Bước đầu tìm hiểu thành phần ký sinh trùng và vi sinh vật ký sinh trên cá thia đồng tiền ba chấm (dascyllus trimaculatus) nuôi trong hệ thống nuôi tuần hoàn tại trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi biển viện nghiên - Pdf 41

i

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC...................................................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................iii
DANH MỤC CÁC HÌNH..........................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................ iv

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Phần 1: TỔNG QUAN
1.1 Sự phát triển của nghề cá cảnh biển ................................................................... 3
1.1.1 Trên thế giới ................................................................................................... 3
1.1.1 Việt Nam ........................................................................................................ 3
1.2 Đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của cá thia đồng tiền ba chấm.................... 5
1.2.1 Đặc điểm sinh học .......................................................................................... 5
1.2.2 Giá trị kinh tế của cá thia đồng tiền ba chấm................................................... 7
1.3 Những nghiên cứu về bệnh trên cá thia đồng tiền ba chấm ............................... 9

Phần 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu ................................................... 13
2.2 Tìm hiểu hệ thống nuôi và các thông số môi trường nuôi:................................. 13
2.3 Nghiên cứu thành phần ký sinh trùng và vi sinh vật ký sinh............................. 13
2.3.1 ...................................................................... Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu:
2.3.13.2.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu: ...................................................... 14
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng .......................................................... 14
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu vi khuẩn ................................................................ 16
2.3.5

Phương pháp nghiên cứu nấm: .................................................................... 18

Bảng 3.1: Các thông số môi trường nuôi cá thia đồng tiền ba chấm..................... 19
Bảng 3.2: Các dấu hiệu bệnh lý và tần số xuất hiện .............................................. 21
Bảng 3.3: Thành phần loài và CĐCN, TLCN ký sinh trùng trên cá thia đồng tiền ba
chấm..................................................................................................................... 23
Bảng 3.4: Kết quả phản ứng sinh hóa và định danh vi khuẩn ................................ 30
Bảng 3.5: Tần số bắt gặp các chủng vi khuẩn ....................................................... 31
Bảng 3.6: Tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh ...................................35

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cá thia đồng tiền ba chấm (Dascyllus trimaculatus).............................. 5
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu thành phần ký sinh trùng và vi sinh vật
ký sinh.................................................................................................................. 13
Hình 3.1: Một số hình ảnh cá thia bệnh.................................................................20
Hình 3.2: Trichodina sp ........................................................................................ 25
Hình 3.3: Ceratomyxa sp ...................................................................................... 25
Hình 3.4: Myxobolus sp ........................................................................................ 25
Hình 3.5: Haliotrema sp ....................................................................................... 26
Hình 3.6: Prosohynchus pacificus........................................................................26
Hình 3.7: Hysterolectitha nahaensis .....................................................................27
Hình 3.8: Goezia sp .............................................................................................. 27
Hình 3.9: Một số hình ảnh phân lập và định danh vi khuẩn...................................29
Hình 3.10: Biểu đồ tần số bắt gặp các chủng vi khuẩn phân lập............................ 32
Hình 3.11: Kháng sinh đồ của vi khuẩn phân lập .................................................. 37


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
KST: Ký sinh trùng

vi sinh vật ký sinh trên cá thia đồng tiền ba chấm (Dascyllus trimaculatus) nuôi
trong hệ thống nuôi tuần hoàn tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nuôi
Biển - Viện Nghiên Cứu NTTS III”.
Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
1. Tìm hiểu hệ thống nuôi và các thông số môi trường nuôi cá thia đồng tiền ba
chấm tại cơ sở.


