HỆ THỐNG CÁC DẠNG BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ TRÁI ĐẤT VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA CÁC HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT ĐẾN
CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN KHÁC
A.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong phần Địa lí tự nhiên đại cương (ĐLTNĐC) chuyên đề Trái đất là một
trong những nội dung quan trọng trong hệ thống kiến thức Địa lí. Kiến thức của
chuyên đề đề cập đến những khái niệm về vũ trụ và các hành tinh; đặc điểm cấu
tạo, vị trí, hình dạng và kích thước của Trái đất; các vận động của Trái Đất và hệ
quả địa lí của nó. Hiểu rõ nội dung kiến thức của chuyên đề này, ta sẽ dễ dàng hiểu
rõ hơn về đặc điểm các thành phần tự nhiên khác. Trong chuyên đề Trái đất, sự
phức tạp của nội dung cần chuyển tải cao hơn so với nội dung kiến thức của các
phần khác. Các quá trình, các hiện tượng tự nhiên luôn có mối quan hệ logic, tìm
ra nguyên nhân chính là tìm ra các mối liên hệ này.
Kiến thức của phần Trái đất đa dạng có thể hình thành và thiết kế nhiều dạng
bài khác nhau bao gồm các dạng tính toán, giải thích các sự vật, hiện tượng đang
diễn ra trên Trái đất, ví dụ như các bài tập tính giờ ( giờ thực, giờ trung bình mặt
trời, giờ múi, giờ quốc tế GMT), tính góc nhập xạ tính thời gian Mặt trời lên thiên
đỉnh, các bài tập nhận biết các sự vật, giải thích các hiện tượng tự nhiên khác.
Trong quá trình giải các bài tập về Trái đất học sinh phải thực sự động não
suy nghĩ để tìm ra cách giải. Càng giải nhiều bài tập bao nhiêu thì lượng kiến thức
cũng theo đó mà tăng lên bấy nhiêu. Rõ ràng thông qua việc giải các bài tập sẽ
giúp cho học sinh hiểu cặn kẽ vấn đề, biết giải thích các hiện tượng sự vật Địa lí có
liên quan đến Trái đất và có thể vận dụng chúng một cách có hiệu quả, kích thích
năng lực tự học của học sinh hiện nay, rèn luyện được kĩ năng - kĩ xảo - một điều
rất cần thiết đối với học sinh lớp chuyên Địa lí và càng cần thiết hơn đối với việc
bồi dưỡng học sinh giỏi.
1
Tính góc nhập xạ (góc tới) tại một điểm.
3.
Tính thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh tại một điểm
4.
Xác định vĩ độ thông qua việc tính góc nhập xạ vào một ngày bất kì
5.
Xác định tọa độ địa lí tại 1 điểm cho trước (kinh vĩ độ của một điểm)
2
6.
Bài tập về giả thuyết ngược
7.
Bài tập giữa mối liên hệ giữa phần Trái đất và các thành phần khác
của thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên.
III.
QUY TRÌNH XÂY DỰNG MỘT BÀI TẬP THỰC HÀNH CỦA
PHẦN TRÁI ĐẤT.
Bài tập thực hành học sinh tự học là chính nên tăng cường khuyến khích sáng
4.1. Bài tập tính giờ
Một trong những hệ quả của vận động tự quay quanh trục của Trái đất là việc
phân chia các loại giờ trên Trái đất. Đây là hệ quả quan trọng của vận động này.
Hơn nữa, việc xác định giờ khá gần gũi và cần thiết với cuộc sống của con
người. Vì vậy, việc tìm hiểu về giờ có tính ứng dụng cao trong thực tế giúp con
người hiểu biết hơn về các hiện tượng liên quan đến giờ trong cuộc sống.
