ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------
NGUYỄN THỊ HÀ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KHOA HỌC PHONG THỦY TRONG BỐ TRÍ
NỘI NGOẠI THẤT VÀ CẢNH QUAN NHÀ Ở NÔNG THÔN TẠI XÃ
PHÚC LỘC, THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lí đất đai
Khoa
: Quản lý tàinguyên
Khóahọc
: 2012 -2016
Thái Nguyên – 2016
: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Thái Nguyên – 2016
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tâ ̣p tố t nghiê ̣p là giai đoa ̣n cầ n thiế t của mỗi sinh viên trong quá triǹ h
đào ta ̣o ta ̣i các trường Đa ̣i ho ̣c .Đây là thời gian giúp mỗi sinh v iên quen với công
tác nghiên cứu khoa học , củng cố những kiến thức lý thuyết và vận dụng những
kiế n thức đó vào thực tế . Qua đó giúp cho sinh viên tích lũy kinh nghiê ̣m để phu ̣c
vụ cho quá trình công tác sau này.
Để đươ ̣c muc̣ tiêu trên, đươ ̣c sự nhấ t trí của khoa Quản lý tài nguyên
, trường Đa ̣i
học Nông Lâm Thái Nguyên
, em đã tiế n hành nghiên cứu đề ta: ̀ i“Nghiên cứu ứng dụng
khoa học phong thủy trong bố trí nội ngoại thất và cảnh quan nhà ở nông thôn tại xã
Phúc Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái”.
Sau mô ̣t thời gian nghiên cứu và thực tâ ̣p tố t nghiê ̣p ta ̣i xã Phúc Lộc
, thành
phố Yên Bái, đã hoàn thành. Với lòng biế t ơn sâu sắ c em xin chân thành cảm ơn :
Ban giám hiê ̣u trường Đa ̣i ho ̣c Nông L âm Thái Nguyên , Ban Chủ nhiê ̣m
khoa Quản lý Tài Nguyên trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể
các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong thời gian học
tâ ̣p và rèn luyê ̣n ta ̣i trường.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS .TS.Nguyễn Thế Đă ̣ng .
Hình 4.4: Bàn thờ đặt ở lầu trên cùng thể hiện sự trang trọng và tôn nghiêm ..........33
Hình 4.5: Không gian bếp đảm bảo sự hài hòa .........................................................34
Hình 4.6: Phòng ngủ hiện đại ....................................................................................36
Hình 4.7: Trước cửa nhà bố trí hoa cảnh ..................................................................37
Hình 4.8: Bố trí hàng cau ở cổng nhà .......................................................................38
Hình 4.9: Hoa cảnh - bonsai bố trí kề cận hàng hiên, hành lang, gần cửa sổ ...........38
Hình 4.10: Nhà ông Nguyễn Quốc Nghiêm ..............................................................39
Hình 4.11: Phòng khách được bố trí hướng Đông Bắc theo cung mệnh của ông Nghiêm ... 40
Hình 4.12: Bếp được đặt theo hướng Tây Bắc (Phước Đức) ....................................40
Hình 4.13: Ban thờ luôn sạch sẽ và thường xuyên thắp nhang. ................................40
Hình 4.14. Cây xanh được bố trí 2 bên sân nhà ........................................................41
Hình 4.15: Tinh bàn nhà ông Nguyễn Quốc Nghiêm ...............................................41
Hình 4.16: Cung Khôn, cung Đoài phối hợp cát hung..............................................42
Hình 4.17. Nhà ông Trần Văn Nam ..........................................................................43
Hình 4.18: Phòng khách nhà ông Nam .....................................................................43
Hình 4.19: Ban thờ được bố trí ở tầng trên ...............................................................44
Hình 4.20: Bếp được bố trí gọn gàng, tọa hung, hướng cát. .....................................44
Hình 4.21: Phòng ngủ bố theo hướng hợp với cung mệnh của chủ nhà. ..................45
Hình 4.22: Cảnh quan xung quanh ngôi nhà. ............................................................45
Hình 4.23: Tinh bàn nhà ông Trần Văn Nam ...........................................................46
ii
Hình 4.24: Nhà ông Vũ Kim Nhã .............................................................................47
Hình 4.25: Không gian sinh hoạt chính của ngôi nhà ...............................................48
Hình 4.26: Bếp bố trí theo hướng Đông....................................................................48
Hình 4.27: Cây cỏ xanh tươi là khí vượng, tạo cho con người tâm trạng sảng khoái,
yêu đời. ....................................................................................................49
