ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƢƠNG
TÂM LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC BÀ MẸ
TẠI HUYỆN THƢỜNG TÍN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƢƠNG
TÂM LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC BÀ MẸ
TẠI HUYỆN THƢỜNG TÍN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ
VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Mimi Le
TS. Trần Thành Nam
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADAS
: Abbreviated Dyadic Adjustment Scale
(Thang đo hài lòng trong quan hệ hôn nhân ADAS)
BV
: Bệnh viện
GAD7
: Generalized Anxiety Disorder 7 items
(Thang đo lo âu GAD-7)
ICD-10
: International Classifcation of Diseases
(Bảng phân loại bệnh Quốc tế)
EPDS
: Edinbugh Postpartum Depression Scale
(Thang đo trầm cảm sau sinh của Edinbugh)
LA
: Lo âu
ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……………………………………………………………….....i
Danh mục các chữ viết tắt …………….……………………….….……….ii
Mục lục… ................................................................................................... iii
Danh mục các bảng ………….…………………………………………….v
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................... 6
1.1. Vấn đề thuật ngữ TCSS và lịch sử phát triển ........................................ 6
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nước ngoài ............... 7
1.3. Một số kết quả nghiên cứu trầm cảm sau sinh ở Việt Nam.................... 12
1.4. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. .............................. 17
1.4.1. Khái niệm văn hoá………………………………………………………… 19
1.4.2. Khái niệm chấn thương tâm lý…………………………………………… 19
1.4.3. Khái niệm trầm cảm
20
1.4.4. Khái niệm trầm cảm sau sinh............................................................. 20
1.5. Một số quan điểm về nguyên nhân của TCSS........................................ 22
1.5.1. Nguyên nhân sinh học ........................................................................ 22
1.5.2. Nguyên nhân tâm lý, xã hội. ............................................................... 23
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................. 29
2.1. Một vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu. ................................... 29
2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu ..................................................... 30
2.2.1.Tổ chức nghiên cứu ............................................................................. 30
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 31
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 62
1.
Kết luận ................................................................................................ 62
2.
Khuyến nghị ......................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 65
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 72
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở nước ngoài .......... 9
Bảng 1.2. Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở trong nước ......... 13
Bảng 3.1. Tuổi của nhóm khách thể nghiên cứu ........................................... 34
Bảng 3.2. Đặc điểm về trình độ học vấn của khách thể nghiên cứu .............. 35
Bảng 3.3. Đặc điểm về nghề nghiệp của khách thể nghiên cứu. ................... 36
Bảng 3.4. Đặc điểm về thu nhập của khách thể nghiên cứu .......................... 36
Bảng 3.5. Tuổi kết hôn của nhóm khách thể nghiên cứu .............................. 37
Bảng 3.6. Tình trạng sống chung của nhóm nghiên cứu ............................... 37
Bảng 3.7. Phân loại lo âu theo thang sàng lọc GAD-7 .................................. 38
Bảng 3.8. Phân loại trầm cảmtheo thang sàng lọc PHQ-9 ............................ 39
Bảng 3.9. Tương quan giữa lo âu trầm cảm trước sinh và các biến số .......... 40
Bảng 3.10. Mô hình hồi quy lo âu trước sinh và các biến số......................... 42
Bảng 3.11. Mô hình hồi quytrầm cảm trước sinh và các biến số................... 43
Bảng 3.12. Phân loại lo âu theo thang sàng lọc GAD-7 ................................ 44
cạn khiến các bà mẹ đã có sự biến đổi lớn về sinh lý và tâm lý đặc biệt là sự biến
đổi về tâm lý đòi hỏi người phụ nữ phải thích nghi dần dần cả về mặt cơ thể và
tinh thần. Và văn hóa truyền thống cũng góp phần ảnh hưởng đến cuộc sống của
những bà mẹ mới sinh. Phần lớn các bà mẹ dần dần thích nghi với những cái mới
nên không có phản ứng nặng nề về cơ thể và tâm lý. Còn ở một số ít phụ nữ những
thay đổi này có thể quá ngưỡng làm xuất hiện một số rối loạn tâm thần ở mức độ
khác nhau trong đó có trầm cảm sau sinh [1,tr. 57-64].