2

2. Tìm hiểu thành phần ký sinh trùng ký sinh trên cá thia đồng tiền ba chấm.
3. Tìm hiểu thành phần vi khuẩn ký sinh trên cá thia đồng tiền ba chấm.
4. Tìm hiểu thành phần vi nấm ký sinh trên cá thia đồng tiền ba chấm.
Đề tài nhằm tìm hiều thành phần ký sinh trùng và vi sinh vật kí sinh trên cá
thia đồng tiền ba chấm. Trên cơ sở đó, bước đầu góp phần xác định nguyên nhân
gây bệnh trong qúa trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá thia đồng tiền ba
chấm, làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trị bệnh.
Luận văn đã được thực hiện với sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan, thầy cô
giáo, gia đình và bè bạn. Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế, điều kiện nghiên cứu
còn nhiều khó khăn nên luận văn khó tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô và bè bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Nha Trang, ngày 25, tháng 06, năm 2009.
Sinh viên thực hiện:

Ninh Thị Thúy


3

Phần 1: TỔNG QUAN


đã thống kê được có 635 loài cá sống ở rạn san hô với 62 họ; trong đó có 4 họ
chiếm tỷ lệ lớn nhất là họ cá thia (Pomacentridae), cá bàng chài (Labridae), cá
bướm (Chaetodontidae) và cá mó (Scaridae). Riêng quần đảo Trường Sa đã có 219
loài cá san hô thuộc 44 họ, trong đó có 159 loài đặc hữu. Đặc biệt, vùng biển Nha
Trang được ghi nhận là vùng biển rất đa dạng về cá rạn san hô với 398 loài. [13]
Những loài cá quý hiếm như cá hoàng đế, cá ngựa đen, cá rồng biển
(Phyllopteryx taeniolatus)…và nhiều loài cá cảnh biển có giá trị xuất khẩu cao như:
Amphiprion sp, Dascyllus sp… đều có ở biển Việt Nam. [44]
Từ năm 1980 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá cảnh. Cho đến nay nước ta đã gặt
hái được nhiều thành quả trong trong lĩnh vực này. Ước tính hằng năm xuất khẩu cá
cảnh của Việt Nam đạt doanh thu khoảng 4 triệu USD, riêng năm 2004, đạt gần 10
triệu USD, tăng gấp đôi so với 2 năm trước đó (5 triệu USD). Trong đó cá cảnh biển
chiếm khoảng 10%. Cá cảnh mang thương hiệu Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước
Anh, Đức, Pháp, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Brazil, Đài Loan, Hồng Kông,
Nhật Bản...và đã được thị trường thế giới đánh giá rất cao về chất lượng cũng như
chủng loại. Việt Nam là quốc gia thuộc một trong ba khu vực có cá cảnh đẹp trên
thế giới, bao gồm Nam Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á. Có thể nói cá cảnh sẽ là sản
phẩm thúc đẩy nhanh kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm nhiều
năm tới. [26], [10]
Để phát triển và bảo vệ nguồn lợi này, Việt Nam đã có một số nghiên cứu
bước đầu về sinh sản nhân tạo một số loài cá cảnh biển có giá trị. Cụ thể như: Viện
Hải Dương Học Nha Trang đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá khoang cổ đỏ
(Amphiprion frenatus), sản xuất giống thành công cũng như nuôi thương phẩm ba
loài cá ngựa: cá ngựa đen (Hippocampus kuda), cá ngựa vằn (Hippocampus comes),
cá ngựa gai (H. spinosisimuss). Bên cạnh đó, hiện nay tại Trung tâm Nghiên cứu và
Phát triển Nuôi Biển-Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III, cá thia đồng tiền
ba chấm cũng đang được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm. [1]



. D. trimaculatus có thân màu đen nhung nổi bật với ba chấm trắng, một ở
10  11

trước đầu và hai chấm ở hai bên thân, gần gốc vây lưng. Những chấm trắng này nổi
bật khi cá còn nhỏ và mờ dần theo tuổi cá, khi cá trưởng thành chấm trắng trước


