Nhu cầu sử dụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trường đại học tây bắc - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ............................................................. 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 2
3.2. Khách thể nghiên cứu ........................................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................... 2
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 2
5.1. Giới hạn phạm vi đối tượng .................................................................. 2
5.2. Giới hạn phạm vi khách thể .................................................................. 2
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 2
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận ................................................. 3
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn ............................................. 3
7.3. Phương pháp xử lí số liệu ..................................................................... 4
8. Cấu trúc của đề tài ...................................................................................... 4
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU NHẬN THỨC VÀ NHU
CẦU SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ............ 5
1.1. Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu ................................................... 5
1.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển Internet ........................... 5
1.1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................... 7
1.1.3. Nghiên cứu ở Việt Nam ...................................................................... 9
1.2. Cơ sở lí luận về nhu cầu nhận thức và nhu cầu sử dụng Internet trong
hoạt động học tập của sinh viên .................................................................... 13
1.2.1. Nhu cầu nhận thức ........................................................................... 13
1.2.2. Một số đặc điểm trong hoạt động học tập của sinh viên ................... 16
1.2.3. Nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên ..... 19
1.2.3.1. Động cơ học tập trong môi trường sử dụng Internet .................. 20
1.2.3.2. Hứng thú học tập trong môi trường sử dụng Internet: ............... 22
1.2.3.3. Hành động học tập trong môi trường sử dụng Internet .............. 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 67


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, loài người đang sống trong một xã hội với sự phát
triển không ngừng các thành tựu khoa học, kĩ thuật, công nghệ, trong đó phải kể
đến những thành tựu của lĩnh vực công nghệ thông tin. Sự ra đời, phát triển
mạnh mẽ của Internet cho phép con người rút ngắn khoảng cách và nối liền
khoảng cách theo xu thế toàn cầu hóa. Sự phát triển của Internet có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực giáo dục,
đến hoạt động học tập của học sinh, sinh viên. Tiện ích mà Internet mang lại cho
sinh viên hiện nay đó là giúp các em có những hiểu biết sâu rộng trong mọi lĩnh
vực, có khả năng truy cập một lượng thông tin lớn, đa dạng một cách nhanh
chóng. Điều này rất hữu ích cho hoạt động học tập mang tính chất tự nghiên cứu
ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên. Tuy nhiên, ngoài mặt tích cực, Internet còn
mang đến những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động học
tập và đời sống của sinh viên.
Trong một môi trường học tập ở bậc đại học có nhiều thay đổi trong cách
dạy và cách học. Sinh viên phải tích cực tham gia vào hoạt động học tập của
mình, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên. Do
đó, nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên ngày càng
cao và đa dạng. Sử dụng Internet trong hoạt động học tập và trong các nhu cầu
giải trí khác là một xu hướng tất yếu của giới trẻ nói chung và sinh viên trường
Đại học Tây Bắc nói riêng. Nhu cầu sử dụng Internet trong học tập của sinh viên
Trường Đại học Tây Bắc đạt ở mức độ nào? Hiệu quả sử dụng Internet trong
hoạt động học tập của sinh viên ra sao? Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
của Internet đến sinh viên trong quá trình học tập? Những khó khăn trong sử
dụng Internet…? Là những vấn đề mà tác giả mong muốn làm rõ trong đề tài.
Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển không ngừng của

và hành vi trong hoạt động học tập của sinh viên.
5.2. Giới hạn phạm vi khách thể
Đề tài nghiên cứu trên mẫu khách thể 200 sinh viên sư phạm từ năm thứ
nhất đến năm thứ tư Trường Đại học Tây Bắc, trong đó 50 sinh viên năm thứ
nhất; 50 sinh viên năm thứ 2; 50 sinh viên năm thứ 3; 50 sinh viên năm thứ 4.
6. Giả thuyết khoa học
2


Nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên sư phạm
Trường Đại học Tây Bắc ở mức trung bình, các em còn xa lạ với việc học tập có
hỗ trợ của công nghệ mạng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
Internet trong học tập. Nếu được học tập trong môi trường công nghệ dạy học
hiện đại, hướng dẫn cách học tập qua khai thác công nghệ mạng, kiểm soát,
quản lí về mặt thời gian; kiểm tra, đánh giá phù hợp…thì sẽ nâng cao hiệu quả
sử dụng Internet và nâng cao chất lượng dạy và học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát các tài liệu,
văn bản liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lí luận, xác định công cụ,
thang đo và các tiêu chí đánh giá nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên hiện
nay.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp diều tra bằng phiếu hỏi
Thiết kế, xây dựng phiếu điều tra (Anket) nhằm khảo sát thực trạng nhu
cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên; Phát hiện những yếu
tố ảnh hưởng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
Internet trong hoạt động học tập của sinh viên.
7.2.2.Phương pháp quan sát
Thông qua các buổi tiếp xúc với sinh viên, tiến hành quan sát các em


CHƢƠNG I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU NHẬN THỨC
VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1.1. Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây chúng ta được chứng kiến sự bùng nổ mạnh
mẽ của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự phát triển không ngừng của hệ thống
Internet, nó mang lại cho cuộc sống con người nhiều tiện ích. Hiện nay vấn đề
sử dụng, làm chủ Internet đang được nhiều cá nhân, tổ chức, hệ thống các
trường học…đặc biệt quan tâm. Đã có nhiều công trình khoa học ở trong và
ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chủ
yếu thuộc các lĩnh vực phát triển công nghệ thông tin, nghiên cứu các phần mềm
ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lí, y học, kinh tế, nghiên
cứu thị trường…Trong những năm gần đây, giáo dục đã bắt đầu ứng dụng
những thành tựu của công nghệ thông tin vào trong lĩnh vực quản lí giáo dục,
các hoạt động dạy và học, vì vậy những nghiên cứu về ứng dụng công nghệ
thông tin, mạng Internet trong nhà trường bắt đầu được thực hiện nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả trong giáo dục đào tạo.
1.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển Internet
Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET được Bộ Quốc
phong Mỹ xây dựng vào năm 1969 để nghiên cứu lĩnh vực mạng, theo đó các
máy tính được liên kết lại với nhau và có khả năng truyền dẫn các dữ liệu. Năm
1972 trong một hội nghị quốc tế về truyền thông máy tính, Bob Kahn đã trình
diễn mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí, đây cũng là năm
Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng. Từ đó đến
nay, E-mail là một trong những dịch vụ được dùng nhiều nhất.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, Năm 1986 mạng NSFnet
chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính. Đây cũng là năm có
sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học. Một số hãng lớn bắt đầu tổ
chức kinh doanh trên mạng. Đến lúc này đối tượng sử dụng Internet chủ yếu là

truyền phát dữ liệu tốc độ cao. Công nghệ 3G hiện đang được tích hợp vào các
máy tính xách tay, điện thoại di động… được sản xuất hàng loạt. Trong thời
điểm hiện tại, các công ty, tập đoàn chuyên nghiên cứu về mạng Internet đã cho
ra đời sản phẩm công nghệ 4G, là công nghệ truyền thông không dây thế hệ thứ
6


tư, cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ vượt trội hơn so với thế hệ thứ ba (3G).
Tốc độ đạt được trong điều kiện lý tưởng có thể lên tới 1 cho đến 1,5 Gb/giây.
Cho đến nay mạng Internet đã trở thành công cụ truyền thông công nghệ
cao, phục vụ hữu hiệu đời sống con người. Con người ngày càng nghiên cứu
phát triển và cho ra đời nhiều phiên bản phần mềm Internet đạt trình độ công
nghệ tối ưu. Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có khoảng 7,2 tỷ người, trong
đó số người sử dụng Internet khoảng 3,5 tỷ người chiếm 42 % dân số thế giới
(nguồn: Thị trường Internet Việt Nam năm 2015) và mỗi năm con số này lại
tăng lên.
Việt Nam bắt đầu thử nghiệm kết nối với Internet từ năm 1992. Đến năm
1997 Việt Nam chính thức tham gia vào truy cập Internet và cho đến nay mạng
Internet không ngừng phát triển tại Việt Nam. Theo thống kê có 44% dân số
Việt Nam sử dụng Internet và Việt Nam là một quốc gia được đánh giá có tốc độ
phát triển Internet vào loại khá trong khu vực và thế giới. (nguồn: Thị trường
Internet Việt Nam năm 2015).
1.1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể nói những nghiên cứu về Internet nói chung và nhu cầu sử dụng
Internet nói riêng cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực đề
cập đến trong nhiều đề tài. Nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển Internet để
thấy được sự cống hiến của các nhà nghiên cứu, các kĩ sư tin học, các lập trình
viên... đã không ngừng cho ra đời những sản phẩm truyền thông chất lượng cao,
có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Cũng như nhiều lĩnh vực trong đời sống
xã hội, giáo dục luôn đề cao những thành tựu mà công nghệ mạng đạt được và