- Tính giờ (bao gồm tính giờ thực, giờ múi, giờ trung bình mặt trời, giờ
GMT, phương trình thời gian
4.1.1. Giờ địa phương và kinh độ địa lí
Tại một thời điểm vật lý, hiệu giờ địa phương của hai nơi bằng hiệu kinh độ
của hai nơi đó (tính theo đơn vị thời gian)
S1 – S2 = λ1 - λ2
Trong đó: S1 – S2: là hiệu giờ địa phương
λ1 - λ2: là hiệu giữa hai kinh tuyến
4.1.2. Giờ múi, giờ quốc tế
Giờ của múi nào đó được tính bằng giờ quốc tế cộng số múi. Tại cùng một
thời điểm vật lý nếu giờ quốc tế là T0 thì giờ ở múi số M công thức tính sẽ là :
TM = T0 + M
Trong đó : TM giờ múi
M số múi
T0 giờ của múi số 0
4
4.1.3. Giờ múi, giờ địa phương (giờ trung bình Mặt Trời)
Giữa giờ múi và giờ địa phương có mối quan hệ đó là: Giờ của múi là giờ
địa phương của kinh tuyến giữa múi. Như vậy khi biết giờ múi của một kinh độ, có
thể xác định được giờ địa phương hoặc ngược lại biết giờ địa phơng xác định được
giờ múi.
TM = Tm ± ∆t
Luân Đôn sau 9h bay, máy bay hạ cánh. Tính giờ máy bay hạ cánh tại Luân Đôn
và cho biết ở các địa điểm ghi trong bảng sau lúc đó là mấy giờ?
Vị trí
Tôkiô
Niu-Đê-li
Xit-ni
Oasintơn Lot-An-giơ-let
Kinh độ
1350Đ
750Đ
1500Đ
750T
1200T
Giờ
Ngày
=> Phân tích đề:
- Trước tiên, phải xác định được Tân Sơn Nhất - Việt Nam (thuộc múi giờ số 7).
Các địa điểm cần tính đã cho biết kinh độ --> muốn tính được giờ của các địa điểm
khác cần tính được múi giờ của các địa điểm đó
1350Đ
750Đ
1500Đ
750T
1200T
Múi giờ
9
5
10
19
16
Giờ
17h
13h
18h
Trời nơi thì nhận được ít, nơi nhận được lượng nhiệt nhiều, nơi nhận được lượng
nhiệt ít.
- Thông qua việc giải các bài tập tính góc nhập xạ giúp khắc sâu và củng cố
kiến thức đồng thời hiểu được những hệ quả khác nữa của vận động quay quanh
Mặt Trời của Trái Đất.
* Các kiến thức có liên quan
7
Lý thuyết
- Các tia nắng Mặt Trời phát ra và chiếu tới Trái Đất xem như song song vì
Mặt Trời là một khối cầu rất lớn, các tia năng lượng này luôn tạo mặt phẳng xích
đạo một δ góc lệch thay đổi trong năm từ - 23o17’- 23o17’ nghĩa là δ = ± 23o27’.
- Từ đó góc nhập xạ ho thay đổi trong năm theo công thức:
Ho = 90o- ϕ ± δ
ϕ : Vĩ độ địa lí
- Xác định Ho vào ngày 21/3 và 23/9:
Vào ngày này góc lệch δ = 0 vì tia sáng Mặt Trời vuông góc với xích đạo do đó
góc nhập xạ được tính bằng công thức: Ho = 90o- ϕ
+ Ở xích đạo δ = 0 => Ho = 90o.
+ Ở chí tuyến Bắc: ϕ = 23o27’B => ho = 90o- 23o27’B = 66o33’.
+ Ở chí tuyến Nam: ϕ = 23o27’N => ho = 900 - 23o27’ = 66o33’.
+ Ở 2 cực, ho = 0 - Bắc cực: 90o - 90o = 0o.