Hình 4.28: Tinh bàn nhà ông Vũ Kim Nhã ...............................................................49
Phần 1. MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................2
1.2.1. Mục tiêu tổng quát ....................................................................................2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể .........................................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................................2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................................3
2.1.1. Khái niệm phong thủy ..............................................................................3
2.1.2. Nguồn gốc ra đời của phong thủy ............................................................3
2.1.3. Cơ sở khoa học của phong thủy ...............................................................4
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...................................................................................10
2.2.1. Thuật phong thủy trên thế giới ...............................................................10
2.2.2. Thuật phong thủy ở Trung Quốc ............................................................12
2.2.3. Thuật phong thủy tại Việt Nam ..............................................................13
2.3. Ứng dụng phong thủy trong bài trí nhà ở, cảnh quan nông thôn .......................14
2.3.1. Ứng dụng phong thủy trong bài trí nhà ở ...............................................14
2.3.2 Ứng dụng phong thủy trong bố trí cảnh quan .........................................16
2.4. Các nguyên tắc của phong thủy hiện đại ...........................................................16
2.4.1. Nguyên tắc một hệ thống chỉnh thể ........................................................16
2.4.2. Nguyên tắc nhân - địa phù hợp...............................................................17
2.4.3. Nguyên tắc dựa vào sơn thủy .................................................................17
2.4.4. Nguyên tắc quan sát hình thế .................................................................18
2.4.5. Nguyên tắc thẩm định địa chất ...............................................................18
2.4.6. Nguyên tắc thẩm định nguồn nước ........................................................19
2.4.7. Nguyên tắc tọa Bắc hướng Nam ............................................................19
2.4.8. Nguyên tắc hài hòa trung tâm.................................................................19
2.4.9. Nguyên tắc cải tạo ..................................................................................20
2.4.10. Nguyên tắc tiên tích đức hậu tầm long .................................................20
4.4.3. Giải pháp bố trí nội ngoại thất hợp lý ....................................................53
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................55
5.1. Kết luận ..........................................................................................................55
5.2. Kiến nghị ........................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................58
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ mật thiết
gắn bó với nhau. Từ xưa đến nay, con người đã biết lấy khí thiêng sông núi làm
nguồn sống của tâm tư. Khí có tốt, cảnh vật có hài hòa thì cuộc sống của con người
nơi đó mới được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy đã có rất nhiều người nghiên cứu, tìm
hiểu về thế đất, mạch nước, hướng gió ảnh hưởng như thế nào đến đời sống, tâm tư,
tình cảm của con người. Một ngành nghiên cứu mới đã ra đời đó là Phong thủy học.
Trên thực tếPhong thủy học chính là môn khoa học tự nhiên tổng hợp nhiều
ngành như địa lý, địa chất, khí tượng học, cảnh quan học, kiến trúc học, sinh thái
học và nhân thể học. Tôn chỉ của nó là khảo sát, tìm hiểu kỹ càng về môi trường tự
nhiên , thuận theo tự nhiên, sử dụng và cải tạo tự nhiên hợp lý, tạo ra môi trường
sinh sống tốt, được thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Địa thế và môi trường xung quanh
nhà ở có ý nghĩa quyết định đến sinh hoạt đời sống của một gia đình. Địa thế và môi
trường khác nhau mang lại những ảnh hưởng khác nhau. Đó là mối quan hệ giữa tự
nhiên và con người.