đích quân sự và công nghiệp, sau đó mới được ứng dụng vào giáo dục. Tuy
nhiên, ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục đòi hỏi một con
đường khác. Nhằm có thể sử dụng một cách hiệu quả, các nhà giáo có thể phải
tái sáng tạo và thuyết phục được mục đích của nó là nhằm xác định bản thể học,
chuẩn hóa nội dung, kỹ năng và đáp ứng được các thành tố chương trình học
một cách tổng thế. Hoặc ít nhất, các nhà giáo dục cũng phải sử dụng và đo lường
được các kết quả có thể có của từng tiêu chuẩn. “Công nghệ thông tin được sử
dụng nhằm phục vụ cho các mục đích của con người, nhưng sự quá tải của công
nghệ thông tin là điều mà chúng ta phải lựa chọn cẩn thận trong việc ứng dụng
8


để chúng ta không phải hy sinh đi những gì thuộc về „con người‟ trong đó”
(Hanseth, Monteiro, & Hatling 1996).
1.1.3. Nghiên cứu ở Việt Nam
Theo chỉ thị số 58-CT/TW ban hành ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị
{23} đã nêu: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục
và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo
từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển
mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các
cơ sở giáo dục và đào tạo". Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề ra các điều
khoản triển khai chương trình đào tạo trực tuyến (E-Learning) trên Internet ở
quy mô trường học như là một phần của công tác triển khai công nghệ thông
tin năm học 2008-2009. Tại Việt Nam hiện nay, Internet đang ngày càng đóng
vai trò chủ chốt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Việc áp dụng Internet vào
lĩnh vực này đã thúc đẩy một bước tiến lớn mạnh mẽ mang tri thức phổ cập đến
mọi công dân trong xã hội. Theo khảo sát, Việt Nam đã có khoảng hơn 10.000
trường học ở các bậc học khác nhau trên cả nước được VNPT hỗ trợ kết nối
Internet nếu tính đến thời điểm năm 2014.
Dù mới chính thức xuất hiện và phát triển ở Việt Nam từ năm 1997 nhưng

dụng Internet và sự cần thiết phải khai thác những mặt tích cực của thế giới ảo.
Đa số khách hàng ở các quán cafe Internet là thanh, thiếu niên với mục đích vào
Internet để chat (tán gẫu) và tình trạng truy cập Internet một cách tự phát mà
không được ai hướng dẫn trước ngay cả ở nhà và trong trường học, từ đó sẽ dẫn
đến tình trạng “lợi bất cập hại”. Bài viết cũng đưa ra được sự cần thiết có những
kế hoạch đào tạo, định hướng sử dụng máy tính và Internet một cách cơ bản và
rộng rãi cho học sinh, sinh viên.
Bài viết “Đánh giá tình hình sử dụng Internet của thanh niên Việt Nam”
được cung cấp bởi IGURU Việt Nam, trích từ trang web .
Thực hiện tháng 3 năm 2008. Nội dung của bài viết nêu lên phần lớn thanh thiếu
niên sử dụng Internet vào mục đích giải trí và hầu hết là tự họ tìm hiểu để biết
cách sử dụng mà không được ai hướng dẫn trước. Trong bài viết cũng cho thấy
được sự khác biệt trong việc truy cập Internet đó là nam giới luôn chiếm tỷ lệ
cao hơn nữ và sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Đưa ra được những mặt
lợi và mặt hại trong thực trạng sử dụng Internet của thanh niên hiện nay. Về mặt
10