- Nam cực: 90o - 90o = 0o
- Ho vào ngày 22/6 :
+ Hạ chí Bắc bán cầu Mặt Trời vuông góc ở chí tuyến Bắc có δ = + 23o27’B
Đông chí ở Nam bán cầu Mặt Trời vuông góc với chí tuyến Nam có δ = 23o27’N.
H0 = 90o - ( ϕ + δ ) ( với ϕ > 23o27’)
Ho= 90o - δ + ϕ (với ϕ < hoặc = 23o27’)
+ Góc nhập xạ tại điểm đầu mút: + (21/3, 23/9): ho = 90o- ϕ
+ (22/6, 22/12): ho = 90o- ϕ ± δ
+ Tính thời gian bất kì trong năm
Sin ho = sin ϕ . Sin δ + cos ϕ .cos δ . Cos θ
Trong đó: ϕ : Vĩ độ địa lí
δ : Góc lệch Mặt trời
9
θ : Góc giờ của Mặt trời tính theo ngày, đêm
*. Bài tập vận dụng
Ví dụ 1:
Hà Nội nằm ở vĩ độ 210B, hãy cho biết góc nhập xạ của Hà Nội là bao nhiêu
vào những ngày Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí?
=> Phân tích đề:
- Có 2 cách tính góc nhập xạ:
+ HS có thể vẽ hình để tính
+ HS có thể dựa vào công thức tính góc nhập xạ (công thức tính góc nhập xạ đã
được giáo viên hướng dẫn)
=> Gợi ý
*/ Khái niệm góc nhập xạ: Góc nhập xạ là góc hợp bởi tia sáng Mặt Trời với tiếp
tuyến của Trái Đất tại điểm đó
*/ Tính:
- Vào 2 ngày Xuân phân (21/3) và Thu phân (23/9), Mặt Trời lên thiên đỉnh tại
Xích đạo, Mặt Trời chiếu thẳng góc xuống Xích đạo lúc 12h trưa nên góc nghiêng
của tia sáng Mặt Trời với mặt phẳng Xích đạo = 00
Áp dụng công thức: h = 900 – ϕ + α
Trong đó: + ϕ : vĩ độ điểm cần tính
+ α : góc nghiêng của tia sáng Mặt Trời với Mặt phẳng Xích đạo
Huế (16024’B) = 73036’
-
TPHCM (10044’B) = 79016’
Nhận xét: Vào ngày Xuân phân, độ lớn góc nhập xạ giảm dần từ Xích đạo
về 2 cực
4.2.2. Tính thời gian Mặt Trời mọc, lặn, lên thiên đỉnh
* Lý do chọn bài tập:
- Để củng cố lí thuyết so le ngày - đêm
- Giải bài tập này sẽ giúp người học lí giải được các hiện tượng ngày đêm dài ngắn
khác nhau theo mùa và theo vĩ độ. (hệ quả quay xung quanh Mặt Trời của Trái
đất).
Khi mọc hoặc lặn thì Mặt Trời sẽ có độ cao h = 0 cách đỉnh 900
Ta có 0 = sin ϕ sin δ + cos ϕ cos δ cos θ
11
Trong đó : ϕ là vĩ độ; δ là góc lệch Mặt Trời; θ là góc giờ.
Do đó cos θ = - tgϕ tgδ
Góc giờ θ tính ra thời gian là t
- Thời gian ban ngày = 2t
- Thời gian Mặt Trời mọc = 12h - t
- Thời gian Mặt Trời lặn = 12h + t
- Việc hiểu rõ hiện tượng ngày- đêm một hiện tượng gần gũi với cuộc sống của
con người. Nghiên cứu và giải bài tập này sẽ giúp người học có kiến thức sâu rộng
về hiện tượng ngày- đêm, có tính liên hệ, ứng dụng cao trong thực tiễn.
+ Vĩ độ lúc Mặt Trời mọc 6h: ho = 0
Thời gian ban ngày là: 2 θ = 75o45’.4’ = 2h.5h02’ = 10h04’.