Phong thủy cũng chính là nghệ thuật vận dụng bố cục, sắp đặt, trang trí nhà
cửa, bố trí nội ngoại thất theo những nguyên tắc cụ thể khai thông và hướng dẫn
sinh khí làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, công việc làm ăn phát đạt. Con người tin
rằ ngphong thủy ảnh hưởng trực tiế p đế n đời số ng ho ̣a phúc con ngươ
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: giúp sinh viên củng cố được những
kiến thức đã học trong nhà trường cà bước đầu tiếp cận với phương pháp nghiên cứu
khoa học.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: hiểu được bản chất của khoa học phong thủy và
ứng dụng khoa học phong thủy trong thực tiễn.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Khái niệm phong thủy
Có rất nhiều quan điểm về phong thủy trên thế giới. Nhưng chúng ta có thể
hiểu: Về mặt từ nguyên, phong có nghĩa là "gió", là hiện tượng không khí chuyển
động và thủy có nghĩa là "nước", là dòng nước, tượng trưng cho địa thế. Phong thủy
tức là Nước và Gió, là sự ảnh hưởng của vũ trụ, địa lý, môi trường, cảnh quan đến
đời sống họa phúc của con người. Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự
ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con
người và sự vật. [2]
Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về
địa hình địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió,
dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Phong
thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của nhân sự. Cát ắt là
phong thủy hợp, hung ắt là phong thủy không hợp. Sách Táng thư viết: "Mai táng phải
chọn nơi có sinh khí. Kinh viết: Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì
dừng. Cổ nhân làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng". Do vậy mà
có tên là "phong thủy".[2]
Phong thủy có vai trò rất to lớn, tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ, có tác dụng cải biến
chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh. Vì vậy người ta nói :Nhất Vận,
trúc đẹp về thẩm mỹ, lợi về sinh hoạt. Phong thủy dù còn vẻ huyền bí nhưng rất
thực tế và gần gũi với đời sống con người.
2.1.3. Cơ sở khoa học của phong thủy
2.1.3.1. Khí
Trong Phong thủy, khí là một khái niệm phổ biến và quan trọng. Khí có sinh
khí, tử khí, dương khí, thổ khí, địa khí, thừa khí, tụ khí, nạp khí, khí mạch, khí
mẫu…Khí là nguồn gốc của vạn vật, khí biến hóa vô cùng, khí quyết định họa phúc
của con người. [2]
Khí là một dạng tồn tại của vật chất, được hình thành bởi sự tương tác của
các vật thể và chịu sự chi phối bởi sự tồn tại của các vật thể, đồng thời tác động lên
vật thể ấy. Sự vận động của khí được định hình tùy theo vị trí các vật thể tương tác.
5
Đặc điểm quan trọng nhất của khí là có tính linh hoạt trong vận động, chịu
ảnh hưởng của cấu trúc môi trường. Khí cũng có thể phân làm nhiều loại theo
thuyết Âm dương ngũ hành, trong đó sự phân loại có tính khái quát nhất là Dương
khí và Âm khí. Khí thường gặp nhất trong phong thủy là Dương khí. Dương khí vận
động trên mặt đất, đặc biệt là vật thể sống.
2.1.3.2. Âm dương
Âm và dương theo khái niệm cổ xưa không phải là vật chất cụ thể, không
gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng
như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn
thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại. [2]
Người xưa đặt ra “thuyết âm dương” để biểu thị sự biến hóa không ngừng
và quy luật biến hóa của sự vật. Theo đó, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng
phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói…đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu
hình, lạnh lẽo, đen tối…đều thuộc âm.
vô tận nên không thể xác định rõ ràng trạng thái của nó ra sao.
Bát quái sinh ra từ âm dương theo nguyên lý của dịch học là: Thái Cực sinh
Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái. Biến hóa là biểu
hiện bên ngoài của Thái Cực mà đạo Dịch căn cứ sự biến hóa của vũ trụ và vạn vật.
Do đó Kinh Dịch mô tả diễn trình chuyển hóa (Dịch) một cách khái quát như sau:
“Dịch hữu Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh
7
Bát Quái, Bát Quái sinh Ngũ Hành”: Đạo Dịch có nguồn gốc là Thái Cực, Thái Cực
sinh ra 2 Nghi (Âm và Dương), hai Nghi sinh ra 4 Tượng (Huyền Vũ, Chu Tước,
Thanh Long, Bạch Hổ), bốn Tượng sinh ra 8 Quẻ (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly,
Khôn Đoài). [2]
Bát quái đại diện cho các hiện tượng tự nhiên và được biểu thị bởi 8 quẻ và
được chia làm 8 hướng đều nhau:
Càn (Trời) phương Tây Bắc,
Khôn (Đất) phương Tây Nam,
Chấn (Sấm) phương Đông,
Tốn (Gió) phương Đông Nam,
Khảm (Nước) phương Bắc,
Ly (Lửa) phương Nam,
Cấn (Núi) phương Đông Bắc,
Đoài (Ao, Hồ) phương Tây.