6

đầu gần như mất hẳn. Kích cỡ khai thác phổ biến của loài này khoảng10 – 12 cm,
kích thước lớn nhất có thể tới 16 cm. [34]
 Đặc điểm phân bố và môi trường sống
Ngoài tự nhiên, D.trimaculatus phân bố ở bờ biển nhiệt đới của Tây Ấn Độ
Dương, vùng Tây Bắc của bờ biển Tây Úc, phía bắc của rặng Great Barier,
Queensland, phía Nam của Newsouth Wales và đảo Lord Howe, các vùng biển
Đông Phi, Hồng Hải, Đông Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam chúng có mặt ở cả 3
miền nhưng tập trung chủ yếu ở vùng biển Trung Bộ và nhiều nhất ở khu vực
Khánh Hòa. [12]
Cũng giống hầu hết các loài cá thia khác D.trimaculatus thích sống ở vùng có
rạn san hô hoặc vùng biển có đá ngầm và hầu như không di cư đến nơi khác. Theo
nghiên cứu của Allen (1999), D.trimaculatus có thể sống được ở độ sâu từ 1 đến
55m, tập trung nhiều nhất ở 4 đến 10m, nhiệt độ 26-28OC, độ mặn từ 32-35o/oo, pH
từ 7.9-8.6. Ở giai đoạn giống, cá thia thường phân bố ở các vùng biển gần bờ nơi có
hải quỳ, nhím biển hay cỏ chân ngỗng. Chúng có tập tính kết đàn và giai đoạn giống
chúng thường sống cộng sinh với hải quỳ. Chúng bơi lội xung quanh hải quỳ, quấn
mình vào những xúc tu và dần dần bơi vào nằm lên bên trên thân của hải quỳ. Cá
được hải quỳ che chở, chúng thường tha thức ăn vào đây như một nơi dự trữ thức ăn
và hải quỳ cũng sử dụng nguồn thức ăn này. (trích theo Nguyễn Hữu Phụng, 2005)
Đặc điểm dinh dưỡng
Cá thia có miệng nhỏ, răng dạng nón, dạ dày dạng túi tròn, ruột ngắn. Cấu

Trong đó các loài thuộc họ cá thia (Pomacentridae) chiếm tỉ lệ lớn nhất (xuất khẩu
chiếm 47% và nhập khẩu chiếm 43%). Đặc biệt có tới 6 loài của họ cá này nằm
trong ‘top ten’ cá cảnh đầu bảng của thế giới. Bao gồm: 2 loài cá khoang cổ
(anemonefish) và 4 loài cá thia (damselfish). [24]
Ở nước ta, cá thia cũng là họ đa dạng nhất ( 66 loài) và có tỷ trọng lớn
chiếm 29% về số lượng, 13% về giá trị trong xuất khẩu cá cảnh của Việt Nam; giá
bán trung bình mỗi con cá khoảng 0.7-2.5 USD. Theo Võ Sĩ Tuấn trong chương
trình giám sát sinh thái khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, Khánh Hòa, giai đoạn
2002 – 2005: Cá kích thước nhỏ (1 – 10cm), đặc biệt họ cá thia Pomacentridae và
các loài Chromis weberi, C.ternatensis,

Dascyllus reticulatus, D.trimaculatus,


8

chiếm ưu thế trong tổng độ phong phú của cá. Các loài này có mật độ tương đối
cao tại tất cả các điểm giám sat. [26], [17]
Theo nghiên cứu của Yunaldi và cs (2005) về cá cảnh biển xuất khẩu ở
Pejarakan, Sumber Kima và Penyabangan, bắc Bali : trong tổng số 164 loài thì cá
thia là loại cá cảnh biển ưu thế nhất. Đây là nhóm cá có vùng phân bố rộng, đa dạng
về thành phần loài và hầu hết các loài trong nhóm này đều không kén chọn thức ăn,
sức đề kháng cao, khả năng chống chịu tốt với các biến động thủy lý, thủy hóa của
môi trường, có tập tính sống bầy đàn và dễ hòa hợp với các loài cá và sinh vật khác
trong bể nuôi. Do đó không ít loài trong nhóm này được xếp vào top đầu bảng như:
Chromis viridis, D.aruanus, D. trimaculatus, D. albisella. [42]
Trong đó, D. trimaculatus đứng thứ 6 trong top ten cá cảnh xuất khẩu toàn thế
giới, là 1 trong 15 loài đứng đầu ở Pejarakan (với tổng số 123 loài ), 1 trong 13 loài
đầu bảng ở Penyabangan và 1 trong 5 loài cá cảnh có sản lượng cao nhất ở
Sumberkima. Hơn nữa, D.trimaculatus còn đứng thứ 2 trong topten của Sri Lanka,