lợi của Internet ai cũng thấy được với sự tiện lợi, đơn giản một nơi kết nối cả thế
giới. Internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của thanh
thiếu niên. Mặc dù Internet đã được phổ cập nhưng việc quản lý, giáo dục sử
dụng Internet vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Internet tại Việt Nam đang
bộc lộ những mặt trái của nó như xâm phạm tình dục, truyền bá văn hóa phẩm
đồi trụy, trò chơi bạo lực, tuyên truyền thông tin sai lệch…Bài viết cũng đề ra
một số phương pháp mà chính phủ Việt Nam đang áp dụng để giảm thiểu những
mặt trái của Internet như ban hành nghị định Internet, nghị định chống thư rác
và các chương trình xã hội khác.
Tác giả Nguyễn Quý Thanh trong công trình nghiên cứu của mình về
“Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tính dục trước hôn nhân” đăng
trên tạp chí xã hội học, số 2, năm 2006. Bài viết được rút ra từ cuộc nghiên cứu

đối với giới trẻ nhất là giới trẻ ở các khu đô thị thì email, chat, games vẫn là chủ
yếu. Bên cạnh đó còn thể hiện được sự khác biệt trong việc ảnh hưởng của
Internet đối với học sinh – sinh viên và các cán bộ công nhân viên.
Tác giả Nguyễn Quý Thanh cùng nhóm cộng sự của mình là các tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Khánh Hòa và Nguyễn An Ni trong đề tài: “Mối
quan hệ của việc sử dụng Internet và hoạt động học tập của sinh viên” mã số
Q.CL.05.01. Qua đề tài này, nhóm tác giả nghiên cứu cho thấy rằng Internet là
một công cụ hữu hiệu bổ trợ cho quá trình giảng dạy – học tập của giáo viên và
sinh viên. Tuy nhiên, cho dù nó đã tạo những sự thay đổi nhất định trong cách
học tập của sinh viên nhưng vẫn không đạt được kết quả như chúng ta mong đợi.
Đề tài cũng cho thấy tầm quan trọng của việc phổ cập và tạo điều kiện cho sinh
viên có thể truy cập Internet phục vụ cho việc học là một việc vô cùng cần thiết.
Việc này phải được thực hiện một cách đồng bộ từ phía giáo viên, sinh viên
cũng như các nhà quản lý giáo dục.
Tác giả Hồ Sỹ Anh - Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP Tp.
HCM, trong nghiên cứu của mình về vấn đề “E-Learning đối với học sinh phổ
thông Việt Nam”, đã lí giải cách học trực tuyến E – Learning ở các trường học
và cách mà học sinh phổ thông tiếp cận hoạt động học theo hình thức này. Ở các
nước phát triể n , việc học tập bằng phương pháp E-Learning (Electronic
Learning) đã trở nên phổ biến, người học có thể chủ động chọn khóa học, thời
gian học thích hợp và có thể học ở bất cứ đâu

, chỉ cần kết nối với Internet .

Không chỉ có E -Learning, một số nước đã phát triển M

-Learning (Mobile

Learning) hoặc ME -Learning, kết hợp giữa M -Learning và E -Learning. Ở Việt
Nam, những năm gầ n đây , với sự phát triể n ma ̣nh mẽ hạ tầng công nghệ thông

1.2. Cơ sở lí luận về nhu cầu nhận thức và nhu cầu sử dụng Internet
trong hoạt động học tập của sinh viên
1.2.1. Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý chi phối mạnh mẽ đời sống tâm lý nói
chung và hành vi của con người nói riêng. Để tồn tại, phát triển, cá nhân phải
13


