MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn hoạt động thì
không thể không có vốn. Vốn của doanh nghiệp nói chung và vốn lưu động
nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh nghiệp từ: dự trữ, sản
xuất đến lưu thông. Vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp tồn tại và hoạt động
hiệu quả.
Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn
hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vốn lưu động chưa được quản lý, sử
dụng có hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao.
Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Hưng Long em nhâậnthấy đây là
một vấn đề thực sự nổi cộm và rất cần thiết ở Công ty, nơi có tỷ trọng vốn lưu
động lớn với nhiều hoạt động sản xuất quy mô lớn, phức tạp, vấn đề nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang là một chủ đề mà Công ty rất quan tâm.
Với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Th.S Đinh Thị Thanh Nga cùng
cán bộ nhân viên phòng tài chính của Công ty, em xin chọn đề tài: "Một số
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH
Hưng Long" làm đề tài của mình.
Kết cấu luận văn gồm có 3 chương:
Chương I. Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương II. Thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ tại Công ty TNHH
Hưng Long.
Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ tại Công ty TNHH Hưng Long.
Do thời gian nghiên cứu ở Công ty TNHH Hưng Long và những hạn
chế về trình độ nhận thức về VLĐ, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu
sót. Em rất mong nhận được những đóng góp từ phía thầy, cô giáo, cùng các
nội dung nghiên cứu này có thể hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Th.S Đinh Thị Thanh Nga,
trước về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
2. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm
vận động của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản
lưu động.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận động qua
các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và
được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động, vốn lưu động
có hai đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh
và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển
hết một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm và
được hoàn lại khi doanh nghiệp bán hàng hóa, dịch vụ thu được tiền về. Nếu
trên thực tế công ty bán hàng hóa dịch vụ mà chưa thu được tiền về thì sẽ
thiếu VLĐ cho chu kỳ kinh doanh sau, do đó ảnh hưởng đến hoạt động của
công ty.
Thứ hai: Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, VLĐ thường
xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển
sang vốn dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng trở về vốn tiền tệ. Sau mỗi chu
kỳ tái sản xuất VLĐ đã hoàn thành một vòng chu chuyển. Điều này tạo nên
quá trình vận động của vốn kinh doanh.
Vốn bằng tiền
Mua vật tư
Vốn dự trữ sản
hiện được bình thường, thuận lợi.
- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa
chữa các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào
quá trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu
chuẩn là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục.
3.1.2. Vốn lưu động trong khâu sản xuất
- Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản
xuất kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ảnh giá
trị các chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua
những công đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối
cùng (thành phẩm)
- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá
thành sản phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm
của một số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật,
chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn
giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản....
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình
sản xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục,
hợp lý.
3.1.3. Vốn lưu động trong khâu lưu thông
3.2.1. Vốn bằng tiền bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và
tiền đang chuyển. Tiền là loại tài sản có tính linh hoạt cao, DN dễ dàng
chuyển đổi thành tài sản khác hoặc dùng để trả nợ. Vì vậy, trong kinh doanh
đòi hỏi DN phải có một lượng tiền mặt nhất định.
3.2.2. Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách
hàng thể hiện ở số tiền mà khách hàng nợ DN phát sinh trong quá trình bán
hàng, cung ứng dịch vụ theo hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra với một số
trường hợp mua sắm vật tư khan hiếm DN thường phải ứng trước tiền mua
hàng cho nhà cung cấp, do đó hình thành nên khoản tạm ứng.
3.2.3. Hàng tồn kho: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể bao gồm:
- Vốn sản phẩm dở dang
- Vốn công cụ, dụng cụ.
- Vốn phụ tùng thay thế
- Vốn sản phẩm đang chế biến
- Vốn thành phẩm
- Vốn vật tư dự trữ
- Vốn nhiên liệu
Đối với các DN sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an
toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ - sản
xuất - lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc
nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất
và bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản
xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế hoạch
sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho DN tự bảo vệ trước
những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản
phẩm của DN. Bên cạnh đó có thể phát huy chức năng của các thành phần
vốn và biết được kết cấu VLĐ để định hướng điều chỉnh hợp lý và có hiệu
chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong DN, vay các DN khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành trái
phiếu.