Những nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây phát hiện ra rằng trong
giai đoạn sau sinh thường dễ nhạy cảm với những thay đổi trong cuộc sống của
người mẹ và đứa con mới chào đời thì rối loạn tâm lý thường có thể gặp nhất là
trầm cảm.Trầm cảm sau sinh có thể là nguy cơ đến sức khỏe tâm thần của người
mẹ cũng như mối quan hệ giữa mẹ và các thành viên khác trong gia đình đặc biệt
là những đứa con mới sinh, nó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về cảm xúc, tâm
lý, nhân cách và trí tuệ của trẻ sau này.
Một trong những hậu quả trầm trọng của trầm cảm sau sinh là người mẹ có
thể xuất hiện những ý nghĩ hay hành vi tự sát và nguy hiểm hơn là mẹ có thể giết
chết chính đứa con mà họ đã mang nặng đẻ đau. Trầm cảm sau sinh thường xuất
1
hiện ở những phụ nữ có tình trạng sức khỏe kém, tình trạng kinh tế xã hội thấp,
quan hệ vợ chồng và với các người thân khác ít có sự gắn bó, sinh con không theo
ý muốn (giới tính của con), tình trạng hôn nhân không thỏa mãn, hay mẹ có lạm
dụng chất kích thích, trình độ học vấn thấp, tuổi của mẹ cao quá hoặc thấp quá,
can thiệp trong quá trình sinh nở và cả những văn hóa truyền thống…Những yếu
tố này có ảnh hưởng đến việc chăm sóc những đứa con và cả việc chăm sóc sức
khỏe tâm thần cho mẹ. Theo nghiên cứu khảo sát kiến thức về TCSS thấy tỷ lệ các
bà mẹ bị tâm trạng buồn chán sau sinh (baby blues) chiếm 80%, trong đó tỷ lệ các
bà mẹ mắc TCSS chiếm khoảng 10% và tỷ lệ bị loạn thần sau sinh khoảng 0,10,2% (Roberstson, Celasun và Stewaard,2003). Vì vậy với mong muốn tạo sự
quan tâm chú ý đặc biệt cho những bà mẹ sau khi sinh nên tác giả muốn tiến hành
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sự tác động qua lại giữa chấn thương tâm lý với lo âu và trầm cảm sau sinh.
- Các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở các bà mẹ trước sinh (6-9 tháng) và sau sinh (3
tháng).
4.2. Khách thể nghiên cứu
134 bà mẹ mang thai từ 6 - 9 tháng và sau khi sinh (3 tháng) tại Thường Tín
– Hà Nội đến đăng ký khám thai định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ em ban đầu ở tuyến xã.
5. Giới hạn nghiên cứu
5.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số yếu tố văn hóa và
chấn thương tâm lý ảnh hưởng đến các bà mẹ trước sinh (6 – 9 tháng) và sau sinh
(3 tháng) cũng như mối quan hệ giữa chúng với nguy cơ trầm cảm sau sinh của
các bà mẹ.
5.2. Giới hạn địa bàn và phương thức chọn mẫu khách thể nghiên cứu
Công tác chọn mẫu được tiến hành trên những bà mẹ mang thai từ tháng thứ
6 đến tháng thứ 9 đến đăng ký khám thai định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ em ban đầu tuyến xã tại huyện Thường Tín- Hà Nội trong
khoảng thời gian từ tháng thứ 3 đến tháng 11 năm 2014. Tất cả khách thể nghiên
cứu được lựa chọn phải ký xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được giới
tiệu về mục đích nghiên cứu cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của người tham
gia nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu biết trước sẽ phải tham gia trả lời phiếu hỏi
2 lần (lần 1 vào thời gian trước khi sinh từ 6 – 9 tháng và lần thứ 2 vào khoảng 3
tháng sau khi sinh). Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những bà mẹ có tiền sử bị loạn
thần, những bà mẹ có biểu hiện chậm phát triển tâm thần…..
6. Giả thuyết nghiên cứu
3
4
- Giúp các bà mẹ, cộng đồng nâng cao nhận thức về các vấn đề sức khoẻ của phụ
nữ trước và sau thời kỳ sinh nở có thêm kiến thức, kỹ năng để có thể phồng ngừa
TCSS.