được thoả mãn những nhu cầu nhất định. Nhu cầu nhận thức là một trong những
nhu cầu tinh thần đặc trưng của con người. Đó là trạng thái thiếu hụt một cái gì
đó trong lĩnh vực nhận thức. Nhu cầu nhận thức là nhu cầu về tri thức, nhu cầu
hiểu biết, nhu cầu về thông tin có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con
người. Sự thoả mãn nhu cầu này có ý nghĩa to lớn đối với đời sống của cá nhân
và xã hội. Ngày nay nếu xét từ quan điểm phát triển bền vững thì đó là điều kiện
cần thiết để phát triển con người bền vững. Vì vậy, quan tâm hình thành và phát
triển nhu cầu nhận thức cho mỗi con người nói chung, mỗi học sinh, sinh viên
nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết.
Vấn đề nhu cầu được đề cập đến trong hầu hết các giáo trình tâm lý học.
Trong các giáo trình này, các tác giả chủ yếu nghiên cứu nhu cầu trên bình diện
lý luận như: định nghĩa nhu cầu, giới thiệu tóm lược bản chất nhu cầu, đưa ra
các phân loại nhu cầu, mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, mục đích hoạt
động... Vấn đề nhu cầu còn được đề cập đến trong các luận án tiến sỹ của
Trương Thành Trung, Nguyễn Văn Giao, Chu Thanh Phong, Hoàng Văn
Thanh....và một số luận văn cao học khác. Nhìn chung, các tác giả của những
luận văn, luận án trên đều xem xét nhu cầu với tư cách như là cơ sở khách quan
của xu hướng nhân cách, là nguồn gốc, nguyên nhân nẩy sinh tính tích cực hoạt
động của cá nhân.
Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow phân tầng nhu cầu thành năm tầng bậc.
Con người có những nhu cầu thiết yếu như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn...và
đồng thời cũng có những nhu cầu mang tính xã hội cao như nhu cầu quan hệ xã

mãn hay không thỏa mãi nhu cầu nhận thức. Mức độ và tính chất khác nhau của
xúc cảm tình cảm trí tuệ sẽ quy định mức độ phát triển của nhu cầu nhận thức.
- Nhu cầu nhận thức mang tính chu kì: được biểu hiện ở tính tự nguyện,
liên tục, tự giác tham gia hoạt động nhận thức, phản ánh độ bền vững của nhu
cầu nhận thức.
- Đặc điểm về nội dung đối tượng nhu cầu nhận thức: Nội dung đối tượng
của nhu cầu nhận thức là động cơ nhận thức được phản ánh trong tâm lí con
người. Động cơ nhận thức nếu xét trong phạm vi học tập thì đó là hệ thống tri
thức, kĩ năng , kĩ xảo được phản ánh vào đầu óc học sinh, thúc đẩy học sinh thực
hiện hoạt động nhận thức. Theo A.K.Marcova “động cơ nhận thức có trình độ
khác nhau được sắp xếp theo thứ bậc”.
- Đặc điểm về phương thức thỏa mãn nhu cầu nhận thức: Nhu cầu nhận
thức là nguồn gốc bên trong của tính tích cực nhận thức. Tính tích cực nhận thức
là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thế thông qua sự huy động ở mức độ
cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập. Do đó mức độ tích
cực nhận thức của cá nhân sẽ quyết định trực tiếp kết quả hoạt động nhận thức
cũng như phương thức nhằm thỏa mãn nhu cầu nhân thức.
Nhu cầu nhận thức ở mỗi người, mỗi lứa tuổi có thể khác nhau do đó kết
quả hoạt động là khác nhau. Khi nói đến học sinh, sinh viên - với tư cách là chủ
thể hoạt động học tập thì nhu cầu nhận thức có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ
xu hướng của hoạt động và sự phát triển nhân cách học sinh, sinh viên.
1.2.2. Một số đặc điểm trong hoạt động học tập của sinh viên
Sinh viên hay còn gọi là thanh niên - sinh viên là giai đoạn lứa tuổi các
em đã gần đạt đến sự trưởng thành về mặt thể chất, sinh lý và tiếp tục trưởng
thành, hoàn thiện về mặt xã hội, nhân cách. Theo nghiên cứu của nhà Tâm lý
16


học B.D.Annanhiep: Tuổi thanh niên là khi các em là chủ thể: Chủ thể lao động,
chủ thể trí tuệ, chủ thể nhân cách và là công dân tích cực của xã hội. Sự xác định