Việc phân chia VLĐ theo nguồn hình thành giúp các DN thấy được cơ
cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ góc độ
quản lý tài chính, mọi nguồn đều có chi phí sử dụng riêng của nó, do đó DN
cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của
mình.
3.5. Phân loại theo thời gian huy động vốn
Theo cách này VLĐ được chia thành VLĐ tạm thời và VLĐ thường
xuyên
3.5.1. VLĐ tạm thời: Là vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng
nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình SXKD của
các DN mang tính chất thời vụ. Vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn
của ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ tín dụng khác.
3.5.2. VLĐ thường xuyên: Là vốn có tính chất ổn định nhằm hình
thành nên TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết.
Công thức xác định"
=
-
Trong đó:
+ Nguồn vốn thường xuyên của DN = Nguồn VCSH + Nợ dài hạn
+ Giá trị còn lại = Nguyên giá TSCĐ - Số khấu hao lũy kế TSCĐ
Hoặc: Nguồn vốn thường xuyên = TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Việc phân loại VLĐ như trên giúp cho người qunả lý xem xét huy động
VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức và
hiện qua việc mua sắm TSLĐ và khả năng thanh toán của công ty trong quá
trình SXKD.
- Phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng VLĐ thông
qua các chỉ tiêu tài chính như: Vòng quay VLĐ, hiệu suất sử dụng VLĐ, hệ
số nợ.... Nhờ đó mà người quản lý tài chính có thể điều chỉnh kịp thời các
biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng mức doanh lợi.
4. Giải pháp huy động VLĐ
Hiện nay hầu hết các công ty Việt Nam đều trong tình trạng thiếu
nguồn vốn kinh doanh nhất là các công ty vừa và nhỏ. Vấn đề đặt ra phải làm
thế nào cho công ty có thể huy động tối đa các nguồn lực cho hoạt động
SXKD của mình. Trên thực tế có rất nhiều giải pháp để huy động được nguồn
vốn ngắn hạn và dài hạn.
● Các hình thức huy động VLĐ ngắn hạn
Tùy vào các điều kiện cụ thể của từng công ty mà lựa chọn các biện
pháp huy động VLĐ ngắn hạn như: vay ngắn hạn của ngân hàng, các tổ chức
tín dụng, vây cán bộ công nhân viên, hưởng tín dụng của nhà cung cấp và tận
dụng các khoản nợ ngắn hạn của công ty.
● Các hình thức Huy động VLĐ dài hạn
VLĐ dài hạn có thể do nhà nước cấp hoặc vốn tự có của các cổ đông
đóng góp. Trong hoạt động kinh doanh VLĐ dài hạn có vai trò vô cùng quan
trọng trong việc thay đổi các phương thức kinh doanh, phương thức đáp ứng
nhu cầu của khách hàng trên thị trường. Bên cạnh các nguồn vốn có thể huy
động trong nội bộ, công ty có thể huy động nguồn vốn này từ các nguồn như:
phát hành cổ phiếu, phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi, phát hành trái
phiếu công ty, vay vốn dài hạn và vốn trong hạn của ngân hàng, sử dụng máy
móc thiết bị hiện đại theo hình thức tín dụng thuê mua, liên kết đầu tư với các
công ty trong và ngoài nước để phát triển công ty.
II. Hiệu quả sử dụng VLĐ và một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ
sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự
trữ sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất - kinh
doanh cao hay thấp .... Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn
lưu động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, VLĐ luân chuyển càng nhanh thì
hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân
chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng
quay vốn).
