BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------------------
TRẦN QUỐC DŨNG
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ HÀI HÒA VỀ
DOANH THUGIỮA CHUẨN MỰC KẾ
TOÁNVIỆT NAM VÀQUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của
bất kỳ ai. Các số liệu trong luận văn là trung thực và được thu thập từ các nguồn dữ liệu
khách quan ngoại trừ một số khảo sát và kết luận đã được công bố trong các công trình
khoa học của các tác giả. Nội dung của luận văn được viết dựa trên việc tham khảo các
bài báo, bài nghiên cứu, luận văn, chuẩn mực, thông tư và thông tin được đăng tải trên
các ấn phẩm, tạp chí và các website theo danh mục tài liệu tham khảo.
TP. Hồ Chí Minh, 30tháng 10 năm 2015
Trần Quốc Dũng
1.4.2.
Phạm vi nghiên cứu............................................................................................................. 3
1.5.
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................... 3
1.6.
Ý nghĩa nghiên cứu ..................................................................................................................... 4
1.7.
Giới thiệu kết cấu ........................................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN VỀ DOANH THU .................................................................................................................... 6
2.1.
Khái niệm hài hòa ..................................................................................................................... 21
2.1.1.
Hài hòa chuẩn mực kế toán và hài hòa thực tế kế toán ................................................. 22
2.1.2.
Hài hòa về công bố và hài hòa về đo lường BCTC ......................................................... 22
3.1. Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu ............................................................................................... 40
3.1.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................................... 40
3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu............................................................................................................. 41
3.2 Thiết kế nghiên cứu......................................................................................................................... 43
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................................ 43
3.2.2. Mô tả dữ liệu............................................................................................................................ 43
Kết luận chương 3 ................................................................................................................................. 46
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................ 47
4.1. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về sự hài hòa giữa chuẩn mực kế toán của Việt Nam và
quốc tế về doanh thu ............................................................................................................................. 47
4.1.1. Kết quả kiểm định ................................................................................................................... 47
4.1.2. Kết luận về giả thuyết H1, H2 ................................................................................................ 52
Kết luận chương 4 ................................................................................................................................. 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................................... 53
5.1. Kết luận chung ............................................................................................................................... 53
5.2. Một số kiến nghị ............................................................................................................................. 55
5.2.1. Kiến nghị chung ...................................................................................................................... 55
5.2.2.Kiến nghị đối với các trường hợp ghi nhận doanh thu cụ thể ............................................. 57
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các từ viết tắt tiếng Việt
BCKQHĐKD
TMBCTC
Thuyết minh báo cáo tài chính
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TT – BTC
Thông tư – Bộ Tài Chính
Các từ viết tắt tiếng Anh
FASB
Financial
Accounting Hội đồng chuẩn mực kế
Standards Board
IASB
IOSCO
toán tài chính
International Accounting Hội đồng chuẩn mực kế
Standards Board
National
Standards
VAS
chính quốc tế
Securities and Exchange Ủy ban hối đoái và chứng
Commission
NAS
toán quốc tế