- Bổ sung thêm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học nghành tâm lý
học lâm sàng vào học phần Tâm bệnh học cũng như gợi mở các hướng nghiên cứu
tiếp theo về TCSS.
- Bằng chứng từ nghiên cứu này có thể xác định các yếu tố nguy cơ có ảnh
hưởng đến TCSS chính từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa cho các bà mẹ
trong thời gian mang thai và sau khi sinh nở để giảm thiểu TCSS.
9. Một số vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu
- Quy trình, nội dung, mục đích nghiên cứu được giới thiệu chi tiết dến khách thể
nghiên cứu.
- Những khách thể nghiên cứu được lựa chọn hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi
tham gia nghiên cứu, ký xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Cán bộ nghiên cứu tôn trọng quyết định của khách thể nghiên cứu. Khách thể
nghiên cứu có thể quyết định không tiếp tục tham gia nghiên cứu bất kỳ thời điểm
nào.
- Thông tin cá nhân được tách riêng và mã hóa để đảm bảo tính bảo mật.
- Khách thể được giới thiệu về người chịu trách nhiệm về quyền lợi người nghiên
cứu và số điện thoại liên lạc.
- Quá trình khảo sát bằng bảng hỏi được sự đồng ý và thông qua của lãnh đạo các
trạm y tế nơi tác giả chọn làm địa bàn thực hiện nghiên cứu.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
1856. Marce đưa ra khái niệm hiện đại cho bệnh tâm thần liên quan thai kỳ sau
sinh. Đến năm 1858 ông báo cáo về 310 trường hợp phụ nữ trầm cảm trong thời
gian mang thai và sau sinh. Kết quả cho thấy 9% phụ nữ trầm cảm trong thời gian
mang thai, 58% trầm cảm giai đoạn sau sinh, 33% trầm cảm trong giai đoạn cho
con bú. Ông đã đưa ra nhận định rằng TCSS có nhiều tính năng khác với bệnh tâm
thần khác và điều này thực sự phải được phân loại như là một chẩn đoán riêng biệt
[70, tr 157-165].
6
Đến năm 1968 Brice Pitt đầu tiên mô tả trầm cảm “không điển hình”( về
sau được gọi là buồn người mẹ - maternity blues) ảnh hưởng đến các bà mẹ từ
ngay sau khi sinh con. Nghiên cứu rộng rãi dựa trên phỏng vấn có hệ thống tiêu
chuẩn chẩn đoán để xác định bệnh cho các bà mẹ, tỷ lệ trầm cảm từ nhẹ đến trung
bình, cao trong 6 tháng đầu sau sinh và được tiến hành trên mẫu đại diện cho quần
thể dân số và kết quả cho thấy khoảng 10,8% phụ nữ bị TCSS. Ông gọi đó là trầm
cảm “không điển hình” vì các triệu chứng của TCSS không giống với bệnh tâm
thần khác [28, tr.1325-1335].
Khái niệm trầm cảm không có loạn thần xuất hiện vào năm 1970. Từ đó đến
nay trầm cảm cũng như loạn thần liên quan đến thai sản được nghiên cứu ngày
càng nhiều và có hệ thống đặc biệt là ở các nước phát triển [66, tr 2646-2658].
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nƣớc ngoài
Đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về
trầm cảm sau sinh. Nội dung các nghiên cứu rất đa dạng, tập trung về các vấn đề
như nguyên nhân, cơ chế bệnh, đặc điểm, triệu chứng, biểu hiện bệnh, các yếu tố
văn hóa xã hội, sang chấn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh.
Ví dụ Chandran và cộng sự (2002) nghiên cứutrên 359 bà mẹ trong 3 tháng
cuối thời kỳ mang thai và 6-12 tuần sau sinh báo cáo tỷ lệ trầm cảm sau sinh
chiếm 19,8% các yếu tố ảnh hưởng đến như thu nhập thấp, giới tính của con
(mong muốn con trai), mối quan hệ không tốt với mẹ chồng và cha mẹ đẻ, các sự
Một nghiên cứu ngoài cộng đồng khác tại Pakistan tác giả Husain và cộng
sự (2006) nghiên cứu trên 175 bà mẹ đang mang thai (lần 1) và 149 bà mẹ sau sinh
3 tháng (lần 2). Công cụ được dùng để đo là thang EPDS kết quả cho thấy tỷ lệ
TCSS chiếm 36% với các yếu tố bạo lực gia đình, hỗ trợ xã hội thấp(gia đình, bạn
bè, chồng) và lo lắng trước khi sinh [50, tr268-276].