Hình 2.2. Bát quái đồ
Hậu thiên Bát Quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau. Đem áp
Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.
phương diện phong thủy. [14]
Tiêu biểu có nhà y học bậc thầy cổ Hy Lạp và y học phương Tây người đảo
Cô Sơ là Hippôcơrat (khoảng 460 - 377 Trước Công Nguyên) đã thu thập một trước
tác của một thầy thuốc vô danh viết “Bàn về phong thủy và hoàn cảnh”. Tác giả ở
đây đưa hoàn cảnh lên thành một thể hệ quan hệ lẫn nhau để chế ước sự tồn tại của
xã hội, trong đó có quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Tác giả cho rằng các loại
bệnh tật của cư dân thành thị thường xảy ra theo vị trí ăn ở của cư dân, có liên quan
tới sự thịnh hành của gió Đông, Nam, Tây, Bắc. Các thành thị chịu sự ảnh hưởng
của gió Đông thì cư dân ít bệnh tật còn các thành thị chịu gió Tây thì sức khỏe của
cư dân là kém nhất. Tác giả còn phân tích cả thủy, cho rằng chất nước quyết định sự
khỏe mạnh. Tác giả còn cho hoàn cảnh có ảnh hưởng tới phương thức sinh hoạt của
con người. Dân sống nơi khí tù, ở đồng bằng thấp, khí hậu ít thay đổi lớn, không khí
ẩm thấp, người dân ở đó không thích tiêu phí thể lực. Cư dân sống trên cao nguyên
lộng gió thì thân thể cao lớn. Sống ở nơi nghèo nàn, khí hậu bất thường thì cư dân
thân thể gầy yếu, tính cách ngoan cố.
Nhà học giả Pôlypia (208 - 126 Trước Công Nguyên) lại rất coi trọng địa chí học,
đưa thủy văn và núi làm thành nhân tố chủ đạo tạo nên địa khu, căn cứ vào độ màu mỡ,
bạc màu của đất đai mà đánh giá tính cánh của cư dân nơi đó hòa bình, bạo lực…
Bước vào trung thế kỷ, địa lý học cổ Hy Lạp bị rời rạc, thậm chí còn đứt giữa
chừng. Khi lịch sử phát triển cho tới cận đại, địa lý học cổ Hy Lạp đã cung cấp tiền
đề khoa học cho thời Phục Hưng của phương Tây.
Phong thủy cổ Ai Cập: người Ai Cập cổ đại khi xây dựng Kim tự tháp cũng có
bài bản, đặc biệt về thuật tướng đất. Mỗi tòa Kim tự tháp đều theo hướng chính Nam,
11
chính Bắc, chạy đúng tuyến với đường từ lực của trái đất. Bên trong Kim tự tháp là đá
hoa cương xây nên có tính năng tích điện như một ắc quy, có thể hấp thu các loại sóng
vũ trụ để tồn trữ lại. Mặt ngoài được làm bằng đá tảng và vữa đá xây nên, đá xây đá có
lợp nhà ở, cũng không lấy những gì ở phòng có người chết lợp lên nhà. Khi chọn
đất làm nhà, lấy thóc đổ thành một đống, ngày hôm sau đếm lại, số chẵn là tốt, số lẻ
là không tốt.
2.2.2. Thuật phong thủy ở Trung Quốc
Thuật phong thủy ở Trung quốc bắt đầu rất sớm từ thời Tiên Tần (tức trước khi
hoàng đế Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tức là chỉ thời Xuân Thu Chiến
Quốc: từ năm 221 Trước Công Nguyên trở về trước) kéo dài cho tới ngày nay.
