đạo đức học (1675) của ông đã đem lại cho chúng ta những phân tích khá
sâu sắc về con người.
+ Ông quan niệm con người là một bộ phận của tự nhiên và qui toàn bộ tính chất phức
tạp trong đời sống tâm lý vaò lý tính và những sự say mê hay xúc động, niềm vui, nỗi buồn,
khát vọng. Ông nhấn mạnh các đam mê trong con người. Ông đồng nhất ý chí với lý tính và
cho rằng, ý muốn bảo tồn và kiếm lợi cho bản thân là động cơ thúc đẩy hành vi con người.
+ Spinoza cũng nhấn mạnh đến các xúc cảm. Những xúc cảm tích cực như vui sướng,
tình yêu,... thì thúc đẩy hoạt động còn các xúc cảm buồn chán, căm thù... thì ngược lại kìm
hãm cản trở con người.
=> Những tư tưởng của T. Hobbes và B. Spinoza về lĩnh vực này vẫn còn là những tư
tưởng sâu sắc được nhiều nhà tâm lý học sau đó và hiện nay hết sức coi trọng và tiếp tục
nghiên cứu phát triển.
Đánh giá chung
- Sự phát triển của tâm lý học thế kỷ XVII có một vai trò đặc biệt trong sự phát triển của

đòi hỏi cần phải lý giải những vấn đề phức tạp trong đời sống tinh thần con người. Tất cả các
điều trên một cách khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển.
=> Các nhà tâm lý học thế kỷ XVIII đã hướng cố gắng của mình vào khắc phục các tư
tưởng nhị nguyên còn rơi rớt từ Descartes và Locke. Nhiều tác giả đã bỏ công sức giải thích
nguyên nhân, sự vận hành của các hoạt động tâm lý bằng các thành tựu mới của vật lý, sinh lý,
sinh vật học... Nổi bật ở thế kỷ này là công lao của các nhà tâm lý học liên tưởng Anh và các
nhà tâm lý học duy vật Pháp.
2. Các thành tựu tâm lý học thế kỷ XVIII.
a. Tâm lý học liên tưởng Anh
* Thuyết dao động của D. Hartley (1705-1757) D. Hartley là bác sĩ, nhà triết học duy vật
người Anh. Một trong những người sáng lập ra tâm lý học liên tưởng: “Người đầu tiên làm
cho liên tưởng trở thành phạm trù tổng hợp giải thích toàn bộ hoạt động tâm lý”.
Tác phẩm “Quan sát con người” (1749) của ông đã đặt khởi nguyên cho chủ nghĩa liên
tưởng cổ điển. Học thuyết Hartley được xây dựng trên giả thuyết về dao động, một thuật ngữ
thuần vật lý học.
Nội dung của học thuyết D. Hartley thể hiện:
- Dao động trong không gian được truyền vào cơ thể, trong hệ thần kinh người xuất hiện
hai dao động lớn và nhỏ. Dao động lớn sinh ra ở hệ các dây thần kinh; dao động nhỏ sinh ra
trong não bộ và tuỷ sống. Các dao động này là nguồn gốc sinh ra tâm lý.
- Dao động lại tiếp tục được truyền từ não qua các dây thần kinh đến các cơ quan vận
động, gây ra một cử động.
- Hệ thần kinh có một khả năng đặc biệt là ghi nhớ lại các dao động đó. Đây cũng là tính
chất điển hình của cơ thể khác với các vật thể khác. Nhờ qui luật liên tưởng, hoạt động tâm lý
xuất hiện.
- Quá trình liên tưởng diễn ra có sự tham gia của động cơ như đam mê, mong muốn, thoả
mãn, không thoả mãn), còn nguồn gốc của động cơ là từ các môi trường xung quanh con
người.
- Quá trình hình thành những đặc tính riêng của con người hoàn toàn phụ thuộc vào tính
chất đòi hỏi của các tác động của môi trường xung quanh, của xã hội.
Đánh giá:

+ Hium tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, coi đó là điểm xuất phát và là dạng cơ bản của
nhận thức, đồng thời phủ nhận tính chất khách quan của tính nhân quả.
→ Cảm giác theo ông là “nguồn gốc tuyệt đối” của nhận thức. ý niệm là sự sao chép lại
các ấn tượng trong phạm vi của ý thức. “Tất cả các ý niệm đều được mô phỏng lại từ các ấn
tượng”.
→ Ông quan niệm, một trong những nguyên lý tồn tại trong con người là nguyên lý liên
tưởng (association). Bản chất của nguyên lý này không thể nhận thức được. Có 3 dạng liên
tưởng ý niệm: liên tưởng giống nhau; liên tưởng kế cận; liên tưởng nhân quả.
=> Thuyết liên tưởng của Beccơli và Hium là luận thuyết duy tâm, chủ trương không
thừa nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, chủ trương tách thế giới tinh thần ra khỏi các
quan hệ vật chất. Luận thuyết này đã tích cực củng cố lập trường nội quan và trên thực tế đã
cản trở cho sự phát triển của tâm lý học, về sau này được nhiều nhà triết học, tâm lý học lợi
dụng, trong đó có Wundt (Vuntơ).
b. Tâm lý học duy vật Pháp thế kỷ XVIII.
Quan điểm chung của các nhà tâm lý học duy vật Pháp ở thế kỷ này có nhiều điểm đáng
chú ý:


- Khẳng định cái tâm lý xuất hiện một cách khách quan ở những vật chất có tổ chức cao.
Tâm lý là chức năng của não.
- Không thể tách rời cái tâm lý ra khỏi cấu trúc của cơ thể.
- Trong xem xét lý giải các vấn đề tâm lý, các nhà duy vật Pháp thế kỷ 18 đã bắt đầu có
xu hướng nhìn nhận với quan điểm phát triển và có thứ bậc, thấy rõ hơn nguyên do của các
biểu hiện tâm hồn khác nhau của con người. Chủ nghĩa duy vật Pháp có sự liên hệ chặt chẽ với
hệ thống vật lý của Descartes.
- Nổi bật trong các nhà triết học và tâm lý học duy vật Pháp có thể nhận thấy:
* S.D. Montesquieu (Môngtexkiơ) (1689-1775).
- Môngtexkiơ là một trong những người sáng lập ra triết học khai sáng ở Pháp thế kỷ
XVIII. Ông là nhà triết học, nhà tư tưởng chính trị, nhà xã hội học và lịch sử học người Pháp.
Người tích cực phê phán thần học và nhà thờ.

- Đ.Điđơrô đã đề xuất được một số yếu tố của phép biện chứng: tư tưởng về mối liên hệ
của vật chất và vận động, về mối liên hệ của những quá trình đang diễn ra trong tự nhiên... đưa
chúng vào quan niệm duy vật máy móc về tự nhiên.
Ông nhấn mạnh “vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác chúng ta”
- Theo ông: trong vũ trụ chỉ có một thực thể đó là vật chất mà bản tính cố hữu của nó là
vận động. Linh hồn con người và thể xác có trong sự thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn là
một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Linh hồn cũng là đặc tính của vật chất. Linh hồn không tách
khỏi cấu trúc cơ thể. Ông viết “không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn) không là cái gì cả.
Tôi khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả”
Bàn
về nhân cách con người, ông quan niệm nhân cách của con người là sản phẩm của hoàn cảnh và
môi trường xung quanh. Ông phê phán tôn giáo và kêu gọi con người đừng tin vào tôn giáo. Việc
đưa ra lý luận duy vật về các chức năng tâm lý của ông đã dự kiến được học thuyết phản xạ sau
này.
Ph.Ăngghen đã đánh giá ông là “những kiểu mẫu cao đẹp của phép biện chứng” còn
V.I.Lênin thì nhận xét “Điđơrô đã tiến rất sát đến những quan điểm của chủ nghĩa duy vật hiện
đại”.
* Jean Jacques Rousseau (1712-1778).
- J.J.Rousseau (G.G.Rút- xô) là nhà triết học, xã hội học, mỹ học, một trong những nhà lý
luận giáo dục học vĩ đại. Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công làm đồng hồ ở Giơnevơ
(Thuỵ sĩ).
Các quan điểm triết học và tâm lý học của J.J Rousseau thể hiện:
- Khẳng định lịch sử của nhân loại là kết quả hoạt động của con người chứ không phải do
“bàn tay” xếp đặt của Thượng đế.
- Khẳng định con người là “con người tự nhiên”. “Con người sinh ra vốn được tự do, thế
nhưng chỗ nào anh ta cũng bị gông cùm”
- Khẳng định vai trò của xã hội, của giáo dục mang tính quyết định trong việc hình thành
con người. Trong tác phẩm Emile hay luận về giáo dục ra đời vào năm 1762, ở chương 1
Rousseau viết “Tất cả cái gì ta không có khi sinh ra đời và ta cần dùng đến khi ta trưởng thành,
đều là do giáo dục cấp cho ta cả”. Trong tác phẩm này, Rousseau cũng tỏ rõ quan điểm của