Vietnamese
Standards
khoán Mỹ
accounting Chuẩn mực kế toán quốc
gia
Accounting Chuẩn mực kế toán Việt
Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Danh mục bảng, biểu
Bảng số
Tên bảng
Hình 4.2
Kết quả kiểm định Chi bình phương
Hình 5.1
Mô tả 5 bước ghi nhận doanh thu
Phần mở đầu
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán tài chính là quá trình thu thập và chuyển thông tin về các giao dịch và
sự kiện ảnh hưởng đến tài sản và công nợ, tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, và các thông tin này được trình bày trên các báo cáo tài chính hàng
năm, các thuyết minh bổ sung, và các bảng báo cáo bổ sung khác. Nó là một phương
tiện giao tiếp thông tin tài chính từ các giám đốc của công ty cho người sử dụng thông
tin đó như chủ sở hữu doanh nghiệp, nhà đầu tư, chủ nợ, các cơ quan tài chính,… Nói
cách khác, mục tiêu của kế toán tài chính là cung cấp thông tin có liên quan đến các
quyết định kinh tế của người sử dụng bên ngoài đối với báo cáo tài chính của các
doanh nghiệp. Để các đối tượng sử dụng thông tin từ bên ngoài đưa ra quyết định
đúng lúc, đúng thời điểm thì thông tin về các doanh nghiệp phải được so sánh theo
thời gian và giữa các doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, các quy tắc và thông lệ hiện
hành trên khắp các quốc gia cũng nhưtính linh hoạt của các phương pháp kế toán khác
nhau được thực hiện bởi các công ty trong phạm vi một quốc gia đã làm phức tạp hóa
tính có thể so sánh được của các báo cáo tài chính. Đoạn 15 của chuẩn mực kế toán số
01 – Chuẩn mực chung quy định rằng các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế
hợp đồng với khách hàng (thay thế cho IAS 11 - Hợp đồng xây dựng, IAS 18 – Doanh
thu, IFRIC 13 – Chương trình bản quyền khách hàng, IFRIC 15 – Hợp đồng xây dựng
bất động sản, IFRIC 18 – Chuyển giao tài sản từ khách hàng, SIC 31 –Doanh thu –
Giao dịch đổi hàng liên quan đến dịch vụ quảng cáo) liệu mức độ hài hòa giữa doanh
thu ghi nhận theo CMKT Việt Nam, theo thông tư 200 và DT được ghi nhận theo
IFRS 15 có thay đổi không, thay đổi như thế nào và sự thay đổi đó có làm tăng mức
độ hài hòagiữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế về doanh thu hay không? Chính
vì để trả lời cho câu hỏi trên, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu mức độhài hòa về
doanh thu giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế”
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính yếu của luận văn là đo lường thay đổi mức độ hài hòa giữa
CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế trước và sau khi ban hành thông tư 200.
Để đạt được các mục tiêu trên, các nội dung mà luận văn tập trung nghiên cứu
bao gồm:
(1) Xây dựng các giả thuyết mức độ hài hòa về doanh thu giữa chuẩn mực kế
toán của Việt Nam và quốc tế.
(2) Tập hợp dữ liệu, thực hiện phân tích, so sánh, tính toán chỉ số để xác định
mức độ hài hòa giữa CMKT Việt Nam và quốc tế về doanh thu.
1.3.
Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu của bài luận văn sẽ được làm rõ qua các bước trên:
+ Có hay không sự hài hòa về doanh thu giữa CMKT Việt Nam và
CMKT?
+ Sau khi thông tư 200/2014/TT - BTC ra đời, sự hài giữa quy định về
Các công cụ và phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp quan sát, phương
pháp giả thuyết và phương pháp phân tích thống kê.
Phương pháp quan sát: Quan sát và thu thập thông tin từ các nghiên cứu đã
được thực hiện về hài hòa kế toán giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế.
Phương pháp giả thuyết: Thiết lập các giả thuyết về mức độ hài hòa của CMKT
về doanh thu giữa Việt Nam và quốc tế.
Phương pháp thống kê: Sử dụng thống kê mô tả, xếp hạng các khoản mục cần
phân tích. Sau đó, sử dụng các giá trị xếp hạnggần gũi như sau: rank =3 khi hoàn toàn
hài hòa; rank=2 khi căn bản hài hòa, rank =1 khi có hài hòa nhưng tồn tại một vài
khác biệt quan trọng và rank=0 khi hoàn toàn khác biệt để có kết quả tính mức độ hài
hòa cho các nhóm qua hai giai đoạn khác nhau.
1.6.
Ý nghĩa nghiên cứu
Hệ thống các phương pháp nghiên cứu có thể áp dụng được khi nghiên cứu về
hài hòa kế toán.
Khái quát hóa cơ sở lý thuyết về sự hài hòa giữa CMKT Việt Nam và
IAS/IFRS.
Tổng hợp và đối chiếu các quy định của CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế
trong việc ghi nhận doanh thu qua việc nghiên cứu các CMKT VN số 14 – Doanh thu
và thu nhập khác; CMKT VN số 15 - Doanh thu hợp đồng xây dựng và CMKT quốc
tế số 18 – Doanh thu; CMKT quốc tế số 11 – Doanh thu hợp đồng xây dựng, chuẩn
mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS số 15 – Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng.