Nghiên cứu khác của Xie và cộng sự (2007) trên 300 bà mẹ sau sinh 6 tuần
tại 4 bệnh viện của Trung Quốc và sử dụng thang đo EPDS. Kết quả cho thấy
17,3% bà mẹ TCSS với các yếu tố ảnh hưởng như giới tính của trẻ, sự hài lòng với
cuộc sống [53, tr 1355-1373]
Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2005) trên T1:335 (bà mẹ đang mang thai),
T2: 244 bà mẹ sau sinh 6 tuần tại cộng đồng, sử dụng thang EPDS. Tác giả đã
8
công bố có 24,2% các bà mẹ TCSS với EPDS các yếu tố liên quan là TC trước
sinh và lo lắng trước sinh [56, tr 77-103]
Với nghiên cứu của Mayumi Watauabe và cộng sự (2008) đã điều tra 235
bà mẹ trước khi sinh và điều tra lại sau 5 ngày, 1 tháng, 3 tháng sau khi sinh. Công
cụ sử dụng để điều tra là thang EPDS của Edinburgh. Kết quả nghiên cứu cho thấy
có 12,8% khách thể nghiên cứu đáp ứng tiêu chí rối loạn trầm cảm sau sinh theo
thang đo này [58, tr 211-217]
Một nghiên cứu khác về bệnh trầm cảm ở nhóm phụ nữ nghèo trong độ tuổi
sinh đẻ có con 12 tháng tuổi hoặc lớn hơn của tác giả Weitzman (2010) nghiên
cứu được thực hiện trên 845 bà mẹ nói tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha và đánh
giá nhanh triệu chứng trầm cảm (QIDS-SR) bảng câu hỏi gồm 16 đề mục được
thiết kế đo lường độ nặng của trầm cảm cho thấy có 44% (372 bà mẹ ) có triệu
chứng trầm cảm [72, tr 2010-3034]
Nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở các nước phát triển như một nghiên cứu
về phụ nữ Arap sống ở Quatar mà tác giả là Benner (2011) đã nghiên cứu trên
1379 bà mẹ. Công cụ nghiên cứu là thang EPDS. Thời gian điều tra là 6 tháng sau
6-12 tuần
9
Tỷ lệ
TCSS
Các biến, nguy
cơ yếu tố ảnh
%
hƣởng
19,8
-Thu nhập thấp
-Giới tính
(2002)
-Mối
quan
hệ
không tốt với mẹ
chồng
tế
khó
-bạo lực gia đình
-Giới tính
-Quan hệ hôn
nhân không như
mong muốn
3
Emma
14000
EPDS
2 tuần sau
10-15
sinh
Robertson
Không đề cập
(2004)
4
Reck(2004)
853
6
Elizabeth
Coorwin
(2006)
31
Husain
(2006)
175
7
EPDS
EPDS
(≥ 12)
2 sinh tuần
sau sinh
55,2
6 tuần sau
sinh
17,3
-Giới tính của trẻ
-Không hài lòng
với cuộc sống
9
Lee (2005)
T1:335
T2:244
EPDS
6 tuần sau
sinh
24,2
-TC trước sinh
-Lo âu trước sinh
10
Mayumi
(2010)
12
Benner
(2011)
1379
EPDS
6 tháng sau
sinh
17,6
-Khó khăn về tài
chính
-Sinh non
-Thiếu sự hỗ trợ
-Mâu thuẫn trong
quan hệ hôn nhân
13
1Dennis
(2012)
8
4216
Nghiên cứu cắt ngang của Lê Quốc Nam (2002) khảo sát trên 321 sản phụ
đến tái khám 4 tuần sau sinh tại Bệnh viện từ Dũ TPHCM bằng công cụ sàng lọc
EPDS, thang đo Haminton cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm 12,5% . Nghiên
cứu chỉ ra các yếu tố nguy cơ dẫn đến TCSS như : Có mối quan hệ vợ chồng
không tốt chiếm 60% trường hợp, có tiền căn lo âu hoặc mất ngủ là 30%, có thói
quen dùng rượu và thuốc lá là 29%, không có ai để tâm sự là 22% khó sinh là
18%, gặp khó khăn khi cho con bú là 17%, phải tự chăm sóc bản thân sau sinh là
11%, không nhận được sự giúp đỡ nào trong việc chăm sóc bé ban đêm là 10%
[14, tr 1-7]
Một nghiên cứu trường diễn Lê Thanh Hiệp (2008) trên 305 phụ nữ mang
thai có nguy cơ cao đến khám tại bênh viện Từ Dũ từ tháng 6/2007 – 12/2008
sàng lọc bằng EPDS cho thấy tỷ lệ TCSS là 21,6%, buồn sau sinh là 30,2%. Các
yếu tố ảnh hưởng là thiếu sự hỗ trợ chăm sóc trẻ sau sinh, sinh con không như
mong muốn, trầm cảm trong thai kỳ, tình trạng sức khỏe trẻ yếu, phương pháp
12
sinh, hỗ trợ của chồng,em bé khóc đêm, tình trạng kinh tế thấp, mâu thuẫn với gia
đình chồng [8, tr 69-74].
