ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG,
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở TỈNH QUẢNG BÌNH
A. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1. Tên chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thanh Điệp
2. Cơ quan chủ trì đề tài: Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình
3. Cấp quản lý đề tài: Cấp tỉnh
4. Tính cấp thiết của đề tài
Ở tỉnh Quảng Bình, rải rác trên các số báo Quảng Bình cũng có một số bài viết
về đề tài này, chủ yếu là đưa tin hội nghị, tổng kết ngành…, cho đến nay chưa có
công trình nào thật sự có quy mô nghiên cứu về thực trạng và đề ra các giải pháp để
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tiếp công dân giải quyết khiếu nại trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Quảng
Bình là hết sức cấp thiết.
5. Mục tiêu của đề tài
Xuất phát từ thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trong những năm qua trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình, đề tài nêu lên các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình trong những năm tiếp theo.
6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng, đối tượng, nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố
cáo trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và công tác giải quyết khiếu nại
tố cáo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2005 đến năm 2009.
Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm ở các tỉnh bạn như thành phố Hải Phòng,
thành phố Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng, những nơi
đã làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo để làm cơ sở đề ra
các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Bên cạnh đó còn tham gia học hỏi
kinh nghiệm giải quyết khiếu nại các vụ việc đông người tại Vụ khiếu nại, tố cáo Văn phòng Chính phủ; Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước.
7. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cách tiếp cận của đề tài là trực tiếp; Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề
khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp.
Tố cáo là việc công dân, tổ chức báo cho cơ quan, tổ chức về bất kỳ hành vi vi
phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây ra thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, tổ chức cộng đồng hoặc quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người đứng đầu
các cơ quan nhà nước bởi nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa Nhà nước và công
dân thể hiện bản chất nhà nước của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì
dân. Thông qua việc tiếp công dân, người đứng đầu các cơ quan Nhà nước có thể
nắm bắt được tâm tư nguyện vọng cũng như các yêu cầu, kiến nghị, phản ánh của
người dân.
2. Hiệu quả của giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân
Hiệu quả của giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân thể hiện cụ thể ở số
lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng pháp luật, số lượng đơn thư
giải quyết đúng càng cao thể hiện hiệu quả giải quyết khiếu nại tố cáo cao và ngược
lại.
Hiệu quả của giải quyết khiếu nại tố cáo còn thể hiện ở thái độ của công dân
và dư luận xã hội đối các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận giải quyết tố cáo
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận
giải quyết tố cáo đúng pháp luật, xử lý đúng sai phạm sẽ tạo được sự đồng tình
trong cộng đồng, trong xã hội, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân,
cho cán bộ, nâng cao lòng tin của quần chúng xã hội vào các chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước và hoạt động của bộ máy chính quyền.
Hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân là kết quả của
quá trình sử dụng quyền lực nhà nước, thông qua năng lực áp dụng pháp luật do các
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận theo
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo để ra quyết định, kết luận xử lý các
trường hợp cụ thể từ các khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân nhằm xác định
Chỉ thị yêu cầu các cấp, các ngành phải coi trọng việc xem xét giải quyết các đơn
thư khiếu nại... của quần chúng, cố gắng khắc phục tình trạng để các vụ khiếu nại
tố cáo ứ đọng lại nhiều hoặc lâu ngày, hoặc chuyển đơn cho cấp dưới mà không
theo dõi, kiểm tra cách giải quyết.
Sau này trong các pháp lệnh xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân
năm 1981 và pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 cũng đều có quy
định về trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong việc
giải quyết các khiếu nại của công dân. Theo Pháp lệnh năm 1981, trách nhiệm giải
quyết khiếu nại hoàn toàn thuộc về thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước,
các cơ quan thanh tra có chức năng tham mưu cho các cấp, các ngành giải quyết vụ
việc thuộc thẩm quyền. Đến Pháp lệnh năm 1991, mặc dù có quy định thanh tra là
một cấp giải quyết nhưng việc giải quyết lần đầu và việc giải quyết cuối cùng các
khiếu nại vẫn thuộc về thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước. Trong Luật
Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều ngày 15/6/2004
và ngày 29/11/2005 một lần nữa, trách nhiệm giải quyết các khiếu nại lại tiếp tục
được đề cao.
