Đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở ban quản lý rừng nam huoai, tỉnh lâm đồng - Pdf 41

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLR) Nam Huoai quản lý nằm trên địa
bàn huyện Đạ Huoai, là một huyện phía nam của tỉnh Lâm Đồng, được giao quản lý,
sử dụng 17.359.23ha rừng và đất. Trong đó kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới
(Rkx) ở BQLR Nam Huoai có diện tích 9.608,0 ha, độ che phủ khoảng 55,4% diện
tích đất tự nhiên của BQLR Nam Huoai có ý nghĩa to lớn về phòng hộ đầu nguồn, kinh
tế, quốc phòng và bảo vệ môi trường sống. Tuy nhiên, cùng với sự mất rừng do nhu
cầu sử dụng tài nguyên rừng tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp
của tài nguyên rừng đối với cuộc sống của con người rất lớn như gỗ trong xây dựng, đồ
thủ công mỹ nghệ…. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân còn thấp và năng lực quản
lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp quản lý bảo vệ và
phát triển rừng chưa cụ thể, chưa sâu sát nên hiệu quả bảo vệ rừng chưa cao làm cho
kiểu rừng Rkx ở đây cũng bị suy giảm về diện tích.
Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1952, 1965 [12, 13]; Kimmins, 1998 [27]; Thái
văn Trừng, 1999 [19]) đã chỉ ra rằng, quản lý rừng, bảo vệ rừng và những phương thức
lâm sinh đòi hỏi phải có những kiến thức về các loại rừng. Năm 2009, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn [3] đã ban hành thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về “Quy
định tiêu chí xác định và phân loại rừng” phục vụ điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy
hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình và
dự án lâm nghiệp. Theo thông tư này, rừng nước ta được phân chia dựa theo các mục
đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, loài cây và trữ lượng. Căn cứ
vào trữ lượng gỗ, rừng gỗ được phân chia thành 5 loại phụ: rừng rất giàu, rừng giàu,
rừng trung bình, rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng. Rừng rất giàu, rừng giàu, rừng
trung bình và rừng nghèo tương ứng là rừng có trữ lượng cây đứng (M, m3/ha) trên
300, 201 - 300, 101 - 200 và 10 – 100 m3/ha.
Những phương thức lâm sinh được xây dựng dựa trên những thông tin về điều
kiện tự nhiên (lập địa), kết cấu loài cây gỗ (tổ thành rừng), cấu trúc, tái sinh và đa dạng
loài cây gỗ của rừng. BQLR Nam Huoai được giao quản lý 17.359.23ha rừng và đất
trong đó nhóm rừng giàu có diện tích là 555,06ha; rừng trung bình có diện tích là

dụng những mô hình toán để phân tích cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên.
1.3. Những nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ
Khi nghiên cứu về rừng, thành phần loài cây và vai trò của chúng trong quần xã
là những vấn đề đáng quan tâm. Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1965[13]; Baur, 1976
[1]; Thái Văn Trừng, 1999 [19]) cho rằng, rừng được hình thành bởi những loài cây
khác nhau. Vì thế, khi phân tích kết cấu loài cây gỗ (tổ thành cây gỗ), nhà lâm học cần
phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài. Dựa vào những loài cây
hình thành rừng, Richards đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành hai nhóm. Nhóm 1 là
rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế. Nhóm 2 là rừng mưa đơn ưu thế. Curtis
và McIntosh (1951)(Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010[22]) đã sử dụng thuật ngữ giá
trị quan trọng của loài (IV) để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã. Chỉ số IV
được tính bằng tổng độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết
diện ngang thân cây tương đối (G%). Kayama (1961) (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm,
2010[22]) biểu thị vai trò của loài bằng 4 tham số: F%, N%, độ che phủ tương đối
(W%) và thể tích thân cây tương đối (V%). Phương pháp của Curtis và McIntosh
(1951) có một số nhược điểm: (a) chỉ số IV thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô
mẫu; (b) F% chỉ có ý nghĩa khi phân bố của loài là ngẫu nhiên. Ở Việt Nam, Thái Văn
Trừng (1999) [19] đã sử dụng N%, G% và V% để biểu thị cho vai trò của loài trong
quần xã. Dựa theo ba tham số này, những quần xã thực vật rừng được phân chia thành
những quần hợp, ưu hợp và phức hợp. Đối với cây bụi, chỉ tiêu đo đếm là thành phần
loài và độ phong phú của loài. Độ phong phú của loài được đánh giá dựa theo chiều
cao và độ che phủ của tán lá trên mặt đất. Độ phong phú của thảm cỏ được đánh giá
theo phần trăm độ che phủ của thảm cỏ trên mặt đất. Theo Druze (Nguyễn văn Thêm,
2002, 2010 [20, 22]), độ che phủ của thảm cỏ được phân chia thành 7 cấp (Un = 0,2%,
Sol < 1%, Sp 1 – 4%, Cop1 = 5 – 20%, Cop2 = 21 – 50%, Cop3 = 51 – 75% và Soc =
76 – 100%). Trong tính toán, bảy cấp độ phong phú của Druze được mã hóa theo thứ
tự từ 0 – 6.
Ngày nay đa dạng sinh vật là mối quan tâm lớn đối với mỗi quốc gia (Gaston,
2000 [26]; Magurran, 2004 [28]) bởi vì đa dạng sinh vật có ý nghĩa lớn đối với quy
hoạch rừng, bảo tồn đa dạng sinh vật, đời sống cộng đồng và kinh tế . Theo Whittaker