- Với xã hội, ông thừa nhận vai trò quyết định của môi trường xã hội trong hình thành
giáo dục con người. .. Ông đề xuất chủ trương kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
- Tư tưởng về khả năng trí tuệ như nhau ở các con người đã tham gia mở đường cho chủ
nghĩa xã hội không tưởng.
Các tác phẩm chủ yếu: Bàn về trí tuệ (1758); Bàn về con người (1773).
* Pierre Jean Georges Cabanis.
- Pierre Jean Georges Cabanis (P.G.G.Cabanit) là nhà triết học duy vật tầm thường, nhà
khai sáng, người thầy thuốc Pháp...
- Quan điểm triết học duy vật của ông thể hiện trong việc coi ý thức lệ thuộc chủ yếu vào
những chức năng sinh lý của con người, vào hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể. Với
ông, lần đầu tiên được hiểu Tâm lý là chức năng của não. Khẳng định không thể tách rời cái
tâm lý ra khỏi cấu trúc của cơ thể. Ông quan niệm “não là cơ quan đặc biệt sản xuất ra ý nghĩ
cùng giống như dạ dày, ruột để tiêu hoá, gan tiết ra mật”.
Tác phẩn chính của ông Quan hệ giữa thể chất và tinh thần của con người (1802).

2


Tóm lại:
- Các nhà tâm lý học duy vật Pháp thế kỷ XVIII đã biết dựa chặt vào các thành tựu của
khoa học tự nhiên trong việc phát hiện qui luật, giải thích các hiện tượng tâm lý người.
- Ph.Ănghghen đã nhận định, các nhà duy vật Pháp cho đến thế kỷ XVIII, luôn luôn “cố
gắng cắt nghĩa thế giới bằng bản thân nó, không dựa vào nguyên do nào bên ngoài cả”. Thiếu
sót chủ yếu của các nhà triết học, tâm lý học duy vật Pháp là họ vẫn nhìn con người và tâm lý
con người máy móc, mang nặng quan điểm cơ giới siêu hình mà chưa thấy được bản chất của
hiện tượng tâm lý người là sản phẩm của quá trình xã hội- lịch sử.
Đương nhiên, cống hiến của các nhà tâm lý học duy vật Pháp là vô cùng to lớn cho lịch
sử phát triển tâm lý học bởi nó định hướng duy vật và đặt nền móng cho việc xây dựng một
nền tâm lý học thực sự khách quan cho thế kỷ sau.
c. Wolf.C với tác phẩm mang tên tâm lý học.



đời sống tâm hồn, kích thích các nghiên cứu về tâm hồn, tâm lý con người phát triển, đặc biệt
là các nghiên cứu trong lĩnh vực nhận thức.
- Các thành tựu tâm lý học thời kỳ này là đáng kể, có sự tham gia đồng thời của nhiều
nhà khoa học ở nhiều nước, có thành tựu đạt được cùng một lúc ở nhiều nơi. Tâm lý học đã có
tên gọi riêng. Khoa học tâm lý đang trên đường trưởng thành trở thành một khoa học độc lập.
2. Các thành tựu tâm lý học nửa đầu thế kỷ XIX
* Học thuyết phản xạ
- Một trong những người đi tiên phong nghiên cứu về giải phẫu thần kinh là nhà thần
kinh học người Anh Charles Bell (1774-1842), người chuyên nghiên cứu sâu về sự truyền dẫn
của các dây thần kinh tuỷ sống.
Các tác phẩm của ông gồm có: Phác thảo giải phẫu mới về não (1811) và Về các dây
thần kinh (1821). Các công trình nghiên cứu của Ch.Bell đã phát hiện:
+ Dây thần kinh, trên thực tế là bó các dây thần kinh khác nhau có tính chất riêng. Tính
chất này được xác định bởi phần não mà sợi thần kinh tham gia vào. Từ đó, Bell đã theo dõi
tất cả các sợi thần kinh đi vào não nhằm phát hiện cấu trúc của não, với đại não ông không
thành công.
+ Với tuỷ sống ông đã có các phát kiến quan trọng. Ông đã thiết lập được sự khác nhau
về chức năng của các rễ trước và rễ sau của thần kinh tuỷ sống. Ông đã chứng minh bằng thực
nghiệm cho thấy các sợi thần kinh của rễ sau làm nhiệm vụ tiếp nhận các xung động thần kinh
truyền tới (dây nhận cảm) còn các sợi dây thần kinh rễ trước làm nhiệm vụ điều khiển vận
động. Ông đã tiến hành chuyển xung động theo các dây thần kinh hướng tâm thông qua tuỷ
sống tới các dây thần kinh ly tâm. Các kết luận này đã được Bell chứng minh bằng thực
nghiệm.
- Các nghiên cứu của nhà sinh lý học người Pháp F.Magendie (1783-1855) chuyên
nghiên cứu về sinh lý học hệ thần kinh cũng đã đi đến những kết luận tương tự. Trong nhiều
năm Magendie đã cố gắng phát hiện qui luật của việc sắp xếp phân chia các sợi thần kinh cảm
giác và vận động trong tuỷ sống. Qui luật chuyển xung động thần kinh như vậy được gọi là qui
luật Bell- Magendie.