qua và được Cục Thú y (Bộ NN-PTNT) trao giấy chứng nhận vùng an toàn dịch
bệnh đối với virus này được xuất khẩu 2 loài cá trên. Điều này đã mở ra khá nhiều
hy vọng cho việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu cá cảnh. Tuy nhiên, đó mới chỉ là
một chặng trong hành trình mở rộng thị trường xuất khẩu cá cảnh. Vì cho đến nay,
tại thị trường tiêu thụ cá cảnh lớn nhất là châu Âu, Việt Nam vẫn chưa được phép
xuất khẩu 2 loại cá này, vì ở các thị trường này các quy định còn chặt chẽ hơn
nhiều. Và ngay cả thị trường Mỹ, cũng không phải đã hết “rào cản”. Sau khi cho
phép nhập khẩu 2 loài cá trên, phía Mỹ cho biết 2 năm nữa (2011), nếu không có
giấy chứng nhận an toàn đối với hội chứng lở loét trên cá (EUS) thì việc xuất khẩu
cũng sẽ bị tắc như tình trạng cá chép Nhật và cá vàng mấy năm qua. Mà hội chứng
này lại liên quan đến nhiều loại cá khác nhau chứ không phải chỉ 2 loại cá trên. Vì
vậy, việc vượt qua rào cản kỹ thuật này đến rào cản kỹ thuật khác như là những
cuộc “trường chinh” trong quá trình chinh phục và mở rộng thị trường cá cảnh xuất
khẩu. [12]
Hiện chưa có thông báo nào về tình trạng tương tự trên cá cảnh biển của Việt
Nam. Tuy nhiên, một khi nghề nuôi và kinh doanh cá biển thực sự phát triển mà
không có những kiến thức cần thiết về quản lý và chăm sóc sức khỏe cá thì những
rủi ro trên là không thể tránh khỏi. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững


10

của ngành giàu tiềm năng này, những nghiên cứu về bệnh và biện pháp phòng trị
bệnh cho cá cảnh biển là vô cùng cần thiết.
Dù vậy, đến nay những nghiên cứu về cá cảnh nói chung và D.trimaculatus
nói riêng còn rất hiếm. Một số bệnh trên loài này đã được báo cáo như:
 Bệnh do dinh dưỡng: bệnh gan nhiễm mỡ (Lipoid liver disease) do cá cảnh
chủ yếu được nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Khi hàm lượng lipid trong thức ăn
quá cao sẽ dẫn tới tình trạng tích mỡ thừa ở gan làm ảnh hưởng tới chức năng của
gan và sức khỏe của cá. Weisman và Miller (2006) đã thu những mẫu cá thia xanh

