BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA - Pdf 21

BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA

PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp
Trường Đại học KHXH-NV, ĐHQG Tp. HCM

Báo cáo tại Hội thảo khoa học BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
VÀ HỘI NHẬP do Đề tài KX. 03.14/06-10 (CHƯƠNG TRÌNH KX.03/06-10)
và Khoa Văn hóa học (Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM) tổ chức
ngày 17-17/9/2009 tại Biên Hòa (Đồng Nai). Đặt vấn đề
Về mặt lý thuyết và thực tiễn, hai khái niệm cơ bản của các khoa học về văn
hóa là khái niệm giá trị và bản sắc. Vấn đề này cực kỳ quan trọng liên quan đến
quan điểm, đường lối và các giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc.
Ngay ở Việt Nam các khái niệm này không phải một lúc được xác định rõ ràng.
Sau cách mạng tháng Tám, chúng ta đề ra nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa
mới nhưng lại máy móc dựa vào phương châm của Liên Xô cũ: Xây dựng một nền
văn hóa mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc. Giới lãnh đạo và
quản lý văn hóa rất băn khoăn vì chẳng lẽ dân tộc chỉ ở hình thức thôi ư? Cho đến
Đại hội văn nghệ năm 1957 giới văn nghệ đã thảo luận và đề nghị với Trung ương
cho sửa lại phương châm là: Xây dựng một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và
tính dân tộc. Tính dân tộc nằm ngay trong cả nội dung và hình thức. Đến Đại hội
VI của Đảng ( 1986), khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc được nêu lên và được
chấp nhận là: “ Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” lấy
đó làm mục tiêu của nền văn hóa mới ở Việt Nam (Huy Cận, 1994, tr, 157-
158). Kể từ đó đến nay, trong giới lãnh đạo, quản lý văn hóa, giới nghiên cứu và
cả trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói quá nhiều về bản sắc văn
hóa dân tộc. Nhưng khi trao đổi, thảo luận về nội dung của khái niệm này thì có

khứ, hấp thụ được giá trị của hiện đại, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại để tự phát triển mà không đánh mất mình” ( Nguyễn Thế Nghĩa, 1998). Cũng
với cách tiếp cận đó có người còn liệt kê ra một bảng giá trị của văn hóa Việt Nam
như: yêu nước, tinh thần bất khuất trong đấu tranh chống xâm lược, tính cộng
đồng, cần cù, thông minh, sáng tạo, hiếu học, thương người… Bảng giá trị này
nhìn qua thấy rất chính đáng, dễ dàng chấp nhận nhưng lại không chính đáng về
mặt khoa học.
Khái niệm giá trị được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau, được
nhìn từ góc độ của nhu cầu xã hội, từ các quan niệm về nhân sinh. Trong đời sống
xã hội, giá trị nằm trong tâm thức cá nhân, cộng đồng có tác động tới hành vi và
ứng xử của con người. Với tư cách là sản phẩm của tập thể và là một bộ phận quan
trọng hợp thành của nền văn hóa, các giá trị được hình thành và bảo lưu trong một
qúa trình lịch sử lâu dài, ít biến đổi cái mà nhiều nhà khoa học gọi là hằng số, yếu
tố tĩnh của văn hóa, nằm trong tâm thức của con người chính là các hệ thống giá
trị. Cái gốc của văn hóa là giá trị. Nhưng hệ thống giá trị có các cấp độ (thang bậc)
khác nhau cần được phân loại để tiến hành nghiên cứu. Có những giá trị phổ quát
như CHÂN, THIỆN, MỸ. có hệ thống giá trị vật chất và tinh thần. Theo cấp độ
của các đơn vị xã hội có giá trị cá nhân, nhóm, cộng đồng ( tộc người, quốc gia),
khu vực và nhân loại.
Theo góc độ đáp ứng những nhu cầu xã hội, hệ thống phân loại này dựa vào
các lĩnh vực khác nhau của đời sống con người:
- Giá trị thuộc về mặt sinh học ( sức khỏe, tuổi thọ, môi trường )
- Giá trị kinh tế ( giàu có, sang trọng, biết làm ăn…)
- Giá trị tri thức ( hiểu biết, học vấn, trọng trí thức )
- Giá trị tâm linh (tôn giáo, tín ngưỡng…)
- Giá trị chính trị ( hệ tư tưởng, cách thức tổ chức và quản lý xã hội…)
Theo quan niệm về nhân sinh, ý nghĩa của cuộc sống con người có các giá trị:
- Giá trị về lẽ sống ( quan niệm về thiện, ác, hạnh phúc và bất hạnh, ý
nghĩa và mục đích của cuộc đời )
- Giá trị hiện sinh ( sự sống, sức khỏe, an sinh xã hội…)