nhìn màu của Thomas Young nhà vật lý học và là bác sĩ người Anh và H.Helmholtz (18211894) nhà sinh lý học, nhà khoa học tự nhiên người Đức. T.Young (1773-1829) là nhà bác học
người Anh, một trong những người sáng lập ra lý thuyết sóng về ánh sáng. Đưa ra qui luật
giao thoa của sóng ánh sáng (1801), nêu ra tư tưởng về thiết diện ngang của sóng ánh sáng
(1817). Ông cũng đã đưa ra luận điểm giải thích về sự điều tiết, thích ứng của mắt. Ông cũng
đã soạn thảo về lý thuyết nhìn màu. Đưa vào áp dụng “suất đàn hồi” được mang tên ông. Các
tác phẩm của ông khá nhiều liên quan đến cả lĩnh vực âm học, thiên văn học cũng như sự giải
mã các chữ khó đọc của Ai Cập.
- Công trình của Stêbyx ( nhà sinh lý học người Đức) đã đi đến kết luận: Tri giác của con
người được hình thành dần dần nhờ vào quan hệ giữa các sản phẩm của hoạt động của các
cơ quan cảm giác và phản ứng vận động.
- Nghiên cứu của Ch.Bell đã khẳng định: Hình ảnh không gian của vật thể được hình
thành nhờ vào hoạt động phản xạ của cơ mắt từ đó có thể kết luận về tính phụ thuộc của hình
ảnh chủ quan vào cơ chế khách quan thần kinh cơ bắp.
Ch.Wheatston (1802-1875) nhà vật lý học người Anh, Ông cũng đã có những kết luận có
giá trị về hoạt động của mắt: Các quan hệ thần kinh- tâm lý trong hệ thống thị giác không có
được ngay từ khởi đầu mà được hình thành nhờ vào kinh nghiệm luyện tập. Chính Wheatston
đã nghiên cứu thị giác bằng kính lập thể tự sáng chế. Xêtrênốp đã có sự đánh giá cao các kết
quả nghiên cứu của Wheatstone và coi các kết quả này là sự khởi đầu của tâm lý học như là
một khoa học kinh nghiệm.
- Một hướng nghiên cứu khác về thị giác ở thời kỳ này có thể kể đến là các nghiên cứu
hoạt động của các cơ quan cảm giác khác liên quan đến thị giác, chẳng hạn biểu tượng không
gian về vật thể liên quan rất chặt tới biểu tượng của xúc giác... (công trình của Stênbyx).
- Nghiên cứu sâu về cấu trúc thần kinh thị giác do Thomas Young (1773-1829) tiến hành.
Ông đã đưa ra giả thuyết võng mạc chứa 3 loại sợi thần kinh trong đó mỗi sợi điều khiển một
tia sáng cho ta cảm giác màu đỏ, màu xanh lá cây, màu xanh da trời (1801).
- Công trình nghiên cứu về cảm giác màu sắc do J.W.Goethe (1749-1832) là nhà thơ, nhà
khoa học tự nhiên và là nhà tư tưởng vĩ đại người Đức thực hiện trong công trình mang tên
“Về lý thuyết màu sắc” viết từ năm 1805-1810.
+Trong công trình này, Goethe cho rằng màu đen và màu trắng là các màu cơ bản. Các
môi trường khoảng cách (như không khí) tham gia tạo thành các mầu còn lại. Mặt trời phụ