Zanoni cà cs (2008) đã phân lập được vi khuẩn Gram dương Mycobacterium
từ gan, thận, lách của những mẫu cá bị lở loét,đốm trắng thận thuộc nhiều loài cá
cảnh khác nhau (gồm cả cá tự nhiên và cá cảm nhiễm ngược). Trong đó có
D.trimaculatus và một số loài khác thuộc Damselfish. [43]
 Bệnh ký sinh trùng:
- Cá thia cũng thường gặp một số bệnh ký sinh trùng gây ra bởi các tác nhân
như: sporozoas, Cryptocaryon, Oodinium, monogena, digenae, nematoida,
crustaceans. [22]
 Bệnh do nấm:
Bệnh nấm ở cá cảnh biển ít khi xảy ra và chúng thướng đóng vai trò là tác
nhân thứ cấp nhiều hơn. Một số tác nhân nấm bệnh đã được tìm thấy trên cá cảnh
biển như: nấm hạt Ichthyophonus chủ yếu nội ký sinh gây ra những u hạt trắng
trong các nội quan, đôi khi bệnh còn thể hiện cả trên da của cá. Bên cạnh đó,
exophialiosis cũng đã được biết đến là một bệnh do nấm ký sinh trên cá ngựa. Bệnh
không gây lở loét hay thương tổn trên da mà những thương tổn bên trong nội quan
là chủ yếu, đặc biệt là ở gan. Bệnh dẫn tới tình trạng hôn mê và mất phương hướng
ở cá nhưng vẫn chưa có cách chữa trị. Hiện vẫn chưa có thông báo nào về bệnh do
nấm trên cá thia đồng tiền ba chấm.[44]
Nhìn chung , những nghiên cứu về bệnh trên cá thia đồng tiền ba chấm còn
rất hiếm. Đây cũng là một khó khăn lớn khi chúng ta muốn phát huy nguồn lợi này.
Ở nước ta cá thia đồng tiền ba chấm là đối tượng cá cảnh biển mới bước đầu
được quan tâm. Hiện nay tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nuôi Biển – Viện
nghiên cứu NTTS III đang nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá này nhằm đáp ứng


12

nhu cầu thị trường và giảm áp lực khai thác ngoài tự nhiên. Tuy nhiên vấn đề đặt ra
hiện nay là trong quá trình sản xuất các đàn cá bố mẹ thường xuất hiện một số dấu
hiệu bệnh gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cá và gây chết cá như:

mắt, mật, dạ dày, ruột)

Quan sát, đếm
số lượng,vẽ
hình, chụp
hình, làm tiêu
bản, phân loại

Tính CĐCN,
TLCN

NC vi khuẩn (gan,
thận, lách, mắt, não )

Nuôi
cấy,
phân
lập

Chọn chủng định danh
và làm kháng sinh đồ

NC nấm (mang, vây, vết
loét, gan, thận, lách)

Nuôi
cấy,
phân
lập


các hộp lồng chứa nước biển; các cơ quan nội quan như: ruột, dạ dày, mật để trong
các hộp lồng chứa nước muối sinh lý 0.85%.
Mang, ruột và dạ dày khi quan sát bằng kính giải phẫu hoặc mắt thường có thể
tìm thấy ký sinh trùng có kích thước lớn như: giun tròn, Digena, Monogena. Đồng
thời cạo nhớt soi dưới kính hiển vi để phát hiện trùng có kích thước nhỏ hơn.
Dịch mật, dịch mắt: dàn mỏng trên lam để quan sát dưới kính hiển vi.
Chú ý khi soi dưới kính hiển vi luôn soi lần lượt từ các độ phóng đại thấp đến
cao tránh bỏ sót trùng.
 Phương pháp cố định, làm tiêu bản:


15

Đối với Protozoa: sau khi phết lam, cố định bằng formol 10%, để khô tự
nhiên rồi tiến hành nhuộm Nitrat bạc với trichodina, chilodoneella và nhuộm
Hematoxiline với các Protozoa khác ( trừ Cnidosporidia, Sporzoa).
Đối với Monogena chọn những mẫu sạch không bị vỡ, cố định bắng cồn 700
và làm tiêu bản không cần nhuộm.
Digena: tách trùng lên lam sạch, nhỏ acid glacial acetic lên để hút nước sau đó
nhỏ thuốc nhuộm carmine để khoảng 5 phút. Quan sát nếu thấy trùng bắt màu đạt
thì rửa nhẹ bằng nước cất rồi nhỏ acid glacial acetic một lần nữa để làm khô mẫu
rồi gắn bom canada giữ tiêu bản.
Giun tròn, giáp xác có vỏ kitin dày không bắt màu thuốc nhuộm nên chỉ cố
định trong cồn 700 khi cần lấy ra làm trong và quan sát không cần nhuộm hay làm
tiêu bản.
 Phương pháp đo, đếm ký sinh trùng:
Có thể đếm trùng bằng mắt thường, kính giải phẫu hoặc kính hiển vi tùy theo
kích thước trùng.
Đo những trùng có kích thước lớn bằng thước hoặc đo bằng kính giải phẫu
hoặc kính hiển vi có gắn thước chia vạch với những trùng có kích thước nhỏ hơn.