Đối với nơi ở, người Trung Quốc xưa đã yêu cầu: về địa thế phải chọn bờ
dốc bậc thang, địa hình phải chọn ở ven sông, chất đất phải khô ráo, nền đất phải
rắn chắc, nguồn nước dồi dào, chất nước phải trong sạch, giao thông phải thuận
tiện, bốn bề phải có cây rừng, phong cảnh u nhã.
Thời Thương, Chu các môn địa hình và thủy văn đã được phân biệt chính
xác, đất liền thì được chia thành núi, đồi, gò, đống, mô, bãi…; về lòng sông thì có
bờ, bãi bồi, đảo, mép nước, bến…; về vùng nước thì có các loại hình khe, suối, sông
nhỏ, ao, đầm, sông lớn…
Thời Tần đã có quan niệm về mạch đất, “vương khí”. Các công trình “thổ
mộc” khổng lồ được xây dựng. Có dương trạch là cung A Phòng chiếm đất gần 300
dặm, ly cung biệt quán rải khắp thung lũng núi, lấy Nam Sơn làm cửa cung, lấy
Phàn Xuyên làm ao nước, điện trước cung A Phòng có thể ngồi gần một vạn người.
Lại có âm trạch là lăng mộ Thủy Hoàng, huy động hơn 70 vạn dân phu đào rỗng cả
núi Ly Sơn, đào xuyên cả đến ba tầng đất Tức Nhưỡng.
Vua chúa, quan lại các thời sau đó cũng chọn đất, chọn hướng để xây cung
điện, lăng mộ. Như Đường Thái Tông- Lý Thế Dân có Chiêu lăng ở núi Cửu Nghi
so với mặt biển cao1888m, vô cùng hùng vĩ. Chiêu lăng dựa lưng vào núi Cửu
Nghi, trước có Hiến điện, sau có đàn tế. bốn góc lăng núi đều có cổng: Nam Chu
Tước, Bắc Huyền Vũ, Đông Thanh Long, Tây Bạch Hổ.
Thuật phong thủy thời Nam Bắc triều (từ năm 420 đến năm 589 sau Công
nguyên) và đời nhà Thanh là hưng thịnh hơn cả. Thời Nam Bắc triều chọn Kiến
địa thế tốt. Như kinh thành Thăng Long là vùng đất mới, đất đai phì nhiêu, màu mỡ,
14
địa thế rồng bay hổ chầu, mạng lưới sông ngòi bao bọc là nơi kết tụ được nhiều
nguyên khí của địa hình sông núi ở xung quanh. Đây đúng là nơi phong thủy tuyệt
đẹp để xây dựng kinh đô.
Người xưa đã dạy “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”. Vì vậy nhà ở dân
gian nước ta đa số chầu về hướng Nam, Đông Nam, Đông để đảm bảo Đông ấm, Hè
mát. Hệ thống cây xanh được bố trí xung quanh nhà. Tổ chức không gian nhà ở thân
thiện với môi trường tự nhiên.
Người dân nước ta cũng rất coi trọng ngày lành, tháng tốt. Những việc đại sự
như cưới hỏi, động thổ xây nhà…cần phải xem xét kỹ lưỡng để chọn được ngày giờ
hoàng đạo mới đảm bảo mọi việc tốt lành. Trên những quyển lịch của nước ta
thường cho in thêm giờ hoàng đạo của các ngày.
2.3. Ứng dụng phong thủy trong bài trí nhà ở, cảnh quan nông thôn
2.3.1. Ứng dụng phong thủy trong bài trí nhà ở
Một ngôi nhà mang lại may mắn, thịnh vượng cho gia chủ cần có sự hài hòa
về Phong thủy.
Yếu tố Phong thủy luôn được coi là yếu tố quan trọng trong việc thiết kế và xây
dựng nhà cửa. Cần lưu ý một số yếu tố dưới đây để có một mái ấm bình an và tài lộc.