Từ đó, mong rằng nghiên cứu sẽ cung cấp cho các ban ngành kinh tế những
thông tin hữu ích nhằm hoàn thiện hơn những chuẩn mực lập BCTC cho các DN tại
Việt Nam phù hợp với hướng dẫn của IAS/IFRS nhằm tiến đến sự hội tụ giữa CMKT
Việt Nam và CMKT quốc tế. Đồng thời, hy vọng bài nghiên cứu mang lại một vài
tài chính. Do vậy, nghiên cứu về hài hòa thực tế thích hợp hơn. Vì hạn chế về thời
gian nghiên cứu cũng như hiểu biết chưa sâu rộng về vấn đề này nên đề tài cũng tập
trung vào mảng hài hòa chuẩn mực về công bố thông tin trên báo cáo tài chính với
những nghiên cứu điển hình như sau:
Toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới đã thúc đẩy các nỗ lực thiết lập một bộ
chuẩn mực báo cáo tài chínhchung vốn được xem là con đường để đạt được sự hội tụ
chuẩn mực kế toán toàn cầu. Trong tháng 5 năm 2000, Tổ chức quốc tế các ủy ban
chứng khoán (IOSCO) hoàn thành việc đánh giá các tiêu chuẩn cốt lõi của Ủy ban
chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC). Thành viên của IOSCO được khuyến khích sử
dụng các tiêu chuẩn của IASC để lập báo cáo tài chính cho các dịch vụ xuyên biên
giới bao gồm các giao dich bán chứng khoán. Đã có những nghiên cứu sâu rộng được
thực hiện trong lĩnh vực hài hòa ở mức độ toàn cầu. Các lĩnh vực nghiên cứu không
giới hạn đến một chủ đề cụ thể của sự hài hòa, nhưng nó được mở rộng đến một loạt
các khía cạnh hài hòa, trong đó bao gồm các nghiên cứu cụm mờ, quy định hài hòa,
hài hòa thực tế, kỹ thuật đo lường sự hài hòa và phù hợp với IAS.
Tương tự như vậy, các nghiên cứu về sự hài hòa có thể được nhóm lại ở tầm cỡ
quốc tế, khu vực và nghiên cứu cấp quốc gia về chuẩn mực kế toán hoặc kế toán thực
tế ở các công ty. Van der Tas (1988) là người tiên phong để định lượng sự hài hòa và
để xác định khi nào đạt được sự hài hòa và hài hòa đến mức độ nào và sau đó để đo
lường tác động của các tổ chức tham gia vào hài hòa quốc tế.
Hầu hết các nghiên cứu trước về đánh giá hài hòa kế toán tập trung vào các đo
lường hài hòa thực tế. Các chỉ số, chẳng hạn như I và C, cũng như chỉ số H được giới
thiệu bởi Van der Tas (1988), được sử dụng phổ biến. Một số tác giả thực hiện cải tiến
thêm hoặc phát triển những chỉ số, chẳng hạn như Archer, Delvaille, và McLeay
(1998), Herrmann và Thomas (1995). Trong những nghiên cứu này, các nguồn dữ liệu
được sử dụng để xác định mức độ hài hoà giữa kế toán thực hành và cách xử lý các
nghiệp vụ kế toán của các công ty. Tuy nhiên, bởi vì nghiên cứu hài hòa thực tế so với
hài hòa chuẩn mực có sự khác nhau đáng kể, chỉ số được sử dụng trong đo lường hài
thời gian) về tiến trình hài hòa chuẩn mực, đó là nghiên cứu sự thay đổi của một tiêu
chuẩn theo thời gian. Trong nghiên cứu này, họ tập trung nghiên cứu về việc đánh giá
sự tiến bộ của IASC qua tất cả ba giai đoạn của hoạt động thiết lập tiêu chuẩn của nó
bằng khoảng cách Euclide. Các kết quả đã chứng minh rằng IASC đã được tiến bộ
vượt bậc trong việc làm tăng mức độ hài hòa đạt được thông qua các chuẩn mực kế
toán đã phát hành hoặc sửa đổi. Mặc dù nghiên cứu này cho thấy sự tiến bộ trong việc
đo lường sự hài hòa chuẩn mực nhưng việc sử dụng khoảng cách Euclide đặt ra nhiều
dấu hỏi. Khi hoảng cách Euclide là một số tuyệt đối thì kết quả chỉ có thể cho thấy sự
khác biệt giữa các mục so sánh mà thôi. Nó không thể hiện sự tương đồng hoặc khác
biệt đối với các mục được so sánh. Lỗi này làm cho nó không phù hợp để sử dụng
trong phân tích sự hội tụ giữa tiêu chuẩn khác nhau (theo chiều ngang) hoặc các tiến
bộ đạt được trong một chuẩn theo thời gian (theo chiều dọc).