Thời gian Mặt Trời mọc là: 12h - θ = 12h - 5h02’ = 6h58’.
Thời gian Mặt Trời lặn là: 12h + θ = 12h + 5h02’ = 17h02’.
* Tại vĩ độ 60o
Ta có: cos θ = - tg ϕ . tg δ
= - tg 60o. tg (- 17,5o)= - 1,732. (- 0.315) = 0,54495.
=> θ = 57o = 3h48’.
Hoặc
Thời gian ban ngày là: 2 θ = 2h.3h48’ = 7h36’.
Thời gian Mặt Trời mọc là: 12h - θ = 12h - 7h36’ = 4h24’.
Thời gian Mặt Trời lặn là: 12h + θ = 12h + 7h36’ = 19h36’.
b. Tính so le ngày đêm ở Lêningrat với ϕ = 60o vào ngày 22/6 và ngày 22/12
* cos θ = - tg ϕ . tg δ
cos θ = - tg 60o. tg 23o27’ = - tg 60o. tg 23,45o
= - 1,732. 0,433 = - 0,749 = - 138o30’13’’.
θ = 41o17’7’’.
Thời gian ban ngày là: 2 θ = 2h.41o17’7’’ = 4h45’42’’.
Thời gian ban đêm là: 24h- 4h45’42’’= 18h54’58’’.
13
Ví dụ 2:
Cho biết vào ngày 30/4, 20/11, 2/9, Mặt Trời lên thiên đỉnh ở vĩ độ nào? Trình bày
cách tính?
=> Phân tích đề:
- Muốn tính được vĩ độ MT lên thiên đỉnh vào các ngày đã cho, cần dựa vào hình
vẽ trong sgk về hiện tượng MT lên thiên đỉnh
- Phải biết được các ngày đề bài đã cho nằm trong khoảng thời gian nào trong các
mốc: 21/3 --> 22/6; 22/6 --> 23/9; 23/9 --> 22/12; 22/12 --> 21/3
Ngày 2/9, MT lên thiên đỉnh tại 23027’ – 18010’ = 5017’B
4.2.3. Xác định vĩ độ tại 1điểm bất kì, tọa độ địa lí của một điểm
* Lí do chọn bài tập
- Việc xác định vĩ độ tại 1 điểm cho trước khá cần thiết đặc biệt trong đời sống.
Việc xác định vĩ độ có thể dựa vào thời gian Mặt trời lên thiên đỉnh, góc nhập xạ
do vậy giúp củng cố lí thuyết đã học.
* Các kiến thức có liên quan
- Xác định vĩ độ tại 1 điểm thì đơn giản nhất dựa vào sao Bắc cực
B
B’
T
H’
A
X
α
T'
Ta hãy xác định độ vĩ của điểm A. Trên hình vòng Bx là kinh tuyến đi qua
điểm A vad Ox là dấu vết của xích đạo trên mặt phẳng hình vẽ. Đường thẳng đứng
ở A là A’O cùng với dấu xích đạo Ox, làm thành một góc AOx , đó là độ vĩ của
điểm A. Đường TT” tiếp tuyến với với kinh tuyến Bx ở A là dấu vết đường chân
15
trời tại điểm A. Ta kẻ đường AB’song song với trục OB, ta có góc B’AT bằng góc
AOX vì các cạnh của 2 góc này thẳng góc với nhau. Góc B’AT biểu thị độ cao của
địa cực B trên chân trời ở điểm A. Như vậy “ độ vĩ một nơi là độ cao trên đường
chân trời của địa cực nơi đấy”.
- Nguyên lí của phương pháp tính kinh độ là sự khác nhau về kinh độ giữa
hai địa điểm cân xứng với sự khác nhau về giờ giữa hai địa điểm ấy. Các nhà bác
học thời thượng cổ cũng đã biết nguyên lí ấy và đem áp dụng trong việc tìm kinh
độ của một điểm hay một khu vực.