- Số lần luân chuyển VLĐ (L) phản ánh số vòng quay vốn được thực
hiện trong thời kỳ nhất định (thường la 1 năm). Công thức tính:
L
M
VLĐ bình quân
Trong đó:
● M: Doanh thu của DN trong kỳ
● VLĐ bình quân: Số VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản án số lần chu chuyển hay số vòng quay của VLĐ
thực hiện trong một thời kỳ. Số vòng luân chuyển càng nhanh thì hiệu
quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
- Kỳ luân chuyển VLĐ (K) phản ánh số ngày bình quân cần thiết để
VLĐ thực hiện một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của
VLĐ trong kỳ
K =
: VLĐ kỳ trước tính theo DTT kỳ này
Chỉ tiêu này bổ sung cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ. Nó
phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm (lãng phí) được do tốc độ lưu chuyển VLĐ
kỳ này so với kỳ gốc. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng
VLĐ càng cao.
2.2. Chỉ tiêu hoạt động của VLĐ
* Hệ số đảm nhiệm VLĐ
Hệ số này cho biết DN muốn có một đồng doanh thu thuần thì cần phải
có bao nhiêu đồng VLĐ.
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Chỉ tiêu càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao
● Hệ số sinh lời VLĐ
Sức sản xuất của VLĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ tham gia vào SXKD trong kỳ
đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử
dụng VLĐ càng cao.
● Vòng quay vật tư hàng hóa.
Vòng quay vật tư, hàng hóa =
Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ vòng quay của VLĐ ở khâu dự trữ.
● Kỳ thu tiền trung bình
Là chỉ tiêu phản ánh số ngày bình quân cần thiết mà DN thu được tiền
về kể từ khi bán hàng hóa dịch vụ đi.
Kỳ thu tiền trung bình =
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khonả phải thu.
Nó cho thấy kỳ thu tiền nhanh hay chậm. Kỳ thu tiền càng ngắn thì hiệu quả
sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
2.3. Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán
2.3.1. Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
trong kỳ với tổng số VLĐ bình quân trong kỳ. Hệ số sinh lời VLĐ cho biết
một đồng VLĐ bỏ ra DN thu được bao nhiều đồng lợi nhuận trước thuế.
● Hệ số doanh lợi vốn lưu động
Doanh lợi Vốn lưu động =
Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác nhất hiệu quả sử dụng VLĐ. Lợi
nhuận đạt trên một đồng vốn càng cao thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao và
ngược lại. Nếu doanh lợi cao hơn hệ số sinh lời VLĐ chứng tỏ DN sử dụng
khonả tiền vay có hiệu quả.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
3.1.1. Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu
xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đảm bảo mục tiêu này,
doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định
tài chính dài hạn và ngắn hạn. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn lưu động và
một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội
dung có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn
tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển. Xuất phát từ vai trò to lớn của vốn
lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với mục tiêu tối đa hóa giá trị
doanh nghiệp khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng là một yêu cầu khách quan,
gắn liền với bản chất của doanh nghiệp.
3.1.2. Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Vốn lưu động là một thành phần quan trọng cấu tạo nên vốn của doanh
nghiệp, nó xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu của quá
trình sản xuất kinh doanh. Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm
bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình
lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thấp, mức sinh lợi kém và thậm
chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát, không kiểm soát được vốn lưu động
dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán.
Trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước do
đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp trước đây, có kết quả sản
xuất kinh doanh yếu kém mà một nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém
trong quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn lưu động nói riêng gây lãng
phí, thất thoát vốn, ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Xét từ
góc độ quản lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính
trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một nội dung
quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích cho riêng doanh nghiệp mà còn có ý
nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân.
4. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
nhằm giúp doanh nghiệp đảm bảo hiệu quả tối đa trong việc sử dụng vốn lưu
động nói riêng và trong quản lý tài chính nói chung nhằm đạt được mục tiêu
tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này, yêu cầu đối với
doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh là:
- Doanh nghiệp hoạt động hướng tới hiệu quả kinh tế, tối đa hóa giá trị
của doanh nghiệp. Đảm bảo sử dụng vốn lưu động đúng mục đích, đúng
phương hướng, kế hoạch kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra.
- Doanh nghiệp phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà
nước về quản lý tài chính, kế toán thống kê....