Tác giả Lương Bạch Lan (2009)tại bệnh viện Hùng Vương trên 290 sản phụ
(có con gửi vào dưỡng nhi tuần thứ 4 đến tuần thứ 6 sau sinh) sử dụng phương
pháp tiến cứu phỏng vấn trực tiếp và sử dụng công cụ EPDS thì tỷ lệ mắc trầm
cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm
cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khỏe khi mang thai, tử
vong sơ sinh [12, tr 104-108]
Nghiên cứu của Tô Thanh Phương BVTTTW Thường Tín – Hà Nội (2010)
trên 16 bệnh nhân đang điều trị tại BV sử dụng công cụ là Beck, Zung cho thấy
lứa tuổi của mẹ dễ mắc TCSS là tuổi từ 26-35. Các yếu tố có liên quan đến TCSS
như thiếu sự hỗ trợ, con không theo ý muốn [16,tr 3-18]
Theo tác giả Phạm Ngọc Thanh (2011) nghiên cứu “Trầm cảm ở những bà
yếu tố ảnh hƣởng
1
Lê Quốc Nam
321
EPDS
4 tuần
12,5
-Có mối quan hệ vợ
(>9)
sau
(2002)
13
chồng không tốt
sinh
-Có tiền căn lo âu
-Tình trạng kinh tế
thấp
-Mâu thuẫn với gia
đình chồng
-Trẻ hay khóc đêm
3
Lƣơng Bạch Lan
(2009)
290
EPDS
(≥ 12)
4-6
tuần
sau
sinh
11,6
-Sức khoẻ yếu khi
mang thai
-Tử vong của trẻ sơ
sinh
-Thời gian con nằm
viện trên 30 ngày
sinh
-Gia đình bắt ly dị
14
vì không sinh được
con trai
-Mâu thuẫn với
chồng
-Lo lắng cho sưc s
khoẻ của con
-Thai ngoài ý muốn
-Thiếu sự nâng đỡ
tâm lý
-thiếu sự hỗ trợ
Tiểu kết về các nghiên cứu TCSS ở trong nƣớc:
Tóm lại, các nghiên cứu được tiến hành trên quần thể phụ nữ Việt Nam cũng
có nhiều điểm tương đồng với các bằng chứng nghiên cứu thu được từ nước ngoài.