+ Vỏ não chứ không phải là các buồng não được xem là bản thể của hoạt động tâm lý.
Gall và các cộng sự đã giới thiệu bản đồ của não, trên đó ông đã chỉ các vùng não riêng biệt
đối với mỗi loại năng lực hoặc vùng cho một loại hiện tượng tâm lý như: vùng yêu thương,
vùng thù ghét, cùng khả năng toán học, khả năng sáng tạo thi ca...
+ Gall nêu ra luận điểm: Sự phát triển khác nhau của các vùng trên vỏ não dẫn đến ảnh
hưởng tới hình thức của xương sọ. Bởi vậy nếu nghiên cứu bề ngoài của xương sọ sẽ cho phép
chẩn đoán các đặc trưng cá nhân của nhân cách. Theo Gall, các vùng tâm lý trên não phát triển
thì phần bề ngoài của xương sọ chỗ đó sẽ lồi lên gọi là “bướu” năng khiếu. Độ lớn của bướu ăn
khớp với mức độ phát triển của năng lực tương ứng. Ông là người sáng lập ra một khoa học gọi
là “Phrinôlôghia”- Một lý thuyết phản khoa học về mối quan hệ của các thần kinh đạo đức và tâm
lý của con người với cấu trúc của xương sọ. Vào thời điểm lúc đó, lý thuyết của Gall đã được
hưởng ứng mang tính khá rộng rãi trong dân chúng. Dẫu sao lý thuyết Phi-Phinôlôghia của Gall
đã làm cho vấn đề định khu chức năng tâm lý trên não trở thành hấp dẫn kích thích các công
trình nghiên cứu thực sự mang tính khoa học về cấu trúc thần kinh não bộ.
- Các nghiên cứu về bán cầu đại não và tiểu não của Pierre Flourens (P.Phrurensơ) (17941876) nhà sinh lý học người Pháp.


Các công trình thực nghiệm khoa học nghiên cứu về não của P.Flourens, bác sĩ, nhà sinh
lý học người Pháp, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp (1840) viện sĩ thông tấn người nước
ngoài của viện hàn lâm khoa học Pêtécbua (1856). Ông đã dùng phương pháp loại trừ một số
phần nào đó của hệ thần kinh trung ương và trong một loạt các trường hợp tác động vào trung
tâm não, nơi khu vực nghiên cứu, bằng thuốc mê và đi đến các kết luận: Các quá trình tâmsinh lý cơ bản là tri giác, trí tuệ, ý chí là sản phẩm của não như là một cơ quan hoàn chỉnh.
Tiểu não phối hợp vận động. Trong hành não có trung tâm hô hấp điều khiển sự sống (phát
hiện năm 1822). Thị giác có quan hệ với củ não sinh tư. Chức năng của tuỷ sống là tiến hành
thúc đẩy kích thích thần kinh. Các công trình của P.Phrurensơ giữ vai trò quan trọng trong việc
phá vỡ bức tranh thần thoại phản khoa học về hoạt động của não và “bướu” năng khiếu mà
Gall đã đề ra.
* Tâm lý học liên tưởng
- Dòng Tâm lý học liên tưởng đã có từ thế kỷ XVIII, sang thế kỷ này vẫn được tiếp tục phát
triển nhưng đã có những biến đổi để phù hợp với những tiến bộ mới của khoa học tự nhiên.

Xuất phát từ tiền đề này, Gerbats đã soạn thảo học thuyết “Trạng thái tĩnh và năng động của
các biểu tượng”.