16

 Phương pháp phân loại ký sinh trùng:
Phân loại động vật đơn bào ký sinh dựa vào tài liệu của Lom và Dykova
(1992). [33]
Phân loại động vật đa bào ký sinh dựa theo chỉ dẫn của các tác giả trong và
ngoài nước như: Wiliams và Jones (1994); Bùi Quang Tề (1997). [41], [15].
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu vi khuẩn
Dựa theo phương pháp nghiên cứu bệnh vi khuẩn ở cá và động vật thủy sản của
M Eaddin (1980), Frerichs (1993), Holt và cs (1993), Đỗ Thị Hòa (2005). [31],
[27], 32, [4].
Vi khuẩn được phân lập từ gan, thận, lách (một số mẫu còn phân lập từ mắt và
não) của cá và cấy trên các môi trường phân lập, nuôi cấy vi khuẩn ở 350C trong
thời gian 18- 24h. Chọn chủng vi khuẩn dựa vào vi khuẩn ưu thế trên đĩa thạch.
(Các mô đích được sát trùng bằng cồn 700 trước khi lấy và được rửa lại 2-3 lần bằng
nước muối sinh lý vô trùng rồi dùng đũa thủy tinh giã nhuyễn tạo thành huyền dịch
chuẩn bị cho nuôi cấy, phân lập).
 Phương pháp nuôi cấy, phân lập
 Môi trường phân lập.
Môi trường tổng hợp: Trypticase Soya Agar (TSA) + NaCl 2%
Môi trường chọn lọc: Thiosulphate Citrate Bilesalt Sucrose Agar (TCBS)
Môi trường tăng sinh: Trypticase Soya Broth (TSB)
Môi trường được hấp tiệt trùng ở 121oC trong 15 phút ( trừ TCBS ) .
 Nuôi cấy tăng sinh:
Lấy 1 ít dịch nhuyên đã chuẩn bị cấy vào môi trường tăng sinh TSB + NaCl 2%,
đặt vào tủ ấm sau 18-24h thu được dịch khuẩn đã tăng sinh. Đối với mắt và thận lây
mẫu cấy trực tiếp lên môi trường tăng sinh.
 Nuôi cấy phân lập:

cần nghiên cứu phải được nuôi cấy trên TSA trước đó 18-24h rồi lấy 1 số khuẩn lạc
của vi khuẩn này phân tán trong nước muối 2% vô trùng để đạt mật độ tương đương
108 tb/ml. Lấy 0.1ml dịch khuẩn cấy láng đều lên đĩa thạch TSA, để khô mặt thạch
(khoảng 5-10 phút) rồi đặt lên mặt thạch các đĩa kháng sinh (4-5 đĩa/hộp lồng) sao
cho các đĩa kháng sinh cách đều nhau và cách thành hộp lồng 1.5-2 cm.


18

Lật ngược hộp lồng, đặt trong tủ ấm 350C, sau 24h đo đường kính vòng vô
khuẩn từng loại kháng sinh và so sánh với độ nhạy chuẩn để xác định độ nhạy của
kháng sinh.
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu nấm:
Dựa theo tài liệu của Alexopoulos (1962), Bùi Quang Tề (1995, 1997), Đỗ
Thị Hoà và cộng tác viên (2003).
 Phương pháp soi tươi: lấy một ít mô đích: gan, thận, lách, mang, vây đặt lên lam
sạch, dùng lamen ép dàn mỏng mô và quan sát dưới kính hiển vi ở các độ phóng đại
khác nhau.
 Môi trường nuôi cấy: Sabouraud Aga (SA) + NaCl 2% hấp tiệt trùng có bổ sung
Streptomycine, Penicinine để ức chế sự phát triển của các vi khuẩn Gram âm và
Gram dương.
 Phương pháp nuôi cấy, phân lập:
Dùng que cấy hoặc panh vô trùng lấy một ít mô đích (gan, thận, lách, mang,
vây) cấy lên đĩa môi trường SA, nuôi cấy trong tủ ấm 350C từ 3-5 ngày. Sau khi
nấm phát triển, tiến hành cấy thuần sang hộp lồng khác (dùng que cấy hoặc phương
pháp đục lỗ), soi tươi hoặc nhuộm MG để quan sát các đặc điểm khuẩn ty, bào tử và
phân loại nấm.
2.4 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu được xử lý và vẽ đồ thị bằng phần mềm M. Excel.