Về công tác tiếp công dân, điều 74 Luật Khiếu nại, tố cáo quy định "thủ
trưởng cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân và tổ chức việc tiếp
công dân..., bố trí cán bộ có phẩm chất tốt, có kiến thức và am hiểu chính sách pháp
luật, có ý thức, trách nhiệm làm công tác tiếp công dân". Ngoài ra trong Luật Khiếu
nại, tố cáo còn có những quy định về việc xử lý những người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo (thủ trưởng các cơ quan nhà nước) nhưng lại thiếu trách
nhiệm gây phiền hà, sách nhiễu, cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay,
ngày 29/11/2005, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm
hiểu và thực thi các quy định mới của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Luật sửa đổi,
bổ sung năm 2004 và năm 2005 được "nhất thể hóa" từ Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998 và những phần được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật khiếu nại, tố cáo 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN, KHIẾU NẠI TỐ CÁO VÀ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
1. Việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Quảng Bình
Sau khi Luật Khiếu nại, tố cáo có hiệu lực, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình
đã ban hành Quyết định số 06/2000/QĐ-UB ngày 14/3/2000 về việc thành lập Ban
Tiếp công dân tỉnh Quảng Bình.
Năm 2004 đến nay, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành Quyết định số
41/2004/QĐ-UB ngày 23/8/2004 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch triển
khai Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo; Quyết định số 115/QĐ-UBND ngày
22/01/2007 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án 3 212/QĐ-TTg về tuyên truyền pháp luật về khiếu nại, tố cáo; Quyết định số
20/2007/QĐ-UBND ngày 24/8/2007 về ban hành Quy chế tiếp công dân; tiếp nhận,
xử lý và quản lý đơn khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; đồng thời đã
ban hành một số văn bản cá biệt về lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Quyết
định số 166/QĐ-UBND ngày 25/01/2008 của UBND tỉnh về phê duyệt Kế hoạch
chi tiết triển khai thực hiện Đề án "Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn"; Quyết định số 350/QĐ-UBND
ngày 26/02/2008 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện
Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Quảng Bình;
Chương trình hành động số 22/CTr-TU ngày 24/4/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy Quảng Bình về thực hiện Thông báo kết luận số 130/TB-TW ngày 14/01/2008
của Bộ Chính trị về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quy chế số 105/QĐ-BCĐ
ngày 28/10/2008 về Tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo Chương trình hành
động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Quảng Bình.
Hàng năm, UBND tỉnh, UBND huyện, thành phố, Giám đốc các sở, ngành
thực hiện việc phê duyệt kế hoạch thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo theo đúng
quy định.
Từ năm 2005 đến năm 2009, tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh, huyện, thành
phố và các các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh đã tiếp 7.542 lượt người đến khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
3. Tình hình khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân trong một số lĩnh vực cụ thể
3.1. Trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường
Thực trạng khiếu nại về đất đai ở tỉnh Quảng Bình hiện nay thường thể hiện ở
các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, là khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
Thứ hai, là khiếu nại về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thứ ba, là khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ
quản lý, sử dụng đất đai.
Thứ tư, là khiếu nại việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan
nhà nước.
Về thực trạng tố cáo liên quan đến đất đai hiện nay thường thể hiện ở các nội
dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các chương
trình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với
chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư, các dự án tái định cư.
Thứ hai, tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục
hành chính về đất đai như: giao đất; cho thuê đất; cho phép chuyển nhượng quyền
sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không thực hiện đăng trình
tự, thủ tục thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ.
Thứ ba, tố cáo UBND giao đất trái thẩm quyền; giao đất, cho thuê đất không
đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ quỹ đất công ích (5%)
trái quy định của pháp luật.
Thứ tư, tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về đất đai
để tham ô như lập hai phương án bồi thường (cho người có đất bị thu hồi riêng để
thanh toán với Nhà nước riêng).
Thứ năm, tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặc
dung chủ yếu là tranh chấp đất đai, nhà ở, đền bù giải phóng mặt bằng, chế độ
chính sách và hoạt động trong tố tụng hình sự. Đối tượng khiếu nại hầu hết là hộ
gia đình cá nhân ở các địa phương trên địa bàn tỉnh chiếm 80%, số còn lại là công
chức không có chức vụ, không đảng viên; nội dung khiếu nại chủ yếu là đối với cán
bộ, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ làm thiệt thòi đến quyền lợi
của họ.
Đối với các hành vi khiếu nại do ít hiểu biết khiếu nại nên nội dung thể hiện
trong đơn thường không rõ ràng, đơn không ghi địa chỉ, không đề ngày, tháng, năm
hoặc chữ ký photo,... Ban Chỉ đạo trả lời bằng văn bản giải thích hướng dẫn cho 9
(9 đơn) đối tượng hiểu để thực hiện hành vi khiếu nại đúng pháp luật, đúng cơ quan
chức năng có thẩm quyền giải quyết.