+ Herbart đã chống lại quan niệm của Kant về tri giác. Theo ông, khối lượng tri giác bao
gồm từ các biểu tượng và mỗi một trong chúng lại có được trong kinh nghiệm cá nhân, có thể
được cải biến, được “chương trình hoá” bởi nhà giáo dục.
Herbart đã nêu giả thuyết về các biểu tượng với tư cách là các đại lượng phát lực có khả
năng chịu sự phân tích về lượng. Mặc dầu các tìm tòi lập luận của Herbart còn nhiều khiếm
khuyết nhưng giả thuyết của ông về khả năng có tính nguyên tắc phân tích bằng toán học các
quan hệ giữa các sự kiện tâm lý học đã được G.T.Fechner (1801-1887) và G.Ebinhgausơ thừa
nhận. Tính chất tư biện trừu tượng của các biểu tượng cũng như quan niệm về cơ chế sinh lý
học của các liên tưởng, niềm khát vọng chỉ ra tính độc đáo của các quá trình đặc trưng cho
cuộc sống tâm lý khác thật sự với cuộc sống cơ thể đã dẫn học thuyết về liên tưởng đến chỗ
được xem là học thuyết về nguyên tắc nội tại của ý thức. ở đây, tư tưởng về tính nguyên nhân
tâm lý được khẳng định. Hoạt động tinh thần là có tính qui luật riêng của nó. Các qui luật này
không đồng nhất với các qui luật sinh lý học. Những điều này đã tham gia vào việc kích thích
cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tâm lý trong nửa cuối của thế kỷ này.
Tóm lại: - lịch sử của Tâm lý học từ thế kỷ thứ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX đã gắn liền
với các thành tựu của khoa học tự nhiên trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là
các thành tựu về sinh vật học, sinh lý học, vật lý... khẳng định tính khách quan có thật của các
hiện tượng tâm lý người. Đối tượng của khoa học tâm lý học ngày càng rõ.
- Cùng với sự phát triển của các khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ
XIX, tâm lý học cũng có những bước phát triển mới.
- Lần đầu tiên đã xuất hiện các tác phẩm mang tên tâm lý học. Các phương pháp nghiên
cứu tâm lý học thời kỳ này đã có những bước tiến rõ rệt, nổi lên là các phương pháp thực
nghiệm, thử nghiệm có sự hỗ trợ của các phương tiện, công cụ nghiên cứu riêng và có sử dụng
các phương pháp thống kê xử lí của toán học.
- Một điều đáng lưu ý ở thời kỳ này là có nhiều các công trình nghiên cứu được tiến hành
cùng một lúc ở nhiều nước nhưng lại đem đến các kết quả như nhau đã khẳng định tính chân

kích thích vật lý, các quá trình xảy ra trong hệ thần kinh và các quá trình cảm tính (cảm giác,
tri giác) của con người. Đại biểu của lĩnh vực nghiên cứu này trước tiên phải kể đến công lao
của nhà sinh lý học người Đức tên là Hecman Helmholtz (1821-1894) và nhà nghiên cứu tâm
sinh lý học người Pháp Dubois Reymond.
- H. Helmholtz đã có công nghiên cứu bằng thực nghiệm nhằm chứng minh các tác động
bên ngoài đến các giác quan của con người làm xuất hiện các hình ảnh về sự vật hiện tượng
trong não.
+ Ông đã tiến hành công trình nghiên cứu tri giác các vật thể, quan tâm tới sự khác nhau
giữa hình ảnh mà mắt người ghi nhận được với việc vẽ hình ảnh đó trên giấy hoặc chụp lại
các vật thể đó. Ông đã nhận thấy rằng mắt “nhìn thấy” sự vật nhiều hơn hình ảnh phẳng được
ghi lại trên giấy hoặc ống kính máy ảnh chụp lại vật thể đó, bởi vì mắt cảm nhận được, phát
hiện được các quan hệ đằng sau cái nhìn đó, chẳng hạn, độ lớn thực sự của vật, chiều sâu của
vật…và những lần tri giác sau thì khác những lần tri giác trước vì ít nhiều đã có cái mà H.
Helmholtz gọi đó là “kinh nghiệm”.
+ Các phát hiện của ông hoàn toàn đúng, nhưng giải thích nguyên do của sự kiện đó, ông
đã mắc sai lầm là quay về với luận điểm duy tâm của “thuyết năng lượng chuyên biệt” của
J.P. Muller (1801-1858). Thực nghiệm của ông cũng chỉ rõ, khi tri giác mắt người nhìn sự
vật tác động vào nó không phải chỉ có một lần mà mắt nhìn sự vật nhiều lần, vận động xung
quanh vật thể. Rõ ràng là có sự phối hợp của các cơ quan vận động và chính nhờ thế mà
con người có biểu tượng không gian 3 chiều về sự vật. Hình ảnh cảm tính thu được trong tri
giác sự vật không đơn thuần chỉ do một cơ quan cảm giác đem lại mà có sự phối hợp vận
động của nhiều cơ quan cảm giác khác như nghe (thính giác), sờ mó (xúc giác) v.v…Cảm
giác, tri giác là các hiện tượng tâm lý phản ánh thế giới tự nhiên bên ngoài con người thông
qua hoạt động của não, là hình ảnh chủ quan về hiện tượng khách quan bên ngoài. Các giác
quan của con người cùng với đường thần kinh hướng tâm, ly tâm và trung ương thần kinh
tương ứng được gọi là “bộ máy phân tích” .
+ Các thực nghiệm của H. Helmholtz cũng như nhiều thực nghiệm khác ở thời kỳ này
đã dẫn con người đi đến bác bỏ cái gọi là “năng lượng chuyên biệt” của các giác quan và
khẳng định mỗi giác quan có liên quan và thích ứng với một loại kích thích, chẳng hạn: ánh
sáng liên quan đến mắt, âm thanh liên quan đến tai…