Chiều

pH

Độ mặn (0/00)

7.9÷8.2

32.86±0.27

26.66±0.19

Qua bảng trên ta thấy, các thông số môi trường ít biến động trong ngày và
tương đối ổn định. Nhiệt độ buổi sáng có cao hơn buổi chiều nhưng không đáng kể,
dao dộng nhiệt trung bình giữa các ngày vào buổi sáng là 0.170C, buổi chiều là


20

0.190C. Chênh lệch pH giữa các ngày là 0.3, chênh lệch độ mặn là 1.40/00. Nhiệt độ,
pH, độ mặn cao nhất và thấp nhất giữa các ngày lần lượt là 26.050C và 27.10C; 7.9
và 8.2; 32 0/00 và 33.40/00. Điều đó cho thấy các thông số môi trường tương đối ổn
định không có biến động đặc biệt trong ngày và giữa các ngày.
Mặt khác, theo Allen (1999), ngoài tự nhiên điều kiện sống thích hợp của
D.trimaculatus là nhiệt độ: 26-280C, độ mặn: 32-35o/oo, pH: 7.9-8.6. Như vậy có thể
thấy các thông số môi trường nuôi tại cơ sở là thích hợp cho loài cá này.[13]
Nhìn chung do nuôi trong nhà nên các thông số môi trường ít chịu tác động
của các yếu tố bên ngoài nên tương đối ổn định và thuận lợi cho cá.
3.2 Kết quả thu mẫu
Trong thời gian nghiên, 15 mẫu cá bệnh đã được thu với những dấu hiệu bất


12/15

80

Có những đám long vẩy, xuất huyết

3/15

20

Xuất huyết gốc vây và hậu môn

1/15

6

Mang nhợt nhạt, có nhiều nhầy trắng

3/15

20

Tích dịch xoang cơ thể

3/15

20

Gan sưng, nhợt nhạt, có nhiều chấm đen li ti

gan sưng, nhợt nhạt và có nhiều chấm đen li ti. Tất cả các dấu hiệu này xuất hiện
đồng thời với nhau . Ngoài ra còn có thể kèm theo một số dấu hiệu khác có tần số
thấp hơn như: xuất huyết gốc vây và hậu môn 6%, mật sưng 13% , tích dịch xoang
cơ thể 20%.
Theo Bob (1991), khi cá mới bắt ở ngoài tự nhiên về, do điều kiện môi
trường thay đổi đột ngột cá hay bị lồi mắt (một hoặc cả hai mắt). Sau vài ngày nuôi
nhốt, cá quen với môi trường mới thì mắt cá bình thường trở lại. [21]
Tuy nhiên, ở cá nuôi tại cơ sở dấu hiệu mắt lồi thường diễn biến phức tạp
hơn với các tổn thương như mắt đục, nổ, loét. Theo Roberts (1989), có rất nhiều tổn
thương ở mắt cá, trong đó dấu hiệu sưng phồng ổ mắt, giác mạc bị đục là rất phổ
biến và nguyên nhân của chúng cũng rất đa dạng. Tuy nhiên những thương tổn ở
phần mô phía trước mắt thường kết hợp với sự xâm nhập của vi khuẩn hoặc ký sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status