- Ngày nay, giữa các đài thiên văn với nhau người ta dùng điện báo để thông
tin và tính kinh độ. Điện báo đem các tín hiệu đi rất nhanh chóng, thời gian tín hiệu
đi không đáng kể, người ta chỉ cần ghi nhớ giờ địa phương nơi tín hiệu đánh đi và
nơi tín hiệu nhận được, rồi so sánh hai giờ là rút ra được sự khác nhau về kinh
độgiữa hai nơi rất chính xác.
Công thức tính
Tại một thời điểm vật lý, hiệu giờ địa phương của hai nơi bằng hiệu kinh độ
của hai nơi đó (tính theo đơn vị thời gian)
S1 – S2 = λ1 - λ2
Trong đó: S1 – S2: là hiệu giờ địa phương
λ1 - λ2: là hiệu giữa hai kinh tuyến
*Bài tập ứng dụng
Đề bài: Hãy xác định toạ độ của một thành phố A biết rằng:
- Góc nhập xạ của thành phố này vào ngày 22/6 là 54030'.
- Khi ở Hà Nội (105052'Đ) là 8h15' ngày 25/01/2008 thì cùng lúc đó ở thành
phố A là 18h cùng ngày.
Cách giải
* Xác định toạ độ A
- Vĩ độ:
ho = 900 - ϕ ± δ
Tại Bắc bán cầu: 54030’ = 900 - ϕ + 23027’
ϕ = 900 – 54030’ + 23027’ = 48057’
17
- Kinh độ: 105052’ Đ là 8h15’
lệch nhiệt độ rất lớn giữa các nơi và giữa các mùa. Sự chênh lệch nhiệt độ rất lớn
giữa ngày và đêm gây ra sự chênh lệch rất lớn về khí áp giữa hai nửa cầu ngày và
đêm. Từ đó hình thành những luồng gió cực mạnh .Trong điều kiện đó sự sống
không thể hình thành và phát triển được.
Ví dụ 2:
Nếu trục Trái Đất thẳng góc với mặt phẳng quĩ đạo thì có sự thay đổi mùa
như hiện nay không? Nếu không thì sẽ thay đổi như thế nào?
Hướng dẫn:
- Trái Đất có 2 chuyển động đồng thời: tự quay quanh trục và tự quay quanh
Mặt Trời
- Trục Trái Đất nghiêng trên mặt phẳng quỹ đạo 1 góc 66 033’. Trong khi
chuyển động, Trái Đất lần lượt nghiêng nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam về phía Mặt
Trời và sinh ra mùa
- Nếu trục Trái Đất thẳng góc với mặt phẳng quỹ đạo góc chiếu từ Mặt Trời
đến từng vùng Trái Đất (trong 1 năm không thay đổi) sẽ không có các mùa khác
nhau
- Ở từng vùng:
+ Vùng ôn đới: Lúc đó quanh năm có khí hậu như mùa xuân, ngày và đêm
lúc nào cùng bằng nhau
+ Vùng nhiệt đới: Khí hậu không thay đổi gì so với khí hậu hiện nay (luôn
luôn nóng)
+ Vùng cực: quanh năm có ánh sáng và khí hậu đỡ khắc nghiệt, dịu đi nhiều
Ví dụ 3:
Giả sử trục Trái Đất thẳng góc với mặt phẳng quỹ đạo và trái đất vẫn luôn tự quay
quanh trục, khi đó hiện tượng ngày- đêm trên Trái Đất sẽ như thế nào?
Hướng dẫn:
19
Nếu trục Trái Đất thẳng góc với mặt phẳng quỹ đạo, khi đó:
Ảnh hưởng của lực Côriôlis tới các yếu tố tự nhiên:
Do Trái Đất tự quay quanh trục, mọi vật thể chuyển động trên T Đ đều chịu
tác động của lực gây ra chuyển động ban đầu và lực do sự tự quay theo hướng từ
20
T- Đ của T Đ. Lực làm lệch hướng các chuyển động trên bề mặt TĐ được gọi là
lực Criolit.