Nhận thức của các lỗ hổng tồn tại trong phương pháp luận, Fontes et al. (2005)
đã đề xuất sử dụng hệ số Jaccard và hệ số Spearman để đánh giá sự tiến bộ của hài
hòa chuẩn mực giữa bất kỳ hai bộ chuẩn mực kế toán bằng cách đo lường hài hòa
chuẩn mực giữa chuẩn mực kế toán Bồ Đào Nha (PAS) và IFRS trong ba giai đoạn
của hội tụ kế toán bằng cách sử dụng khoảng cách Euclide, hệ số Jaccard, và hệ số
Spearman. Các kết quả đã chứng minh rằng phương pháp hệ số tương quan tốt hơn so
với khoảng cách Euclide.
Khi khoảng cách Euclide mang lại giá trị tuyệt đối và không phải là dễ dàng để
giải thích. Ngược lại, các kết quả thu được từ việc đánh già hài hòa bằng hệ số Jaccard
có thể được giải thích cả về quá trình (tăng kết quả theo thời gian biểu thị tiến hài hòa
chuẩn mực) và vào một thời điểm cụ thể. Việc tính toán hệ số tương quan Spearman
tăng cường các kết quả và cung cấp thêm bằng chứng về những tiến bộ đạt được bởi
sự hội tụ PAS với IFRS. Việc sử dụng các hệ số này có thể đánh giá những điểm
tương tự của các chuẩn mực giữa các quốc gia và có thể thay thế cho các phương pháp
không thích hợp trong việc đo lường sự khác biệt về hài hòa giữa các chuẩn mực.
Phương pháp này được cho là áp dụng để phân tích mức độ hội tụ giữa các quy định
trong việc đánh giá sự hài hòa chuẩn mực kế toán nên là một phương pháp phù hợp
nhất với các tính chất của các biến danh nghĩa, mà trong trường hợp này là các hệ số.
Chỉ Hệ số Jaccard và hệ số Spearman đề xuất bởi Fontes et al. (2005) hiện đáp ứng
yêu cầu này. Khoảng cách Euclide và khoảng cách Mahalanobis giống như là chủ yếu
thích hợp cho tính toán thứ tự hay biến khoảng thời gian.
Thứ hai, hầu hết các mẫu trong nghiên cứu sự hài hòa chính thức tập trung vào
những vấn đề kế toán có nhiều sự lựa chọn trong xử lý kế toán. Vì các yêu cầu về đo
lường và công bố thông tin trong quy định là linh hoạt, có khả năng rằng mặc dù các
lựa chọn kế toán là chính xác như nhau giữa các chuẩn mực được so sánh nhưng hai
bộ chuẩn mực có thể không thực sự là hội tụ khi phạm vi, các từ ngữ, và các tiêu
chuẩn đo lường không chính xác như nhau. Những khác biệt này cuối cùng sẽ ảnh
hưởng đến hài hòa thực tế.
Thứ ba, các biến được chọn trong nghiên cứu sự hài hòa chuẩn mực tương tự
như các biến được chọn trong các nghiên cứu hài hòa thực tế, trong đó phương pháp
xử lý kế toán được phân loại như "Yêu cầu", "đề nghị", "cho phép" hoặc "không được
phép". Cách phân loại này có thể hiệu quả khi đo lường mức độ hội tụ của hài hòa
thực tế vì sức mạnh của các quy định của phương pháp kế toán sẽ ảnh hưởng đến các
tập quán kế toán.
Xem xét những hạn chế tồn tại trong các nghiên cứu về sự hài hòa chuẩn mực,
nghiên cứu Zang và Qu giải thích lợi ích của việc sử dụng các phương pháp phân tích
cụm mờ để đo lường mức độ hội tụ giữa bất kỳ hai bộ chuẩn mực kế toán cả về tổng
thể hay chỉ một chuẩn mực đơn lẻ.
Nghiên cứu “The Impirical Evidence On Formal And Material Harmonization
Of National Accounting Standards” - Lasmin, Ritsumeikan Asia Pacific University.