2.3.1.1. Môi trường xung quanh
Khi chọn mua đất làm nhà cần chú ý đến điều kiện xung quanh của nó. Theo
Phong thủy truyền thống Trung Quốc, vị trí lý tưởng của ngôi nhà đó là: Tây cao,
Đông hạ, hướng Bắc trường; bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ, phía
trước là Chu Tước, còn phía sau là Huyền Vũ. Bên cạnh đó, khi chọn đất làm nhà
nên tìm hiểu xem nhà có bị ảnh hưởng bởi xung quanh không? Ví dụ như nếu xung
quanh quá nhiều nhà cao tầng sẽ gây cảm giác ngột ngạt, bức bối, nơi có quá nhiều
tiếng ồn hay tạp âm sẽ khiến ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của mọi người. [2]
của mỗi người. Đương nhiên tuỳ thuộc vào chức năng của mỗi loại phòng, cung
mệnh, độ tuổi, giới tính người ở lại có những màu phù hợp riêng. Tuy vậy, nếu chọn
màu quá nổi sẽ gây kích thích ảnh hưởng đến tâm lý. Những màu đỏ hay xanh lá
cây thẫm thuộc về tính âm theo phong thủy thì đều không tốt cho sức khỏe. [2]
2.3.1.6. Chú ý đến ban công và cửa
Cửa và ban công luôn là nơi hút tài lộc vào nhà. Vì vậy, khi thiết kế nhà nên
tìm một vị trí thích hợp cho cửa và ban công để tránh các luồng khí xung đột lẫn
16
nhau. Nên tránh cửa ra vào đối diện với ban công, cửa ra vào phía trước đối diện
với cửa sau, các cửa sổ cũng nên bố trí, xếp đặt lệch nhau, tránh tất cả các cửa và
ban công đối diện nhau dẫn đến việc hao hụt tài chính và vượng khí trong nhà. [2]
2.3.2 Ứng dụng phong thủy trong bố trí cảnh quan
Hoa và cây cảnh sẽ mang lại nhiều nhân tố tích cực cho môi trường làm việc.
Bên cạnh vẻ đẹp tự nhiên, nó còn cải thiện chất lượng không khí, hoà đồng chúng ta
với thế giới tự nhiên bên ngoài và màu sắc xanh tươi sẽ khích lệ những phát triển
kinh doanh và cá nhân.
Theo quan niệm phong thủy đối với cây xanh không chỉ yêu cầu tạo cảnh
quan mà còn phải phù hợp với ngôi nhà, phù hợp với gia chủ.
Đối với nhà có phố không nên trồng cây tán rộng, thấp hoặc những cây thân
gỗ lớn trước cửa chính. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới đường đi của sinh khí, đồng
thời khả năng tận dụng ánh sáng tự nhiên cũng bị giảm.
Hướng Đông, Đông Nam và Nam nên trồng những cây tán thấp hoặc cây
thân cao như cau để đón được gió mát.
Phía Tây bắc nhà ở tốt nhất có cây lớn, có thể che chở cho chủ nhà.
2.4. Các nguyên tắc của phong thủy hiện đại
2.4.1. Nguyên tắc một hệ thống chỉnh thể
Lý luận Phong thủy coi trọng môi trường là một hệ thống chỉnh thể, hệ thống
2.4.3. Nguyên tắc dựa vào sơn thủy
Nguyên tắc nương dựa theo sơn thuỷ là nguyên tắc tối cơ bản nhất của Phong
thuỷ, sơn mạch đại địa là khởi nguyên của năng lượng, thuỷ là mẹ của vạn vật, nếu
không có mạch nước mạch núi thì con người và vạn vật không thể tồn tại. [2]
Nương theo hình thế sơn thuỷ chia làm hai loại, loại thứ nhất là “sơn bao
huyệt” đất bao xung quanh huyệt, tức là xung quanh huyệt có ba mặt bao quanh bởi
quần thể núi non, ở giữa là khoảng không, mặt phía nam của huyệt khoáng đạt có
minh đường rộng lớn.
Thế mạch núi của nước ta kéo dài trùng điệp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,
kéo dài qua hàng trăm cây số đột nhiên hội tụ lại, 3 phương Tây, Bắc, Đông hội tụ
thành 3 đỉnh núi thế liên hoa như đài sen nở ra ôm lấy nhuỵ, ở giữa là huyệt tốt lành.
Nếu là làng xóm, thị trấn thì yên bình phát triển. Nếu là huyệt nhỏ thì thành gia
đình uy danh phú quý phát nhiều đời, nam nữ già trẻ tôn ti phép tắc phúc thọ lâu dài.