- Đặc điểm:
+ Mọi vật chuyển động theo chiều kinh tuyến từ Xích đạo về cực và từ cực
về xích đạo ở Bán cầu bắc sẽ bị lệch về phía tay phảy so với hướng chuyển động.
+ Mọi vật chuyển động theo vĩ tuyến ở BCB sẽ có hướng ra xa trục quay T
Đ khi đi về phía Đông, hướng về trục quay khi đi về phía Tây.
+ Mọi vật chuyển động theo hướng thẳng đứng (rơi tự do) ở BCB sẽ hướng
về phía Đông khi từ trên xuống, hướng về phía Tây khi từ dưới lên .
+ Ở BCN thì ngược lại.
* Ảnh hưởng:
- Tác động đến các hoàn lưu khí quyển:
+ Không khí trên mặt đất ở xích đạo nóng, nở ra và bay lên cao, đến một độ
coa nào đó bị lạnh đai. Do phía dưới vẫn có các bòng khí đi lên, nên khí lạnh này
không hạ xuống được mà phải đi về phía hai cực và bị lệc về phía đông (ở BCB)
do tác dụng của lực Côriôlis. Tới các vĩ độ 30-34 0, độ lệch lên tới 900 so với kinh
tuyến, các dòng khí chuyển động song song với vĩ tuyến-> làm xuất hiện áp cao
cận nhiệt đới.
+ Do sự chênh lệch về khí áp, có gió thổi từ hai khu áp cao cận nhiệt về
phía xích đạo và về phía 2 cực.
Do tác động của lực Côriôlis mà các luồng gió thổi về phía xích đạo theo
chiều kinh tuyến sẽ thổi theo hướng Đông Bắc ở BCB và ĐN-TB ở BCN. Gió này
a. Vận động tự quay của Trái đất
Vận động tự quay của Trái đất liên quan mật thiết đến nhịp điệu ngày đêm
– một trong những biểu hiện của các nhịp điệu của Vỏ cảnh quan.
Nhịp điệu là một đặc tính của sự vận động và phát triển của cảnh quan. Các
cảnh quan khác nhau không chỉ về cấu trúc không gian thể hiện ở đặc điểm kết hợp
của các thành phần (cấu trúc đứng) mà còn ở cường độ và tính chất của nhịp điệu
(cấu trúc động lực hay cấu trúc thời gian). Biểu hiện của tính nhịp điệu có thể thấy
ở hầu hết các hiện tượng, các quá trình tự nhiên. Nhịp điệu của tự nhiên đã điều
khiển, quy định nhịp điệu các quá trình sinh học của giới hữu cơ. “ Các nhịp điệu
22
ngày nay đã trở thành điều kiện cần thiết cho sự tồn tại bình thường của các sinh
vật” ( Theo Xoltxev). Biểu hiện rõ nhất, ngắn nhất của tính nhịp điệu là nhịp điệu
ngày đêm, dài hơn có nhịp điệu mùa. Ngoài ra còn có các nhịp điệu khác mang
tính thế kỉ, mang tầm vũ trụ: nhịp điệu nội thể kỉ, nhịp điệu siêu thế kỉ…
Hình dạng khối cầu của Trái đất đã khiến cho chỉ một nửa Trái đất được
chiếu sáng, còn lại chìm khuất trong bóng tối. Vận động tự quay của Trái đất đã
khiến cho hiện tượng một nửa quả địa cầu được chiếu sáng rồi chìm vào bóng tối
diễn ra liên tục, luân phiên hay còn gọi là hiện tượng ngày đêm luân phiên nhau.