Quốc Huy, 2005[7]; Viên Ngọc Nam, 2005[11]; Bộ Khoa học công nghệ và Môi
trường, 2007 [2]) đã biên soạn những tài liệu và sách hướng dẫn phương pháp nghiên
cứu đa dạng sinh học. Đỗ Hữu Thư và Trịnh Minh Quang (2007)[23] đã sử dụng
những ô mẫu 0,2 – 1,0 ha để phân tích so sánh đa dạng thực vật giữa những loại hình
rừng khác nhau ở lâm trường M’Drak tỉnh Đắk Lắk; trong đó sự giàu có về loài được
tính theo chỉ số Magalef, chỉ số đồng đều được tính theo chỉ số Pielou và đa dạng loài


6

theo chỉ số Simpson và Shannon-Weiner. Cao Thị Lý (2008)[9] đã nghiên cứu đa dạng
thực vật của một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên. Trung tâm đa dạng
sinh học thuộc Viện sinh học nhiệt đới (2009)[24] đã nghiên cứu đa dạng thực vật
rừng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước; trong đó chủ yếu định danh và
mô tả thành phần loài theo chi và họ.
1.4. Phƣơng pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học
Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học thay đổi tùy theo mục đích
nghiên cứu (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Nguyễn Văn Thêm, 2010 [21, 22]). Suratman
(2007) [29] đã sử dụng những ô mẫu 0,2 ha để nghiên cứu kết cấu loài, cấu trúc quần
thụ và đa dạng loài cây gỗ của rừng ưu thế cây họ Sao Dầu ở Vườn quốc gia Pahang,
Malaysia. Wang et al (2008)[30] đã sử dụng những ô mẫu với diện tích thay đổi từ
10*10 m đến 25 ha để nghiên cứu kết cấu loài, cấu trúc quần thụ và đa dạng loài cây
gỗ của rừng ôn đới thành thục ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Khi nghiên cứu kết cấu
loài, cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ của rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, nhiều tác
giả (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Nguyễn Văn Trương, 1984 [16]) đã sử dụng kích
thước ô mẫu thay đổi từ 0,1 – 1,0 ha. Hình dạng ô mẫu thường có dạng hình chữ nhật.
Ô mẫu được chọn điển hình hay hệ thống..
Nhiều tác giả (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Magurran, 2004 [28]; Nguyễn Văn
Thêm, 2010 [22]) cho rằng, khi phân tích QXTV, nhà nghiên cứu phải quy ước rõ (a)
kích thước ô mẫu và phương pháp bố trí ô mẫu; (b) những tài liệu dùng để nhận biết