Lứa tuổi thanh niên – sinh viên là lớp người giàu nghị lực, có ước mơ,
hoài bão, lý tưởng. Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm
lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống, không phải bất cứ sinh viên nào cũng
được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động. Khó khăn
trong học tập của sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất ảnh hưởng rất
nhiều đến kết quả học tập, tâm lí học đường và sự hòa nhập vào môi trường mới,
ảnh hưởng đến bản lĩnh và sự tự tin của sinh viên trên con đường xây dựng kế
hoạch đường đời của họ. Học tập ở bậc đại học nhằm đào tạo sinh viên trở thành
những chuyên gia phát triển toàn diện, có trình độ phát triển nghề nghiệp cao, vì
vây ngoài những đặc điểm chung của hoạt động học tập, học tập của sinh viên
còn có những đặc điểm riêng sau đây:
- Tính chuyên nghiệp: Hoạt động học tập của sinh viên hướng vào việc
hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách người chuyên gia trong kĩnh vực
nghề nghiệp tương ứng, Do đó học tập của sinh viên có sự thay đổi rất lớn so
với học sinh phổ thông. Hoạt động học tập của sinh viên mang tính đặc trưng
của hoạt động nghề nghiệp tương lai, mục đích là chiếm lĩnh hệ thống tri thức,
kĩ năng, thái độ nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất của người lao động
nghề nghiệp tương lai. Tóm lại trong quá trình học tập sinh viên phải xây dựng
cho mình nhân cách đáp ứng với yêu cầu nghề nghiệp sau này.
- Tính độc lập cao trong học tập: Xuất phát từ yêu cầu của việc đào tạo
chuyên gia trong tương lai, học tập ở sinh viên đòi hỏi mức độ trí tuệ cao, sự tự
ý thức đầy đủ về hoạt động của bản thân. Sinh viên phải nhận thức được mình là
chủ thể của hoạt động học, là người tổ chức và thực hiện quá trình học tập. Tính
độc lập trong học tập của sinh viên được thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ
việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc tìm kiếm, sưu tầm tài
liệu, lập kế hoạch học tập phù hợp và nỗ lực thực hiện nó. Mặt khác học tập của
sinh viên mang tính chất nghiên cứu buộc sinh viên phải có tính độc lập, xây
dựng phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, tự chủ.
- Tính sáng tạo: Ngoài việc lĩnh hội tri thức, học tập của sinh viên gắn liền

trong các thư viện, nhà sách…hoặc là trong nguồn tài liệu mà giáo viên cung
cấp, vì vậy phải tốn rất nhiều thời gian. Ngày nay, việc kết nối mạng Internet đã
giúp họ thay đổi về cách học, internet trở thành phương tiện giúp sinh viên tìm
kiếm và lưu trữ thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
19


Từ những đặc điểm và biểu hiện của nhu cầu nhận thức của học sinh, sinh
viên như đã phân tích ở trên, chúng tôi lấy đó làm cơ sở lí luận để tiếp cận vấn
đề làm rõ nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của của người học.
Cụ thể chúng tôi sẽ là rõ ba vấn đề liên quan, đó là: Động cơ học tập, hướng thú
học tập và hành động học tập trong môi trường có sử dụng công nghệ mạng.
1.2.3.1. Động cơ học tập trong môi trường sử dụng Internet
Động cơ là động lực thúc đẩy con người hoạt động để đạt mục đích. Động
cơ có mối quan hệ không thể tách rời với nhu cầu, khi cá nhân gặp đối tượng có
khả năng thỏa mãn nhu cầu sẽ trở thành động lực thúc đẩy cá nhân tiến hành
hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Động cơ là cái bên trong ẩn chứa trong bất kì hoạt động nào của con
người. Động cơ hiện thân trong đối tượng của hoạt động, chủ thể tiến hành hoạt
động để chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Trong quá
trình hình thành và phát triển nhân cách cá nhân bị chi phối, điều khiển bởi hệ
thống động cơ và chính hệ thống động cơ cũng quy định nên các kiểu nhân cách
phản ánh nhân cách, đạo đức lối sống của cá nhân đó.
Động cơ học tập của sinh viên là học vì cái gì? Điều gì thúc đẩy hoạt
động học ở các em…Trả lời được những câu hỏi trên chính là việc xác định
được động cơ học tập của các em. Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên có
thể bị chi phối bởi động cơ bên trong và (hoặc) động cơ bên ngoài.
- Động cơ bên trong đóng vai trò quyết định thúc đẩy con người hoạt
động để vươn tới mục tiêu nhằm thỏa mãn những đòi hỏi bên trong của cá nhân
tạo nên tâm lí sẵn sàng đối với hoạt động học tập. Những động cơ bên trong chi