với lôgarít cường độ kích thích. C= k.lgS (trong đó C là cường độ cảm giác, S là cường độ
kích thích, k là một hằng số tuỳ thuộc vào từng loại kích thích)
=> Ngày nay công thức này được gọi là công thức Fechner- Weber để ghi nhớ công lao
hai nhà bác học đã tìm ra nó. Các kết quả do tâm vật lý học đem lại đã minh chứng cho việc
khẳng định các quá trình tâm lý là có thật, có thể biểu đạt được nó qua các công thức toán học,
đồng thời có thể nghiên cứu các hiện tượng tâm lý bằng phương pháp thực nghiệm tức là bằng
các phương pháp khách quan. Phương hướng này cần được ủng hộ vì đây chính là các tư
tưởng duy vật trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lý người.
c. Nghiên cứu thời gian phản ứng
- Đây là hướng nghiên cứu nhằm vào làm rõ mối tương quan giữa hiện tượng sinh lý và
hiện tượng tâm lý bằng phương pháp thực nghiệm.
- Người tiến hành nghiên cứu theo hướng này là là F.K.Donders (1818-1889) nhà sinh lý
học người Hà Lan, viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Saint- Pétersbourg (từ năm 1887)


- F.K. Donders dựa trên kết quả nghiên cứu của Helmholtz đã tiếp tục nghiên cứu sâu
hơn: Đo thời gian phản ứng (viết tắt là tp). Thời gian phản ứng được xác định như sau: Bắt
đầu bằng kích thích tác động vào giác quan và kết thúc khi có một phản xạ tương ứng. Đem so
sánh thời gian phản ứng (tp) với thời gian dẫn truyền (tx), người ta nhận thấy tp>tx. Từ kết
quả trên ông cho rằng sở dĩ có sự chênh lệch đó là vì đã có các quá trình tâm lý tham gia vào.
Hay nói cách khác sở dĩ có sự chênh lệch đó là vì quá trình thần kinh diễn ra phức tạp hơn (do
có các pha bổ sung đó là các quá trình tâm lý). Một lần nữa nhận thấy có sự tồn tại thực của
các hiện tượng tâm lý . Hiện tượng này là khách quan và hoàn toàn có thể xác định được.
- Donders và các cộng sự của ông đã phân ra 3 loại phản ứng tâm lý: Phản ứng tâm lý
đơn giản; Phản ứng tâm lý lựa chọn; Phản ứng tâm lý phân biệt.
- Nghiên cứu thời gian phản ứng của F. Donders đã chỉ ra rằng: Trong thực tế có một
hiện tượng khác với hiện tượng trong sinh lý học thần kinh nghiên cứu, đó chính là hiện tượng
tâm lý chứ không phải là sinh lý. Đồng thời bằng công trình nghiên cứu của mình Donders
cũng chỉ ra là có thể dùng phương pháp khách quan để nghiên cứu hiện tượng tâm lý ở con
người. Và việc nghiên cứu đó phải được tiến hành bằng một khoa học mới đó là khoa học tâm