Hộ (1999)[4], Trần Hợp (2002)[5], Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003)[6]. Những
cây gỗ trưởng thành (cây gỗ lớn) có D ≥ 8 cm, còn cây tái sinh có H = 10 cm đến D

cơ sở để giải quyết những nội dung tiết theo, mà không giải quyết độc lập từng vấn đề
một
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu
2.5.2.1. Những chỉ tiêu nghiên cứu
Mỗi nhóm rừng được nghiên cứu 10 chỉ tiêu: (1) thành phần loài cây; (2) mật
độ quần thụ (N, cây/ha); (3) đường kính thân cây ngang ngực (D, cm); (4) chiều cao
vút ngọn (H, m); (5) chiều cao dưới cành (HDC, m); (6) đường kính tán cây (DT, m);
(7) độ tàn che tán rừng; (8) tiết diện ngang của quần thụ (G, m2/ha); (9) trữ lượng gỗ
của quần thụ (M, m3/ha); (10) tái sinh dưới tán rừng.
Điều kiện khí hậu – thủy văn được nghiên cứu 5 chỉ tiêu: (1) nhiệt độ không khí
trung bình của các tháng trong năm (T,0C); (2) lượng mưa trung bình của các tháng
trong năm (M, mm); (3) độ ẩm không khí trung bình của các tháng trong năm (R,%);
(4) tốc độ gió trung bình của các tháng trong năm (S, m/s); (5) Chỉ số khô hạn của
Thái Văn Trừng (K).
Đối với địa hình và đất, đề tài chỉ mô tả khái quát độ cao và loại đất.
2.5.2.2. Thu thập những đặc trưng lâm học của hai nhóm rừng
(a) Phân chia đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu bao gồm hai nhóm
rừng giàu (M = 200 – 300 m3/ha) và rừng trung bình (M = 100 – 200 m3/ha). Hai


10

nhóm rừng này được xác định dựa theo bản đồ hiện trạng rừng năm 2015 của BQLR
Nam Huoai.
(b) Số lượng, kích thước và phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn: Đặc trưng lâm
học của mỗi nhóm rừng được nghiên cứu dựa trên 5 ô tiêu chuẩn điển hình. Tổng số
hai nhóm rừng là 10 ô tiêu chuẩn. Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 2.500 m2 (50*50 m).
Những ô tiêu chuẩn được bố trí theo phương pháp điển hình. Các ô tiêu chuẩn ở nhóm
rừng trung bình và nhóm rừng giàu được đặt tương ứng ở tiểu khu 599 và 567. Vị trí
các ô tiêu chuẩn được ghi lại Bảng 2.1 và Bảng 2.2.


663

3

491331

1275339

850

4

491743

1275290

940

5

492262

1275187

1079

Bảng 2.2. Vị trí ô tiêu chuẩn của nhóm rừng giàu thuộc BQLR Nam Houai.
Ô tiêu chuẩn


8

482132

1271898

843

9

491840

1271915

874

10

491233

1271692

899

(c) Xác định những đặc trưng lâm học của hai nhóm rừng: Trong mỗi ô tiêu
chuẩn, thành phần cây gỗ lớn (D ≥ 8,0 cm) được thống kê theo loài và sắp xếp theo chi
và họ. Tên loài, chi và họ được đặt tên theo Phạm Hoàng Hộ (1991, 1999)[4], Trần
Hợp (2002)[5], Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003)[6]. Đường kính thân cây được
đo bằng thước dây với độ chính xác 0,1 cm. Chiều cao thân cây được đo bằng thước đo
cao Blume - Leise với độ chính xác 0,5 m. Độ tàn che tán rừng được xác định bằng biểu

tiết diện ngang thân cây tương đối của loài và thể tích thân cây tương đối của loài. Giá
trị V = g*H*F, với F = 0,45.
IVI% = (N% + G% + V%) /3

(2.1)

Độ hỗn giao của các cây gỗ được xác định theo công thức 2.2; trong đó S = số
loài cây gỗ, N = mật độ của quần thụ.
Hg = S/N

(2.2)


12

Sự tương đồng về thành phần cây gỗ giữa hai ô tiêu chuẩn thuộc cùng một nhóm
rừng được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen (Công thức 2.3); trong đó a là số
loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn 1; b là số loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn 2; c là
số loài cây gỗ cùng có mặt ở cả 2 ô tiêu chuẩn 1 và 2; (a+ b) là tổng số loài cây gỗ bắt
gặp ở 2 ô tiêu chuẩn. Sự tương đồng về thành phần loài cây gỗ giữa hai nhóm rừng
(giàu và trung bình) cũng được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen (CS).
CS = 2*c/(a+b)

(2.3)

Sau đó tập hợp kết cấu loài cây gỗ (tổ thành loài cây gỗ) theo nhóm rừng bằng
cách gộp chung các ô tiêu chuẩn thuộc mỗi nhóm rừng. Từ đó phân tích so sánh: (a)
tổng số loài cây gỗ bắt gặp (S, loài); (b) những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế; (c)
những loài cây gỗ khác; (d) tỷ lệ tổ thành theo N%, G% và V%. Từ đó phân tích biến
động thành phần loài cây gỗ và tổ thành của các loài cây gỗ trong mỗi nhóm rừng.