những mặt của hoạt động học tập hay với tất cả các mặt đó. Khi đó, những mặt
này của việc học tập sẽ biến thành các động cơ và bắt đầu thúc đẩy hoạt động
học tập tương ứng. Nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy các
em vượt qua mọi khó khăn để giành lấy tri thức.
Trong môi trường giáo dục ở bậc đại học với sự đa dạng những thay đổi
về hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ, đòi hỏi người học luôn tích cực chủ
động làm chủ tri thức bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau trong đó có
sử dụng thành tựu công nghệ thông tin - Mạng Internet và trong quá trình dạy và
học. Điều này cũng tác động một phần không nhỏ đến quá trình hình thành động
cơ học tập nếu xem xét Internet như là một yếu tố, một công cụ hữu hiệu trong
21


một môi trường học tập năng động và một xu thế học tập toàn cầu hóa như hiện
nay thì việc xây dựng động cơ học tập trong một môi trường học tập hiện đại là
điều cần thiết.
1.2.3.2. Hứng thú học tập trong môi trường sử dụng Internet:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với những sự vật hiện tượng
có khả năng mang lại sự thích thú khoái cảm cho cá nhân đó. Hứng thú có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động, nó tạo cho con người một trạng thái
xúc cảm dễ chịu say mê, thích thú với công việc, thúc đẩy con người hoạt động,
làm nảy sinh khát vọng hành động sáng tạo.
Nhà tâm lí học B.M. Cheplov đã viết: “Hứng thú là động lực quan trọng
nhất trong việc nắm lấy tri thức, mở rộng học vấn làm giầu nội dung của đời
sống tâm lí con người, thiếu hứng thú hoặc hứng thú mờ nhạt cuộc sống của con
người sẽ trở nên ảm đạm và nghèo nàn”
Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với kho tàng tri
thức nhân loại, có khả năng mang lại niềm vui, sự thích thú cho cá nhân, là động
lực thúc đẩy cá nhân học tập và là nguồn gốc cơ bản của tính tích cực, tự giác
trong hoạt động học tập.

1.2.4. Internet và vai trò của Internet trong dạy học.
1.2.4.1. Định nghĩa Internet
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Internet, có thể tham khảo hai định
nghĩa cơ bản dưới hai góc độ khác nhau:
Góc độ kỹ thuật: Internet được biết với tên gọi Net – là mạng máy tính lớn
nhất thế giới, hoặc chính xác hơn là mạng của các mạng, tức bao gồm nhiều
mạng máy tính được nối lại với nhau thông qua các phương tiện viễn thông trên
toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện thoại…Khả năng
truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa nhiều loại thông tin
như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động... Một số mạng máy tính bao
gồm nhiều máy tính trung tâm (còn gọi là máy chủ - server) và nhiều máy khác
(còn gọi là máy khách hàng) nối vào nó. Các mạng khác, có quy mô lớn hơn,
bao gồm nhiều máy chủ và cho phép bất kỳ một máy tính nào trong mạng có thể
kết nối với bất kỳ máy nào khác nhằm trao đổi thông tin.
Góc độ thông tin và ứng dụng: Internet là tên của một nhóm tài nguyên
thông tin như dữ liệu, hình ảnh, hình ảnh động, phim, âm thanh,…trên khắp thế
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status