Bài nghiên cứu này đo lường và so sánh mức độ và tiến độ hài hòa hóa chuẩn mực và
hài hòa hóa thực tế ở Indonesia. Nó cho thấy mức độ hài hòa các chuẩn mực kế toán
của Indonesia (PSAK) với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và cải thiện
trong mức độ hài hòa (hài hòa chuẩn mực). Ngoài ra, nó còn cho thấy mức độ có thể
toán thực tế, số lượng các công ty lựa chọn một trong hai phương pháp kế toán có thể
nhiều hơn hoặc ít hơn so với phương pháp kế toán còn lại, điều này có nghĩa là không
tập trung vào một phương pháp cụ thể, làm cho sự hài hoà thực tế thấp hơn nhiều so
với sự hài hòa chuẩn mực. Thứ ba, sự tiến bộ của hài hòa thực tế ở Indonesia thực sự
là kém xa so với sự hài hòa chuẩn mực vì quyết định để hội tụ về IFRS không được
thực hiện bởi các doanh nghiệp nhằm cải thiện tính minh bạch và tính so sánh của báo
cáo tài chính. Hơn nữa, cải thiện mức độ hài hòa thực tế khó khăn hơn so với sự hài
hòa chuẩn mực vì thực hiện các tiêu chuẩn của hài hòa chuẩn mực cần nhiều thời gian
và nỗ lực hơn là quy định áp dụng.
Bài nghiên cứu này vô cùng hữu ích. Đầu tiên, nó như là một người tiên phong
trong việc đánh giá sơ bộ một cách toàn diện của các mức độ cũng như tiến độ phát
triển của hài hòa thực tế và hài hòa chuẩn mực ở Indonesia. Chuẩn mực Kế toán ở
Indonesia (PSAK) đại diện cho bộ chuẩn mực kế toán của các quốc gia đang phát triển
vốn chưa nhận được đủ sự chú ý của các học giả kế toán trên toàn thế giới. Thứ hai,
nó cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng mâu thuẫn với niềm tin chính thống, nơi
mà sự tiến bộ của sự hài hòa chuẩn mực không đưa đến sự cải thiện của hài hòa thực
tế. Căn cứ trên kết quả nghiên cứu này mà IASB có thể soạn thảo hoặc bổ sung thêm
trong bộ chuẩn mực BCTC quốc tế để có thể tăng mức độ hội tụ của CMKT quốc gia
và CM BCTC quốc tế.
Một số hạn chế cần phải được đưa vào xem xét khi giải thích các kết quả của
nghiên cứu này. Đầu tiên, phân cấp bậc và thế mạnh của các chuẩn mực kế toán, các
vấn đềvà các phương pháp của PSAK và IFRS liên quan đến việc đánh giá chủ quan.
Thứ hai, có những hạn chế vốn có thống kê. Ví dụ, hệ số tương quan Spearman không
thể được áp dụng để đánh giá tất cả các vấn đề kế toán. Thứ ba, các hệ số và số thu
được không có thể được chuẩn hóa do thiếu các nghiên cứu tương tự hiện có. Thứ tư,
kết quả đánh giá hài hòa thực tế phụ thuộc vào mức độ công bố thông tin của báo cáo
tài chính hàng năm. Tuy nhiên, những hạn chế này không cản trở tầm quan trọng của
nghiên cứu này. Tuy nhiên, các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán Indonesia và IASB
phiếu B của Trung Quốc được nghiên cứu để đánh giá mức độ hài hòa thực tế giữa
GAAP Trung Quốc và IAS. Mẫu cuối cùng được nghiên cứu bao gồm báo cáo
thường niên của 79 công ty niêm yết của Trung Quốc năm 1999 và 2002 phát hành
cả cổ phiếu A và B. Một danh sách chứa 77 khoản mục đo lường được phát triển từ
IAS 1 đến IAS 40. Các phương pháp đo lường khác nhau đã được sử dụng như: cấp
bậc xếp hạng gần gũi, chỉ số phù hợp, chỉ số nhất quán và chỉ số “bảo thủ” đã được
sử dụng.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải cách kế toán tại Trung
Quốc làm tăng mức độ hài hòa giữa GAAP Trung Quốc và IAS. Tuy nhiên, giữa
GAAP Trung Quốc và IAS vẫn còn tồn tại những khác biệt rõ rệt về phương pháp đo
lường tài chính quan trọng. Nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng thuyết phục
rằng hài hòa các quy định về kế toán có liên quan mật thiết đến hài hòa thực tế trong
kế toán vì hài hòa thực tế kế toán vì nó làm tăng mức độ hài hòa thực tế trong cách
ghi chép kế toán của các công ty niêm yết với IAS. Từ đó, làm tăng tính có thể so
sánh được của các lựa chọn kế toán tại các doanh nghiệp đó trong báo cáo thường
niên được lập theo quy định của GAAP Trung Quốc và IAS. Cũng từ đó làm giảm
khoảng cách trong việc ghi nhận lợi nhuận theo quy định của GAAP Trung Quốc và
IAS.