Về tố cáo
Trong thời gian qua, UBND tỉnh Quảng Bình chỉ đạo Ban Chỉ đạo phòng
chống tham nhũng tỉnh (nay là Văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng)
xử lý 22 đơn tố cáo gồm nhiều vấn đề. Sau khi phân loại nội dung đơn thư này có
30% (22 đơn) đơn tố cáo “nặc danh” dấu tên, địa chỉ; một số đơn có nội dung
tương đối cụ thể, rõ ràng thì xử lý bằng việc chuyển đến cơ quan chức năng theo
dõi hoặc kiểm tra, thanh tra; một số đơn nội dung thiếu cụ thể rõ ràng thì đưa vào
lưu trữ. Đối với các loại đơn chính danh chiếm 70%, chủ yếu là các đối tượng
không nghề nghiệp, không đảng viên; nội dung tố cáo chủ yếu về quản lý tài chính,
đất đai, đền bù giải tỏa mặt bằng, chế độ chính sách về thương binh ở địa phương.
Công tác tiếp dân
Ban Chỉ đạo bố trí chuyên viên phụ trách mảng nội chính theo dõi và trực tiếp
tham gia các ngày tiếp dân theo định kỳ tại Ban Tiếp công dân và Đoàn Đại biểu
Quốc hội nhằm nắm bắt tình hình khiếu nại và một số vụ, việc cùng với một số đối
tượng khiếu nại có tính chất bức xúc nổi cộm kéo dài. Do đó, việc phân loại tiếp
nhận xử lý và tham mưu xử lý đơn thư khiếu nại có hiệu quả.
3.3. Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực chính sách xã hội
nại, tố cáo để xử lý: lưu đơn nặc danh, mạo danh, đơn photocopy, không có địa chỉ;
xác định thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo đủ điều kiện giải quyết để
chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo cho
người tố cáo biết.
Về thực hiện thời hạn và trình tự giải quyết đơn tố cáo theo Điều 37, Luật
Khiếu nại, tố cáo.
Việc thực hiện các quy định về tổ chức tiếp công dân
Việc tiếp công dân định kỳ của UBND các cấp thực hiện theo lịch, đúng định
kỳ: UBND tỉnh tiếp công dân vào ngày 15 hàng tháng; Đoàn Đại biểu Quốc hội
tỉnh Quảng Bình tiếp vào ngày 25 hàng tháng; UBND huyện, thành phố tiếp 2
kỳ/tháng; UBND xã, phường, thị trấn tiếp 4 kỳ/tháng. Việc tiếp dân định kỳ,
UBND các cấp đã bố trí, phân công lãnh đạo tham gia tiếp cùng với lãnh đạo các
cơ quan chuyên môn cùng cấp để tiếp công dân theo quy định.
5. Nguyên nhân của những kết quả đạt được
5.1.Nguyên nhân khách quan
Do cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến việc xây
dựng, củng cố và phát huy quyền dân chủ XHCN, thông quan đó để không ngừng
tạo khả năng và điều kiện cho quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý
nhà nước, quản lý xã hội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội thì đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao, trình độ dân trí ngày càng tiến bộ, quyền dân chủ ngày càng
được mở rộng.
Qua thời gian, với nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hệ thống pháp luật về tài nguyên
và môi trường, pháp luật về khiếu nại tố cáo dần hoàn thiện, phù hợp với thực tế,
hợp lòng dân, là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo và tiếp công dân.
5.2.Nguyên nhân chủ quan
Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cấp Đảng và chính quyền địa phương đều rất quan
xác định chưa rõ ràng, còn nhiều lúng lúng.
Việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa cơ quan Thanh tra Nhà
nước với Tòa án cũng còn bất cập, cách hiểu chưa thống nhất.
Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính
Khi xử lý đơn khiếu nại đối với quyết định hành chính thì cán bộ xử lý đơn chỉ
biết được ngày ban hành quyết định mà không biết được quyết định đó nhận vào
ngày nào; mặt khác, việc nhận được quyết định hành chính của người khiếu nại còn
phụ thuộc vào vị trí địa lý: xa, gần, đồng bằng, miền núi, biên giới..., phụ thuộc vào
điều kiện thông tin liên lạc thuận lợi hay khó khăn, trong khi đó Luật Khiếu nại, tố
cáo quy định chung 90 ngày là chưa phù hợp.
Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại
Luật Khiếu nại, tố cáo quy định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người
bị khiếu nại cơ bản là phù hợp. Song cần quy định rõ trách nhiệm về vật chất đối
với người khiếu nại nhằm hạn chế việc công dân cố ý đeo bám khiếu nại sai.
Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Luật cần phải có quy định cụ thể các hình thức xử lý, mức xử phạt đối với tổ
chức, cá nhân thiếu trách nhiệm, các đối tượng không chấp hành hoặc chấp hành
không nghiêm quyết định giải quyết.
Trách nhiệm của cơ quan quyền lực Nhà nước và UBMTTQ cùng các tổ chức,
đoàn thể xã hội trong công tác giải quyết khiếu nại
Luật Khiếu nại, tố cáo quy định rõ vai trò trách nhiệm của HĐND, Đoàn Đại
biểu Quốc hội, Thường trực HĐND các cấp, UBMTTQ Việt Nam có chức năng
kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về KNTC của các cơ quan hành chính
nhà nước; cùng với chức năng giám sát, luật còn quy định nhiệm vụ tiếp nhận đơn,
nghiên cứu đơn khiếu nại để chuyển đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền đề
nghị giải quyết; đồng thời thực hiện đôn đốc việc giải quyết dẫn đến chồng chéo
chức năng, nhiệm vụ, xử lý đơn bị lúng túng.
6.2. Bất cập trong thực hiện pháp luật về tố cáo, giải quyết tố cáo
ích công cộng, khi thực hiện đã gặp nhiều khó khăn như: Điều 6 quy định điều kiện
được đền bù về đất, điều 7 quy định người không được đền bù thiệt hại về đất.
Việc hướng dẫn thẩm quyền giải quyết giữa cơ quan hành chính và tòa án còn
chưa cụ thể, chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng đùn đẩy giải quyết giữa tòa án và cơ
quan hành chính.
Sự yếu kém trong công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai
Sự yếu kém, bất cập trong công tác quản lý đất đai cùng với một bộ phận
không nhỏ cán bộ, công chức có những hành vi vụ lợi trong quản lý, sử dụng đất
đai, nhũng nhiễu, thiếu công tâm là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh những
khiếu nại, tranh chấp về đất đai.
6.4. Tồn tại trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền
Một số cấp ủy tại một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác lãnh
đạo chính quyền, xem nhẹ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân làm bức xúc
dẫn đến khiếu kiện đông người, nhiều vụ khiếu kiện vượt cấp tồn đọng kéo dài
không giảm. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói
chung và Luật Khiếu nại, tố cáo nói riêng của các cơ quan chức năng tuyên truyền
nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân còn nhiều hạn chế.
6.5 Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo
Mặc dù đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm đầu tư cơ sở
vật chất, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm đảm bảo tối thiểu cho bộ máy
hoạt động tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo nhưng trong thực tế vẫn
chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, vì cơ sở vật chất đầu tư cho công tác này chưa
đúng mức.
6.6. Tồn tại trong ý thức, trách nhiệm chấp hành pháp luật của công dân
Nhà nước ta đã có một số biện pháp tích cực nhằm bảo đảm quyền lợi để động
viên khuyến khích công dân phát huy quyền khiếu nại, tố cáo. Trong thực tế quyền
này vẫn chưa được đảm bảo vì có sự tồn tại hạn chế trong việc giải quyết đơn thư
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân giải quyết
khiếu nại, tố cáo
Vấn đề khiếu nại, tố cáo của công dân xuất hiện như một hiện tượng tất yếu
của xã hội có giai cấp và do sự áp dụng không đúng luật tạo ra.
Việc xét và giải quyết các khiếu nại tố cáo của công dân được xác định không
chỉ trên các văn bản pháp luật mà còn phải thông qua các hoạt động cụ thể hàng
ngày của nhà nước, biểu hiện bằng các hoạt động của cơ quan nhà nước; thông qua
các hoạt động cụ thể ấy mà người dân thấy rõ lợi ích của ai được bảo vệ, ý kiến của
ai được tôn trọng.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không những là nghĩa vụ, trách
nhiệm của nhà nước mà còn là biện pháp để củng cố, duy trì một thiết chế chính trị,
biểu hiện bản chất của nhà nước.
3. Phương hướng và các nguyên tắc cơ bản để tăng cường hiệu quả pháp
luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Nguyên tắc bảo đảm sự thật khách quan
Đây là nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trước hết nó là
cái đích để người khiếu nại, tố cáo mong đợi; mặt khác, nó còn là mục đích của các
tổ chức, cơ quan cũng như các cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết khiếu
nại, tố cáo phải đạt tới.