lũy (N%TL) trong những cấp D và cấp H khác nhau.
Từ những đặc trưng cấu trúc quần thụ trên những ô tiêu chuẩn của hai nhóm
rừng, phân tích so sánh: (a) sự khác biệt về đường kính và chiều cao bình quân; (b)
phạm vi biến động đường kính và chiều cao; (c) hình thái phân bố N/D và phân bố
N/H; (d) tỷ lệ đóng góp số cây theo cấp D và cấp H; (e) tính ổn định của rừng. Khi
rừng đã phát triển đến giai đoạn ổn định, thì phân bố N/D có dạng giảm theo hình chữ
“J”. Trái lại, nếu phân bố N/D có dạng 1 hoặc nhiều đỉnh, thì rừng chưa phát triển đến
giai đoạn ổn định (Kimmins, 1998 [20]; Thái Văn Trừng, 1999 [14]; Magurran, 2004
[21]).
(b) So sánh N, G và M của hai nhóm rừng theo nhóm D. Trước hết thống kê N,
G và M của những quần thụ thuộc 2 nhóm rừng theo 3 nhóm D (< 20, 20 – 40 và > 40
cm) và 4 lớp H (< 10, 10 – 20, 20 - 30 và > 30 m). Sau đó phân tích so sánh N, G và M
của các nhóm D và lớp H.
2.5.3.3. Xác định đa dạng loài cây gỗ đối với hai nhóm rừng giàu và trung bình
Đa dạng loài cây gỗ bao gồm ba thành phần: (a) số loài hay chỉ số giàu có về
loài; (b) chỉ số đồng đều; (c) chỉ số đa dạng loài. Trong đề tài này, mức độ giàu có về
loài được xác định theo số loài (S) và chỉ số giàu có về loài của Margalef (d Margalef).
Chỉ số đồng đều được xác định theo chỉ số Pielou (J’). Đa dạng loài cây gỗ được xác
định theo chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’). Chỉ số ưu thế của loài được xác định
theo chỉ số Gini-Simpson (1 – λ). Chỉ số giàu có về loài của Margalef, chỉ số đồng đều
của Pielou, chỉ số đa dạng Shannon – Weiner và chỉ số ưu thế của Gini-Simpson được
xác định tương ứng theo công thức 2.6, 2.7, 2.8 và 2.9; trong đó S = số loài cây gỗ bắt
gặp trong ô tiêu chuẩn, Pi = ni/N (N = tổng số cây trong ô tiêu chuẩn và ni = số cây của
loài thứ i), Ln() = logarit cơ số Neper.
S-1
dMargalef = Ln(N)

(2.6)

J’ = H’/H’max, với H’max = Ln(S)

10, 10 – 20, 20 - 30 và > 30 m). Các chỉ số đa dạng (S, N, d, J’ và H’, 1 - λ) được tính
toán tương tự như công thức 2.8 – 2.10. Sự khác biệt về đa dạng loài cây gỗ giữa 3
nhóm D và 4 lớp H được so sánh bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA).
Sau cùng phân tích biến động đa dạng loài cây gỗ theo những nhóm D và lớp H khác
nhau của hai nhóm rừng.
2.5.3.4. Xác định tái sinh tự nhiên đối với hai nhóm rừng giàu và trung bình
Tái sinh tự nhiên của hai nhóm rừng này được tính toán bao gồm mật độ, tổ
thành, nguồn gốc, phân bố N/H và phân bố số cây theo tình trạng sống (tốt, trung bình,
xấu). Thành phần cây tái sinh được xác định theo loài, chi và họ. Mật độ cây tái sinh
được tính bình quân từ những ô dạng bản 16 m2; sau đó quy đổi ra đơn vị 1 ha. Tổ
thành cây tái sinh được xác định theo N% của loài cây gỗ. Phân bố N/H của cây tái
sinh được phân chia thành 6 cấp: H ≤ 0,5, H = 50 – 100, H = 100 – 150, H = 150 –
200, 200 - 250 và H ≥ 250 cm. Chất lượng cây tái sinh được phân chia thành 3 cấp: tốt,
trung bình và xấu. Sự tương đồng giữa thành phần cây tái sinh với thành phần cây mẹ
được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen.
2.5.4. Công cụ tính toán
Công cụ tính toán là bảng tính Excel, phần mềm thống kê Portable Statgraphics
Centurion 15.2.11.0 (PSC 15.2.11.0), SPSS 10.0 và Primer Version 6.0. Bảng tính
Excel được sử dụng để tập hợp số liệu và lập bảng phân bố N/D, phân bố N/H và kết
cấu loài cây gỗ…Phần mềm thống kê PSC 15.2.11.0 được sử dụng để tính toán những