Như vậy, chính hiện tượng tự quay quanh trục kết hợp với hình dạng khối cầu đã
mang đến nhịp điệu ngày đêm cho Trái đất. Nhịp điệu ngày đêm khác nhau ở mỗi
nơi trên Trái đất, ở từng nơi thì lại khác nhau theo từng mùa, từng khoảng thời gian
trong năm.
Sự thay đổi ngày và đêm đã làm thay đổi tính chất các yếu tố tự nhiên dẫn
đến sự thay đổi của mọi quá trình, mọi hiện tượng trong cảnh quan. Đó là sự phong
hóa đá, quá trình hình thành thổ nhưỡng do sự nóng lên, lạnh đi đột ngột của đá
dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ ngày đêm. Sự chênh lệch nhiệt độ này cũng
làm thay đổi khí áp giữa các nơi, tạo nên nhịp điệu của gió biển, gió đất, gió núi,
gió thung lũng. ..Đối với sinh vật trong sinh quyển, nhịp điệu ngày đêm tạo nên
thể nào cũng gồm nhiều thành phần cấu tạo nên và giữa chúng có mối quan hệ trao
đổi vật chất và năng lượng, có mối liên hệ với bên ngoài. Do đó mỗi địa tổng thể là
một bộ phận của hệ thống lớn hơn. Sự thống nhất nội bộ hệ thống chỉ có tính tương
đối, do đó mỗi địa tổng thể tùy vào tiêu chí mà có thể phân hóa thành những địa
tổng thể nhỏ hơn. Mặc dù mỗi địa tổng thể có sự phân hóa theo lãnh thổ nhưng tính
thống nhất và hoàn chỉnh giữa các thành phần cấu tạo vẫn là căn bản. Tính thống
nhất và hoàn chỉnh tạo nên đặc trưng cho từng địa tổng thể, từng lãnh thổ, tạo nên
cấu trúc tương đối ổn định của nó, nhưng toàn bộ hệ thống này lại luôn ở trạng thái
động, tức có mối liên hệ với bên ngoài nên luôn thay đổi. Sự thay đổi có thể theo 2
hướng: hoặc có tính chu kì, nhịp điệu, hoặc không lặp lại. Tuy nhiên nó không thay
đổi trong thời gian ngắn mà trong thời gian dài, theo từng thành phần rồi mới đến
tổng thể, riêng sự thay đổi không lặp lại tạo nên một tổng thể khác hoàn toàn về
căn bản – thường là do tác động của con người. Mỗi thành phần tùy vào tính “bảo
thủ” của nó mà chịu tác động của ngoại cảnh với cường độ thay đổi khác nhau. Có
thể sắp xếp mức độ “bảo thủ” giảm dần theo thứ tự: cơ sở nham thạch – địa hình –
khí hậu – nước – thổ nhưỡng – sinh vật (Theo Xoltxev). Sự thay đổi bắt đầu từ
24
thành phần bảo thủ nhất thường tạo nên sự thay đổi quy mô lớn của cảnh quan. Sự
thay đổi các thành phần ít bảo thủ thường cần nhiều thời gian mới tạo nên được sự
thay đổi của cảnh quan.
Sự quy định lẫn nhau giữa các thành phần, bộ phận lãnh thổ là do tất cả các
thành phần, bộ phận đều chịu tác động của nội lực và ngoại lực. Vì vậy chúng
không tồn tại độc lập và phát triển một cách cô lập mà luôn xâm nhập vào nhau,
trao đổi vật chất và năng lượng với nhau nên có mối quan hệ mật thiết để tạo nên
một tổng thể hoàn chỉnh. Tác động của vận động quay quanh Mặt trời của Trái đất
đến quy luật này xin được xét ở 2 khía cạnh
- Sự thay đổi Vỏ cảnh quan theo cấu trúc thời gian: Trong tất cả các thành
phần của Vỏ cảnh quan, chỉ có cơ sở nham thạch là không chịu tác động của năng