Nguyên tắc công bằng
Quyết định của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải là sự hội tụ của các yếu
tố: quy định pháp luật; ý thức pháp luật; áp dụng pháp luật của tổ chức, cơ quan,
người có thẩm quyền khi giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, sát với điều
kiện hoàn cảnh của vụ việc khiếu nại, tố cáo. Đó chính là bảo đảm nguyên tắc công
bằng về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Nguyên tắc dân chủ
Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực để giải quyết việc khiếu nại, tố cáo
của công dân một cách hiệu quả.
Nguyên tắc công khai
Công khai là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố
nước với cơ quan kiểm tra của Đảng; giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới
với ngành cấp trên, tránh tình trạng chuyển đơn vòng vo, đùn đẩy, né tránh trong
việc giải quyết.
Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo
Cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan hành chính và tòa án trong việc giải
quyết khiếu nại hành chính: Luật Khiếu nại, tố cáo nên quy định Tòa án hành chính
có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan hành chính nhà nước các vụ việc khiếu
nại hành chính mà tòa án đã giải quyết nhằm tránh trường hợp khiếu nại của công
dân đã được tòa án giải quyết nhưng vẫn khiếu nại với cơ quan hành chính nhà
nước giải quyết tiếp.
Biện pháp bảo đảm thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý
tố cáo có hiệu lực pháp luật
Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo nên có điều, khoản
quy định cụ thể khung pháp lý các hình thức xử lý hành chính, kinh tế đối với các
đối tượng không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm quyết định giải quyết
khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật; nghiên cứu thành lập
một cơ quan chuyên trách để thi hành quyết định khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo
(như cơ quan thi hành án).
Về sửa đổi các quy định về quản lý nhà nước đối với công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo
Cần phải quy định cụ thể những cơ quan có thẩm quyền giám sát hoạt động
giải quyết khiếu nại, tố cáo khi nhận được đơn khiếu nại thì chuyển trả lại đơn và
hướng dẫn người khiếu nại gửi đơn đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
4.3. Tổ chức tốt các hoạt động hướng dẫn, giải thích pháp luật; áp dụng
pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Để các hoạt động áp dụng pháp luật giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công
dân đạt hiệu quả cao thì nhà nước cần phải tổ chức tốt các hoạt động áp dụng pháp
luật, trước hết là phải cải tiến chế độ lề lối làm việc của các cơ quan. Mặt khác phải
giáo dục pháp luật.
Thứ ba, làm tốt công tác tổ chức tuyên truyền thực hiện các văn bản pháp luật,
pháp quy về khiếu nại, tố cáo và các văn bản có liên quan.
4.6. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên trong việc tiếp công
dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hiện nghiêm túc các quyết định giải quyết
khiếu nại, kết luật giải quyết tố cáo, xử lý nghiêm các trường hợp có vi phạm, vận
động quần chúng tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước và cuộc
vận động toàn dân tham gia đấu tranh phòng chống các loại tội phạm. Đặc biệt là
phát hiện, tố giác người có hành vi tham nhũng và người có hành vi trả thù người
khiếu nại, tố cáo nhằm phát huy quyền năng xây dựng quản lý, giám sát của nhân
dân đối với nhà nước và xã hội.
4.7. Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ
làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trong điều kiện như hiện nay, mặc dù pháp luật đã quy định Thanh tra nhà
nước các cấp có chức năng quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, lĩnh vực hoạt động này gần như còn
bỏ ngỏ. Điều này cũng đặt ra vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống
Thanh tra nhà nước. Đồng thời tăng cường đội ngũ cán bộ về số lượng, đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ về nghiệp vụ cần được quan tâm một cách đúng mực.
4.8. Kết hợp chặt chẽ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với quá trình cải
cách thủ tục hành chính
Tăng cường hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cần nhiều giải
pháp đồng bộ và phải trải qua một quá trình. Nó gắn liền với cải cách hệ thống tư
pháp, cải cách hành chính quốc gia.
4.9. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo
Cùng với phương án tiếp dân giải quyết, khiếu nại quy về một đầu mối ở mỗi
cấp để thuận tiện trong việc theo dõi, đôn đốc kiểm tra đòi hỏi công tác này phải
Thứ năm, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ sáu, đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ bảy, cần tạo điều kiện tốt nhất cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo của mình như Hiến pháp đã ghi nhận.