15

thống kê mô tả, kiểm định phân bố N/D và phân bố H. Phần mềm thống kê SPSS 10.0
được sử dụng để xác định kết cấu loài cây gỗ. Phần mềm Pimer Version 6.0 được sử
dụng để tính toán những thành phần đa dạng loài cây gỗ.


16

Tây Nam. Nơi cao nhất là khu vực núi Song Mã giáp với địa phận thành phố Bảo Lộc,
nơi thấp nhất là xã Đạ Oai giáp ranh với xã Phú An huyện Tân Phú huyện tỉnh Đồng
Nai


17

Nhìn chung, địa hình tại khu vực nghiên cứu có sự biến đổi mạnh mẽ về địa
mạo nên tạo ra nhiều cảnh quan đặc sắc, có tiềm năng về thủy điện, chi phối mạnh mẽ
đến các yếu tố môi trường như khí hậu, đất đai và tài nguyên sinh vật.
Khu vực nghiên cứu có hai loại là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá mẹ
granít và đất đỏ nâu phát triển trên đá Bazan, tầng đất > 60 cm, thành phần cơ giới thịt
trung bình. Cấp đất trong khu vực thuộc cấp đất 2
3.4. Dân sinh - kinh tế
Dân số, lao động: Huyện Đạ Huoai là một huyện thuộc phía nam tỉnh Lâm
Đồng có tỷ lệ cao về người dân tộc thiểu số sinh sống, người dân lao động chủ yếu
bằng nghề trồng trọt. Toàn huyện có 8 xã và 2 thị trấn, tổng số hộ dân 9.131 hộ với
35.502 nhân khẩu, có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống. Hầu hết người dân sống trên
địa bàn huyện là dân kinh tế mới đến từ khắp mọi miền trên đất nước; trình độ dân trí
còn thấp, còn nhiều tập tục sản xuất lạc hậu; người trong độ tuổi lao động còn thiếu
công ăn việc làm, một số hộ thuộc diện nghèo đói; phương thức sản xuất chủ yếu của
người dân làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Phân bố dân cư: Do huyện Đạ Huoai là huyện vùng sâu, vùng xa kinh tế đặc
biệt khó khăn nên có đặc thù dân cư sống ở ven rừng tương đối. Gần đây nhiều thành
phần kinh tế đầu tư trồng rừng, trồng cao su trên địa bàn huyện, hầu hết các dự án nằm
sâu trong rừng.
Trình dộ dân trí, ý thức chấp hành của người dân về QLBVR& PCCCR nhìn
chung còn chưa cao; đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ còn nhiều tập
tục, tập quán canh tác lạc hậu, ý thức chấp hành của người dân về Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng, về các quy định PCCCR vẫn còn hạn chế.

+ Đất trống và đất Nông nghiệp : 516,44 ha


19

Chƣơng 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình và rừng giàu
4.1.1. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình

4.1.1.1. Kết cấu loài cây gỗ bình quân của nhóm rừng trung bình
Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai
của tỉnh Lâm Đồng được dẫn ra ở Bảng 4.1 và Hình 4.1.
Bảng 4.1. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam
Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Đơn vị tính: 1 ha.
N%

Tỷ lệ:
G%
V%

IVI%

(5)
40,5

(6)
11,6

(7)

5,4

7,1

Dầu rái

32

1,6

14,0

4,8

7,6

8,1

6,8

5

Thẩu tấu

58

1,1

8,4


46

1,0

6,8

7,0

4,6

3,9

5,2

8

Thành ngạnh

34

0,8

5,8

5,2

3,8

3,4


29,2

26,4

30,6

53

Tổng cộng

663

20,5

172,2

100

100

100

100

N

G

V



Loài

Phân tích số liệu ở Bảng 4.1 cho thấy, số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm rừng trung
bình là 53 loài thuộc 45 chi và 34 họ (Phụ lục 1). Nhóm rừng này bắt gặp 8 loài cây gỗ
ưu thế và đồng ưu thế; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 7 loài cây gỗ đồng
ưu thế là Sao đen, Dền đỏ, Dầu rái, Thẩu tấu, Cầy, Trường lá nhỏ và Thành ngạnh.