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY TNHH HƯNG LONG
1.1. Quá trình hoạt động và đặc điểm kinh doanh của công ty
Tên công ty: Công ty TNHH Hưng Long
Tên giao dịch: Công ty TNHH Hưng Long
Địa chỉ giao dịch: Số 441 - Thị trấn Văn Giang - Hưng Yên
1.1.1. Khái quát lịch sử thành lập công ty
Công ty TNHH Hưng Long tiền thân là đội xây dựng tư nhân chuyên đi
xây dựng các công trình trong ngành quân đội.
Từ năm 1989 - 1991 tham gia vào đội xây dựng của Công ty xây dựng
nhà ở tại Hưng Yên và các tỉnh thành phố trên cả nước. Do yêu cầu quản lý
và phát triển đếnn ăm 1995 thành lập Công ty TNHH Hưng Long theo quyết
định số 204/QĐ-UB ngày 08/04/1995 của UBND tỉnh Hưng Yên. Chứng chỉ
hành nghề xây dựng số 84/Q:XD do Sở Xây dựng cấp.
Tuy ra đời và hoạt động chưa lâu nhưng Công ty TNHH Hưng Long đã
có nhiều cố gắng trong tìm kiếm thị trường hoạt động, có nhiều hình thức huy
động vốn sản xuất, không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình
độ quản lý của cán bộ, tay nghề của kỹ sư và công nhân.... chính nhờ có
đường lối đúng đắn đi đô ivới các biện pháp thích hợp nên doanh thu, lợi
nhuận đóng góp cho NSNN không ngừng được nâng cao. Đến nay, Công ty
đã thực sự đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế
thị trường đang phát triển mạnh.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty
* Chức năng của công ty
- Thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông
thuỷ lợi, hạ tầng đô thị, cấp thoát nước và thiết kế, thi công trang trí nội, ngoại
thất.
- Xây dựng quản lý bất động sản (Chỉ được phép hoạt động trong
giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng kế
hoạch
kinh
doanh
Phòng
vật tư
Phòng dự
án kỹ
thuật
Phòng tài
chính kế toán
Ban điều
hành thi
công
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
- Ban quản trị
+ Chức năng:
Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân dânh công ty để quyết
định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của công ty.
công trình cho hợp lý, chịu trách nhiệm gọi thợ sửa chữa khi máy hỏng, cung
ứng vật tư thiết bị, cùngvới các phòng ban liên quan kiểm tra chất lượng, số
lượng hàng hóa nhập kho thanh quyết toán vật tư.
- Phòng dự án kỹ thuật xây dựng chịu trách nhiệm nghiên cứu, thẩm
định dự án, lập hồ sơ tham gia đấu thầu xây dựng.
- Phòng tài chính kế toán chịu trách nhiệm quản lý cấp tiền vốn cho
các xí nghiệp, tổ đội, hạch toán chi tiết, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh, phân tích tình hình tài chính của công ty, cung cấp những thông tin tài
chính cho giám đốc công ty có quyết định sản xuất kinh doanh thích hợp lập
kế hoạch quỹ tiền lương, BHXH...
- Ban điều hành thi công chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức và
tiến độ thi công các công trình. Tuy là doanh nghiệp quy mô vừa nhưng công
ty đã chú trọng đến sự phát triển lâu dài.
Cơ cấu quản lý của công ty được tổ chức trên cơ sở các nguyên tắc:
+ Phù hợp với cơ chế quản trị doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường.
+ Có mục tiêu chiến lược thống nhất.
+ Có chế độ trách nhiệm rõ ràng, quyền hạn và trách nhiệm cân xứng
với nhau.
+ Có sự chỉ huy thống nhất vào một đầu mối, đồng thời có sự mềm dẻo
về tổ chức.
+ Bảo đảm tăng hiệu quả trong kinh doanh của công ty.
2.3. Thực trạng và đặc điểm bộ máy kế toán của công ty
- Kỳ kế toán: Bắt đầu từ 1/1 kết thúc 31/12 hàng năm
- Đơn vị tiền tệ áp dụng trong kế toán: Đồng Việt Nam
- Phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác: Theo tỷ giá chuyển đổi
của Ngân hàng tại các thời điểm.
- Chế độ kế toán áp dụng: Theo chế độ kế toán hiện hành theo quyết