Nghiên cứu tiếp theo là bài nghiên cứu “Mức độ hài hòa giữa CMKT Việt Nam
và CMKT quốc tế” của tác giả Phạm Hoài Hương đo lường mức độ hài hòa giữa VAS
và IAS/IFRS thông qua các chỉ số hài hòa về mặt đo lường (M-DJCS), khai báo thông
tin (D-DJSCS) và tổng hợp (O-DJCS). Các chỉ số DJCS dao động từ 0% đến 100%,
0% thể hiện sự khác nhau hoàn toàn và 100% thể hiện sự giống nhau hoàn toàn giữa
VAS và IAS/IFRS. Các bước xác định DJCS được thể hiện như sau:
Mỗi chuẩn mực được phân tích thành các mục chính. Trên cơ sở đó, so sánh
VAS và IAS/IFRS theo từng khoản mục. Thang đánh giá từ “0” đến “1” được sử dụng
để đo lường, “0” thể hiện sự khác nhau hoàn toàn, “1” thể hiện sự giống nhau hoàn
toàn. Trong trường hợp phương pháp xử lý liên quan đến cùng một vấn đề không hoàn
toàn giống nhau cũng như không hoàn toàn khác nhau giữa VAS và IAS/IFRS thì mức
Với mục đích đo lường mức độ hài hòa giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc
tế về doanh thu với dữ liệu để nghiên cứu dưới dạng các văn bản (Archival Data),
nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích nội dung (content analysis) được cho
là phù hợp với loại dữ liệu này (Malcolm Smith, 2006). Sau khi nhóm các nhóm với
các khoản mục, đánh giá sự giống nhau khác nhau thông qua các hệ số xếp hạng, sử
dụng phân tích cụm mờ (Qu & Zhang (2010)) để dánh giá đo lường đã được xếp hạng
với các điểm tương ứng là 0, 1, 2 và 3. Mức độ hài hòa chung của nhóm sẽ được đánh
giá bằng chỉ số H. Phương pháp phân tích sẽ được trình bày rõ trong chương 3.
Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu hài hòa chuẩn mực
Tác giả
Mục tiêu
Dữ liệu nghiên
Phươngpháp
nghiêncứu
nghiên
cứu
nghiêncứu
Rahman,
Perera, and
Ganeshanan
dam(1996)
ảnh hưởng
của những
khác biệt
giữa
CMKT
quốc gia
(NAS) và
CMKT
quốc tế.
111 khoản mục Chỉ số “Absence”
dựa trên các quy và
chỉ
số
định về ghi “Divergence”.
nhận, đo lường,
công bố thông
tin ở 30 quốc
gia năm2001.
Cho thấy chỉ số
“Absence” ở ở
mức cao thì gắn
với cơ hội quản
lý lợi nhuận và
giảm việc cung
cấp thông tin cụ
thể
doanh
hội tụ
giữa
chuẩn
mực kế
toán
Trung
Quốc và
chuẩn
mực
BCTC
quốc tế
33 CMKT trong Phương pháp phân Tổng
thể
bộ CMKT mới tích cụm mờ.
CMKT Trung
của TrungQuốc.
Quốc đã đạt
được mục tiêu
của hội tụ khá
cao vớiIFRS.
Peng
(2005)
Lasmin
(2011)
Đo lường
cầu niêm yết
chứng khoán
Cấp bậc xếp hạng
gần gũi, chỉ số phù
hợp, chỉ số nhất
quán và chỉ số “bảo
thủ”
Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng
việc cải cách kế
toán tại Trung
Quốc làm tăng
mức độ hài hòa
giữa
GAAP
Trung Quốc và
IAS
43 phương pháp
kế toán trong
18 CMKT và
Chuẩn
mực
Báo cáo tài
chính quốc tế
(IFRS)
năm
2007 và
nhằm tăng mức
độ hài hòa giữa
PSAK vàIFRS
đã thànhcông.