20
IVI%

35
30.6
30
25
20

18.6
15.7

15
10

7.1

6.8

6.4


26,4% (trung bình 0,59%/loài). Kết cấu loài cây gỗ trung bình của 8 loài cây gỗ ưu thế
và đồng ưu thế là 69,4% theo N, G và M, cao nhất là Kiền kiền (18,6%), thấp nhất là
Thành ngạnh (4,1%); trung bình 8,7%/loài. Kết cấu loài cây gỗ của 45 loài cây gỗ khác
là 30,6% theo N, G và M; trung bình 0,68%/loài. Nhóm rừng trung bình có độ tàn che
trung bình 0,8 (Phụ lục 2).
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình
phân bố không đồng đều theo không gian (Phụ lục 3). Thành phần loài cây gỗ trên
diện tích ô tiêu chuẩn 2.500 m2 thay đổi từ 20 loài (Ô tiêu chuẩn 3 - Phụ lục 3.3) đến


21

có 29 loài (Ô tiêu chuẩn 2 - Phụ lục 3.2). Số loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế thay đổi
từ 4 (Ô tiêu chuẩn 5 - Phụ lục 3.5) đến 9 loài (Ô tiêu chuẩn 3 và 4 - Phụ lục 3.3 và
3.4). Những loài cây gỗ ưu thế thường bắt gặp là Kiền kiền (Ô tiêu chuẩn 1 và 2 – Phụ
lục 3.1 và 3.2), Dầu rái (Ô tiêu chuẩn 3 và 4 – Phụ lục 3.3 và 3.4) và Sao đen (Ô tiêu
chuẩn 5 – Phụ lục 3.5). Mật độ cây gỗ với D > 8 cm thay đổi từ 560 cây/ha (Ô tiêu
chuẩn 1 – Phụ lục 3.1) đến 744 cây/ha (Ô tiêu chuẩn 5 – Phụ lục 3.5). Tiết diện ngang
thân cây thay đổi từ 18,6 m2/ha (Ô tiêu chuẩn 4 – Phụ lục 3.4) đến 21,9 m2/ha (Ô tiêu
chuẩn 2 – Phụ lục 3.2). Trữ lượng gỗ thay đổi từ 149,2 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 4 – Phụ
lục 3.4) đến 197,8 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 1 – Phụ lục 3.1).
Nói chung, thành phần cây gỗ của nhóm rừng trung bình khá phong phú (53
loài); trong đó độ ưu thế trung bình của mỗi loài cây gỗ là 1,9%. Trong nhóm rừng
này, những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế dao động từ 4 – 9 loài. Những loài cây
gỗ ưu thế thường gặp là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen...Những loài đồng ưu thế
thường gặp là Bình linh, Cầy, Dền đỏ, Thẩu tấu và Trường lá nhỏ…Rừng hình thành 2
tầng cây gỗ khá rõ rệt. Độ tàn che trung bình là 0,8.
4.1.1.2. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm D

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo ba nhóm D (< 20 cm, D = 20

Sao đen Kiền kiền Dầu rái

6.3

4.3

Trường Thẩu tấu
lá nhỏ

3.9
Cầy

3.5
Thành Loài khác
ngạnh

Hình 4.2. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung
bình theo nhóm D < 20 cm.
.


22

Đối với nhóm D = 20 - 40 cm (Hình 4.3; phụ lục 16.2), số loài cây gỗ bắt gặp là
26 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 8 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao
đen, Dầu rái, Thành ngạnh, Trường lá nhỏ, Cầy, Dền đỏ, Gạo và Chiêu liêu nghệ. So
với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D = 20 – 40 cm (100%), Kiền kiền đóng góp 16,2%, 8
loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 61,3% (trung bình 7,7%/loài), còn lại 17 loài cây gỗ
khác chỉ đóng góp 22,5% (trung bình 1,3%/loài). So với thành phần loài cây gỗ của
nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D = 20 – 40 cm (17


0

Kiền kiền Sao đen

Dầu rái

Thành
ngạnh

Trường
lá nhỏ

Cầy

4.9

Chiêu Loài khác
liêu nghệ

Hình 4.3. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình
theo nhóm D = 20 - 40 cm.
.