luận. Đó cũng chính là tâm lý học nội quan lấy phương pháp nội quan làm phương pháp duy
nhất để nghiên cứu tâm lý con người. Nội quan tức là tự quan sát, tự thể nghiệm trong chính
mình. Phương pháp này do Descartes (Pháp) và Locke (Anh) khởi xướng từ thế kỷ XVII. Tâm
lý học của Wundt thực chất là cái vòng luẩn quẩn, phản ánh sự bế tắc của tâm lý học duy tâm,
nội quan.
- Vào năm 1879 khi làm giáo sư triết học ở Leipzig, Wundt đã tổ chức ra phòng thực
nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới .Ông cũng đã công bố một cương lĩnh mới về xây
dựng khoa học tâm lý: Xây dựng tâm lý học thực nghiệm và tâm lý học xã hội.
+Về tâm lý học thực nghiệm, ông chủ trương tiếp tục nghiên cứu các vấn đề tâm sinh lý
học các giác quan và tâm vật lý học.
+ Với tâm lý học xã hội, ông chủ trương nghiên cứu tâm lý học dân tộc, nghiên cứu tinh
thần dân tộc qua các truyện cổ tích, thần thoại.Theo Wundt, những tư tưởng tâm lý học dân tộc
tồn tại trong các sản phẩm văn hoá như truyện cổ tích, truyện dân gian, thần thoại, trong phong
tục tập quán của các dân tộc… và để hiểu được những tư tưởng tâm lý học dân tộc này phải
dùng phương pháp thuật lại và suy diễn từ các sản phẩm văn hoá.
Trong các nghiên cứu của mình, Wundt đã cố gắng đề cập tới mảng tâm lý học xã hội
nhưng những quan điểm xuất phát của ông còn nhiều hạn chế, mới đạt được ở mức độ mô tả,
suy diễn có tính chất chủ quan về hiện tượng tâm lý dân tộc.
- Trên cơ sở của phòng thực nghiệm tâm lý học, cũng theo sáng kiến của Wundt, năm
1880 viện tâm lý học được thành lập. Viện này đã nhanh chóng trở thành trung tâm đào tạo
các nhà tâm lý học cho các nước trên thế giới như ở Đức, Nga, Pháp, Mỹ...Nhiều người xuất
phát từ viện này đã trở thành nổi tiếng như E. B.Titchener (1867-1927) ở Mỹ, G.I. Trenpanov
(1862-1936) ở Nga…
- Sau sự kiện này, các phòng thực nghiệm tâm lý học lần lượt ra đời ở nhiều nước châu
Âu và châu Mỹ. Phòng thực nghiệm tâm lý học ở Mỹ được thành lập vào năm 1889. Đến năm
1920, số lượng các phòng thực nghiệm tâm lý học ở các nước đã lên đến con số 100.
- Các công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tâm lý học và viện tâm lý học được
Wundt cho công bố trong tập “Các công trình nghiên cứu triết học” (1881). Có thể coi đây là
tập san tâm lý học đầu tiên trên thế giới. ý nghĩa của tập san này là ở chỗ: đây là nơi để những
người làm công tác nghiên cứu tâm lý học, các nhà khoa học thường xuyên trao đổi ý kiến,

lý học nội quan của Wundt.
- Một điều kiện lịch sử quan trọng của việc hình thành dòng phái tâm lý học Gestalt là sự
khủng hoảng trong khoa học tự nhiên. Cuộc khủng hoảng trong vật lý học từ góc độ phương
pháp luận là biểu hiện sự sụp đổ của quan niệm siêu hình về cấu trúc của vật chất, coi vật chất
được cấu tạo từ những nguyên tử đơn lẻ, cứng nhắc. Chính vì thế mà từ năm 1907 đến 1913 đã
xuất hiện 3 dòng phái tâm lý học: tâm lý học Gestalt; tâm lý học hành vi; phân tâm học.
- Tâm lý học Gestalt ra đời vào năm 1913, thời kỳ khủng hoảng của tâm lý học thế giới,
do bộ ba các nhà tâm lý học cấu trúc người Đức tên là M. Wertheimer (1880-1943), V.Kohler
( 1887-1967), K. Koffka (1886-1941) lập ra. Đây là một trường phái chuyên nghiên cứu về tri
giác, ít nhiều nghiên cứu về tư duy con người nhằm chống lại tâm lý học nội quan, đồng thời
chống lại cả tâm lý học liên tưởng, tham vọng xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo
kiểu mẫu của vật lý học.
* Về cơ sở triết học ảnh hưởng đến sự nảy sinh của tâm lý học Gestalt, có thể kể đến:
- Triết học tiên nghiệm của E. Kant (1724-1804):
+ Là nhà triết học duy tâm người Đức, người khởi xướng phép biện chứng tiên nghiệm và
nền triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
+ “Vật tự nó”, theo quan niệm của Kant, là vật thể tồn tại độc lập với ý thức, ta không thể
nhận thức được nhưng lại phù hợp với những biểu tượng của con người.
+ Kant đưa ra phạm trù tiên thiên và cho rằng, không gian, thời gian, tính nhân quả và các
quy luật tự nhiên không phải là đặc tính của bản thân sự vật mà là đặc tính của giác tính con



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status