chuẩn mực và tiêu chí của nó. Gộp chung các giá trị của các thang bậc khác nhau
sẽ làm rối lên và tính khoa học của nó bị mất đi.
Khi nghiên cứu về văn hóa, Phạm Đức Dương đã giới thiệu sơ đồ cấu trúc
hai bậc của văn hóa. Theo sơ đồ này thì cấu trúc văn hóa có hai bậc: cấu trúc bề
mặt gồm hệ thống ký hiệu biểu thị và hệ thống ký hiệu biểu tượng là biến số, yếu
tố động của văn hóa; còn cấu trúc chiều sâu gồm hệ giá trị ( vật chất và tinh thần)
và bản sắc văn hóa ( truyền thống, nếp sống). Nhưng sơ đồ này chưa giả thích mối
quan hệ giữa hệ giá trị và bản sắc văn hóa. Theo ông, cấu trúc chiều sâu là bộ phận
chìm khó nhìn thấy nằm dưới cơ tầng ( tức nằm trong tâm thức của con người), là
yếu tố tĩnh của văn hóa. Đó chính là hệ giá trị của văn hóa. Giải thích về mối
quan hệ giữa giá trị văn hóa với bản sắc văn hóa theo ông thì: “ Cấu trúc chiều sâu
là cái kết tinh, lắng đọng nằm ẩn dưới cơ tầng đóng vai trò định hướng, điều
chỉnh mọi sự biến đổi trên cấu trúc bề mặt, quy định bản sắc văn hóa của mỗi
cộng đồng và nhân cách của mỗi cá nhân, định hình nền văn hóa của mỗi dân tộc
trong không gian và thời gian ( Phạm Đức Dương, 2002. 221-236). Ở chỗ khác
ông giải thích: các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của
mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc và
được truyền từ đời này qua đời khác. Truyền thống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt
cộng đồng được gạn đục khơi trong để giữ lấy những gì tinh hoa, là vốn quý của
dân tộc. Do đó, giá trị thực chất là phản ánh quan hệ cơ bản của con người…Các
hệ giá trị là cái nhãn quan giúp con người lựa chọn những gì phù hợp với bản sắc
văn hóa cộng đồng tạo nên những tập quán, thói quen, những nếp sống đẹp gắn
chặt cố kết cộng đồng và khu biệt với các cộng đồng khác. Qua cách trình bày của
ông thì ta hiểu, bản sắc văn hóa là các giá trị truyền thống được chắt lọc và kết
tinh ( tinh hoa) được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc.
Cách giải thích này cho rằng giá trị quy định, định hướng bản sắc trong khi đó ở
sơ đồ thì nó có quan hệ độc lập với nhau.
Đề cập nhiều đến giá trị và bản sắc văn hóa phải kể đến Trần Ngọc Thêm.
Trong sách: Lý luận văn hóa (tập bài giảng) chưa công bố chính thức ông đã đưa
ra một định nghĩa tổng quát: “ Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu

trị thì chúng ta có thể đưa ra một bảng giá trị của văn hóa dân tộc cũng không mấy
khó khăn. Nếu nhìn nhận bản sắc theo quan điểm giá trị thì đó chỉ là sự đánh giá
của chúng ta hiện nay. Trên thực tế, giá trị thì có nhiều cái chung cho các dân tộc
và có thể định tính, định lượng được qua các chuẩn mực, tiêu chí, có thể đánh giá
được sự tốt, xấu, đẹp hay không đẹp. Thí dụ yêu nước là giá trị chung cho nhiều
dân tộc. Dân nào cũng yêu nước của mình cả, chỉ khác là cách thể hiện qua suy
nghĩ và hành vi là khác nhau, dựa trên chuẩn mực và tiêu chí khác nhau. Tính
cộng đồng cũng vậy, nhiều dân tộc có tính cộng đồng chứ không riêng chúng ta.
Thêm nữa, cũng là giá trị ấy nhưng cách thể hiện, chuẩn mực lại khác nhau trong
từng thời kỳ, giai đoạn. Yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ là hi sinh cho độc
lập tự do của dân tộc ( thà hi sinh chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ).
Còn bây giờ, thì yêu nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng và văn minh. Hơn nữa, giá trị có tính ổn định, nhất là giá trị truyền thống,
nhưng hiện nay là thời kỳ mà đất nước có sự chuyển biến thay đổi to lớn từ kinh tế
đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, bên cạnh giá trị cũ, nhiều giá trị
mới xuất hiện do nhu cầu của cuộc sống hôm nay, do tiếp nhận cả những giá trị
mới của thời đại. Có những giá trị cũ phù hợp với xã hội truyền thống như tính
cộng đồng, bây giờ vẫn còn giá trị, nhưng một mặt nào đó, khi chúng ta bước vào
kinh tế thị trường, vai trò cá nhân nhất là những cá nhân nổi trội, thì tính cộng
đồng theo kiểu truyền thống có lúc là rào cản cho sự phát triển. Nó kìm hãm sự
phát triển cá nhân, cá tính không phát huy được nội năng của cá nhân, không sử
dụng được nhân tài. Nhìn trên quan điểm phát triển, nếu quan niệm bản sắc là giá
trị tồn tại tương đối lâu dài trong truyền thống văn hóa của dân tộc thì việc định
hướng xây dựng giá trị mới đang đặt ra cấp thiết hiện nay phải làm như thế nào?
Khó khăn hơn nữa là làm sao và bằng cách nào để để bảo tồn và phát triển văn hóa,
cụ thể hơn là những giải pháp trên thực tế. Như vậy, tiếp cận bản sắc văn hóa dân
tộc từ quan điểm giá trị mới chỉ đưa ra quan điểm, nhận thức về mặt lý thuyết cho
việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc chứ chưa đưa ra được các giải pháp về
mặt thực tiễn.


tạo nên một sản phẩm văn hóa nhưng cách lựa chọn, cách thức sáng tạo và sử
dụng khác nhau. Nếu đánh giá theo quan điểm của giá trị thì sẽ dễ rơi vào tư tưởng
dân tộc trung tâm, có thể đề cao văn hóa của mình, mạt sát văn hóa dân tộc khác
hay tạo ra tâm lý tự ty mặc cảm đối với văn hóa của mình. Một ví dụ, trong thực
tiễn xây dựng văn hóa các dân tộc bản địa Tây Nguyên sau giải phóng. Để phát
triển văn hóa các dân tộc Tây Nguyên theo trào lưu chung, các cán bộ người Kinh
phát động phong trào đốt khố thay bằng mặc quần; vì cho rằng đóng khố là lạc hậu,
mặc quần mới văn minh. Đồng bào buộc phải đốt khố theo sự hướng dẫn của cán
bộ, nhưng họ không có thói quen mặc quần theo kiểu người Kinh, một thời gian
sau lại quay trở lại đóng khố. Một số người khác mặc cảm, tự ty nghĩ cán bộ coi
thường đồng bào dân tộc, gây nên cú sốc về văn hóa và tâm lý.
Với cách nhìn nhận trên, một số người không đi tìm bản sắc văn hóa từ
quan điểm giá trị mà từ quan điểm thực tiễn mang tính ứng dụng của nó.
Nhìn từ quan điểm này, Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Tòan bộ những đặc
điểm địa lý, môi trường tự nhiên, nhân chủng, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi
dân tộc quy định đặc trưng tâm lý, ý thức biến vào các biểu tượng, các mô thức
( vật chất, tinh thần), thành các phong tục, lối sống, phong cách tư duy, thị hiếu,
sở thích, tiêu chí đánh giá, phương thức hoạt động độc đáo. Tất cả những cái đó
tạo thành nét riêng của mỗi nền văn hóa mà người ta gọi là bản sắc văn hóa dân
tộc” ( Nguyễn Văn Huyên, 2002. tr, 343). Ông cũng phân tích thêm: “ Bề ngoài
bản sắc văn hóa dân tộc biểu hiện ở những tập quán, cách thức, phong thái, các
hình thức mà người ta thường gọi là sắc thái dân tộc. Bên trong nó là cái ổn định
thể hiện sức mạnh tiềm tàng, chi phối tư tưởng và hành động của dân tộc, tạo
thành cái gọi là bản lĩnh dân tộc.
Như vậy bản sắc văn hóa dân tộc là nơi hội tụ các phẩm chất tinh túy đặc
sắc nhất của dân tộc, là nhân lõi của bản chất văn hóa, là bộ gien lưu truyền sức
sống dân tộc” ( Nguyễn văn Huyên, 2002, tr, 345).
Cũng với cách tiếp cận trên, khi nghiên cứu về văn hóa tộc người Ngô Đức
Thịnh đã phân biệt hai khái niệm quan trọng trong nghiên cứu dân tộc học/nhân
học: “ Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt

trước đến đời sau; đã chịu thử thách của thời gian và rất hợp với quan điểm thẩm
mỹ của người Việt Nam.
Từ cách tiếp cận trên ông đưa ra các phương châm phát triển và trao đổi
văn hóa rất đáng được trân trọng:
- Phương châm thứ nhất và cơ bản trong việc phát triển văn hóa là “ không
làm mất bản sắc dân tộc”, là giữ trọn “tính dân tộc”;
- Phương châm thứ 2: Nên phát triển từ bên trong, trước khi vay mượn từ bên
ngoài;
- Phương châm thứ ba: Khi vay mượn yếu tố bên ngoài để phát triển văn hóa
của ta nên biết rất thấu đáo truyền thống của ta và người, để nhận rõ những yếu tố
“phù hợp” hay “không phù hợp”, thậm chí “đại kỵ” với truyền thống của ta, để áp
dụng hay gạt bỏ.
Ông còn nhắc nhở thêm: Cũng như việc ghép thảo mộc, hay ghép thận,
ghép tim cho người, nếu hai yếu tố “phù hợp” gặp nhau sẽ nẩy sinh những cây cỏ
lá thêm xanh, có hoa thêm tươi, có trái thêm ngọt, thì con người hết bệnh và khỏe
mạnh. Nếu ngược lại sẽ có sự “đào thải” cây và người sẽ chết.
Như vậy, dù có diễn đạt khác nhau, nhưng giữa ba ông có sự thống nhất về
những điểm sau:
- Bản sắc văn hóa là cái tinh túy, bản chất, sức sống, tâm hồn của dân tộc;
- Bản sắc văn hóa là cái đặc sắc (cái riêng) để phân biệt văn hóa của dân
tộc này khác với văn hóa của các dân tộc khác;
- Sắc thái văn hóa là cái biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hóa vốn là cái trừu
tượng qua các lĩnh vực khác nhau của sinh hoạt văn hóa dân tộc.
Vài nhận xét
Từ việc tìm hiểu hai cách tiếp cận nghiên cứu về bản sắc văn hóa nêu trên,
cho phép chúng ta rút ra mấy nhận xét sau:
Cách tiếp cận nghiên cứu bản sắc văn hóa từ quan điểm giá trị là quan niệm
khá phổ biến ở Việt Nam. Đây thường là quan điểm nghiên cứu của các nhà triết
học văn hóa và văn hóa học, nghiên cứu văn hóa trong cấu trúc hệ thống và trong
mối quan hệ tổng thể của các thành tố văn hóa dân tộc. Lợi thế của nó là tìm ra cái

cái đặc thù của văn hóa mỗi dân tộc, thể hiện tính đa dạng trong cách thức sáng tạo,
sử dụng và hưởng thụ văn hóa. Còn sắc thái văn hóa là những biểu hiện cụ thể của
nó qua hệ thống biểu tầng gồm hệ thống ký hiệu biểu thị và hệ thống ký hiệu biểu
tượng là những biến số của văn hóa qua các thành tố văn hóa khác nhau. Quy bản
sắc văn hóa về giá trị văn hóa có thể làm cho chúng ta chưa thấy hết tính đa dạng
của chúng.

Tài liệu trích dẫn
1. Huy Cận, 1994. Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, 1998. Văn kiện Hội nghị lần thứ V BCHTƯ
khóa VIII, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Nguyễn Thế Nghĩa, 1998. Mấy vấn đề về văn hóa và phát triển , trong
sách “ Văn hóa và phát triển ở Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Mai văn Hai, 2005. Xã hội học văn hóa, Nxb, Đại học quốc gia Hà Nội.
5. Từ điển triết học (tiếng Việt). Nx Chính trị, Matxcơva, 1972
6. Phạm Đức Dương, 2002. Từ văn hóa đến văn hóa học, Nxb, Văn hóa
thông tin.
7. Trần Ngọc Thêm. Lý luận văn hóa (tập bài giảng)
8. Nguyễn Văn Huyên, 2002. Hội nhập văn hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc
dân tộc. trong sách: Việt nam trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia.
9. Ngô Đức Thịnh, 1996. Các sắc thái văn hóa tộc người. Trong sách: Văn
hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam. Nxb, KHXH).
10. Trần Văn Khê, 2002. Suy tư về vấn đề “phát triển văn hóa” . Trong sách.
Việt Nam trong thế kỷ XX.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status