Bằng những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS ở phụ nữ Việt Nam rất biến động tùy
thuộc vào các biến số khác nhau như nhóm cộng đồng, nhóm lâm sàng trong bệnh
viện, nhóm sống ở khu vực nông thôn, nhóm phụ nữ cao tuổi…Các nghiên cứu đã
được tiến hành thường sử dụng công cụ sàng lọc EDPS của Edinbugh với điểm cắt
biến thiên trong khoảng từ 9 – 13 điểm. Nghiên cứu đi trước cũng chỉ ra các yếu tố
nguy cơ làm tăng tỷ lệ TCSS gồm việc sinh con không như mong muốn, lo âu
trầm cảm trong quá trình mang thai, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, sang chấn tâm lý,
khó khăn kinh tế, khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻ sau sinh, thời gian nằm
viện của mẹ và trẻ…
Trong phần này, chúng tôi sẽ bàn luận sâu hơn về mối quan hệ giữa yếu tố
cá, kiêng không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời…Tác giả đã chia làm 3 cấp độ tập
quán chăm sóc sau sinh: (i) Các yếu tố có lợi cho sức khỏe các bà mẹ và trẻ sơ
sinh như không uống nước nóng và đồ uống có cồn.(ii) Các yếu tố trung tính như
không chải đầu, không soi gương, gạc bông tai,mặc áo dài tay(thời tiết nóng).(iii)
Các yếu tố gây hại đối với sức khỏe các bà mẹ như không ăn cá, hoa quả, hải sản,
thịt bò, kiêng uống nhiều nước, không sử dụng biện pháp tránh thai trong thời kỳ
hậu sản [19, tr 20-25]. Hay một nghiên cứu khác của Fisher và cộng sự (2004) trên
506 bà mẹ Việt Nam đang sinh sống tại TPHCM cho thấy các bà mẹ phải tuân thủ
thực hiện kiêng khem như phải nằm trên lửa , không được tắm gội, phải đeo gạc
bông tai để tránh nghe tiếng động lớn, phải dùng thảo dược, phải ăn những thức ăn
đặc biệt, phải hạn chế ra ngoài trong 30 ngày sau sinh…Tỷ lệ những bà mẹ thực
16
hiện theo các nguyên tắc kiêng khem trên có điểm cao hơn trên thang đo sàng lọc
TCSS EPDS [42, tr 1353-1360].
Tiểu kết về các yếu tố ảnh hƣởng đến TCSS
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng yếu tố văn hoá có
ảnh hưởng nhất định tới TCSS ở các bà mẹ. Đối với Việt Nam như nghiên cứu của
Lê Minh Thi bước đầu cũng đã chỉ ra 3 cấp độ ảnh hưởng bởi tập quán chăm sóc
sau sinh (i) các yếu tố có lợi cho sức khoẻ các bà mẹ và trẻ sơ sinh (ii) Các yếu tố
trung tính (iii) Các yếu tố gây hại cho sức khoẻ các bà mẹ. Qua các nghiên cứu
TCSS trong và ngoài nước thì yếu tố văn hoá có ảnh hưởng nhất định đến TCSS.
Tuy nhiên ở mỗi một nền văn hoá, vùng miền khác nhau thì mức độ ảnh hưởng
cũng khác nhau. Với văn hoá nước ngoài thì việc kiêng khem sau sinh có ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ tâm thần đặc biệt là TC. Với Việt Nam các nghiên cứu
vềTCSS có ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hoá không nhiều nhưng cũng cho chúng
ta thấy được phần nào yếu tố văn hoá hay kiêng khem sau sinh có ảnh hưởng tới
TCSS mặc dù không đề cập tới tỉ lệ
Như vậy có thể nói rằng yếu tố văn hóa truyền thống đã có ảnh hưởng nhất
gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ,
huyền thoại tư thế, nghi thức, phong tục, tập quán, cổ truyền. Cái hữu thể và
cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác với tâm trí
con người.
1.4.2. Khái niệm chấn thương tâm lý
Là phản ứng về tâm sinh lý của bản thân sau một biến cố hay một sự kiện
gây tổn thương mà chủ thể đã sống qua hoặc đã chứng kiến sự kiện đó dẫn đến
những thay đổi về cảm xúc, hành vi cũng như biến đổi về hoạt động xã hội, nghề
nghiệp của chủ thể.
1.4.3. Khái niệm trầm cảm
Trước đây, các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn bệnh
điển hình với tình trạng u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế nặng nề các mặt hoạt
động tâm thần. Chủ yếu là các quá trình: 1/Cảm xúc ức chế , biểu hiện bằng khí sắc
giảm, buồn rầu; 2/ Các quá trình tư duy bị ức chế, dòng tư duy chậm lại; 3/ Hoạt
động bị ức chế thể hiện tình trạng chậm chạp cả lời nói và hành vi, nhiều khi nặng
đến mức sững sờ, bất động [52, tr 307-323].
18