Đối với nhóm D > 40 cm (Hình 4.4; phụ lục 16.3), số loài cây gỗ bắt gặp là 13
loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 5 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen,
Dầu rái, Cầy, Trâm trắng và Dền đỏ. So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D > 40 cm
(100%), Kiền kiền đóng góp 34,3%, 5 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 51,5% (trung
bình 10,3%/loài), còn lại 7 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 14,2% (trung bình
2,0%/loài). So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số

0

Kiền kiền

Sao đen

Dầu rái

4
Dền đỏ

Loài khác

Hình 4.4. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình
theo nhóm.D > 40 cm.


23

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thay đổi rõ rệt theo
nhóm D. Trong nhóm rừng này, Dền đỏ chiếm ưu thế ở nhóm D < 20 cm, còn Kiền
kiền chiếm ưu thế ở nhóm D = 20 – 40 cm và D > 40 cm. So với tổng số loài cây gỗ
bắt gặp ở nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp giảm dần từ
nhóm D < 20 cm (86,8%) đến nhóm D = 20 – 40 cm (49,1%) và D > 40 cm (24,5%).
Những loài cây gỗ có kích thước lớn thường gặp là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen.
4.1.1.3. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo lớp H

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo ba lớp H (< 10 m, 10 – 20 m
và > 20 m) được dẫn ra ở Hình 4.5 – 4.7 và phụ biểu 17.
Đối với lớp H < 10 m (Hình 4.5; phụ biểu 17.1), số loài cây gỗ bắt gặp là 33 loài;


4.5

5

0

Kiền kiền

Dền đỏ

Sao đen

Dầu rái

4.4

Chò chai Trường lá Bình linh Thẩu tấu Loài khác

nhỏ nhóm rừng trung bình
Hình 4.5. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của

theo lớp H < 10 m.
Đối với lớp H = 10 – 20 m (Hình. 4.6; phụ biểu 17.2), số loài cây gỗ bắt gặp là 43
loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 6 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen,
Dầu rái, Dền đỏ, Trường lá nhỏ, Thành ngạnh và Cầy. So với kết cấu loài cây gỗ của lớp


24



5

0

Kiền kiền

Sao đen

Dầu rái

Dền đỏ

Trường lá
nhỏ

Thành
ngạnh

Cầy

Loài khác

Hình 4.6. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình
theo lớp H = 10 - 20 m.
.

Đối với lớp H > 20 m (Hình 4.7; phụ biểu 17.3), số loài cây gỗ bắt gặp là 19 loài;
trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 4 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Dầu
rái, Cầy và Dền đỏ. So với kết cấu loài cây gỗ của lớp H > 20 m (100%), Kiền kiền

3.1

Kiền kiền

Sao đen

Dầu rái

Cầy

Dền đỏ

Loài khác

Hình 4.7. Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình
. > 20 m.
theo lớp H


25

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thay đổi rõ rệt theo
lớp H. Trong nhóm rừng này, Kiền kiền chiếm ưu thế ở cả ba lớp H. Tỷ lệ số loài cây
gỗ bắt gặp lớn nhất ở lớp H = 10 – 20 m (81,1%), nhỏ nhất ở lớp H > 20 m (35,8%).
Những loài cây gỗ có kích thước lớn là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen.
4.1.2. Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu
4.1.2.1. Kết cấu loài cây gỗ bình quân của nhóm rừng giàu
Số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm rừng giàu là 46 loài, thuộc 40 chi và 28 họ (Bảng
4.2; Hình 4.8; Phụ lục 4). Nhóm rừng giàu thường bắt gặp 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng
ưu thế; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 4 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền

N
Cây
(3)
113
106
44
83
31
377
269
646

G
(m2)
(4)
6,8
5,9
3,9
1,6
1,1
19,2
6,9
26,1

V
(m3)
(5)
66,5
57,1
39,2

(8)
27,6
23,7
16,3
4,5
4,2
76,3
23,7
100

IVI%
(9)
23,7
20,9
12,7
7,8
4,4
69,5
30,5
100

IVI%
35

30.5

30
25

23.7

. tỉnh Lâm Đồng.
BQLR Nam Huoai,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status