BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
TÊN HỌC PHẦN
XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
TÊN TIỂU LUẬN
Lý thuyết hành động xã hội học và hiện tượng
làn sóng văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam
Chuyên ngành : Quản lý văn hóa
Mã số
: 62310642
Tên giảng viên : PGS.TS. Bùi Hoài Sơn
Tên NCS
: Hoàng Thị Bình
2
Hà Nội, 2016
1. Đặt vấn đề:
Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung và
đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịch
sử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy
luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và các
dân tộc.
đã phát biểu rằng: cuối cùng thì nhà xã hội học phải chẩn đoán xem xã hội ở
trong tình trạng "khỏe mạnh" hay "bệnh tật" và sau đó nhà xã hội học phải kê
đơn những loại thuốc cần cho sức khỏe của xã hội. Và mãi cho đến nửa sau
của thế kỷ XIX, xã hội học mới xuất hiện với tư cách là một môn khoa học
độc lập có đối tượng, chức năng, và phương pháp riêng biệt.
Tuy nhiên Do không có một lịch sử duy nhất cho xã hội học nên không
có định nghĩa về xã hội học duy nhất. Các định nghĩa xã hội học đều dựa trên
từng quan điểm lý thuyết.
- Xã hội học là một ngành khoa học dùng quy luật xã hội để giải thích
các hiện tượng xã hội
- Xã hội học là một ngành khoc học trong đó lấy xã hội toàn thể để giải
thích cho các hiện tượng xã hội cụ thể
- Xã hội là cái có trước, là cái quy định, hiện tượng xã hội (tác phẩm
nghệ thuật, phim…) là cái có sau, phụ thuộc vào xã hội toàn thể. Chỉ có thể
hiểu các hiện tượng xã hội cụ thể đó thông qua việc phân tích xã hội tổng thể.
VD: Hiện tượng Trịnh Công Sơn
Hiện tượng đi chùa đặt tiền vào tay tượng phật
4
- Xã hội luôn có những quy luật, hiểu được, tiên liệu được, tính toán và
đo đếm được. Vì vậy nghiên cứu xã hội học là đi tìm quy luật cho mỗi hiện
tượng xã hội, trong đó có văn hóa.
Khái niệm xã hội học văn hóa
- Là chuyên ngành của xã hội học: xã hội: tập hợp cá nhân, nhóm
ngành xã hội.
- Xã hội học văn hóa: đi tìm nguồn gốc xã hội của văn hóa, mối quan
hệ giữa xã hội và văn hóa
- Theo xã hội học, các văn hóa ra đời, tồn tại và phát triển có lý do xã
hội của nó, ko hiểu cơ sở xã hội thì sẽ ko hiểu văn hóa một cách thấu đáo.
về hành động xã hội của con người, nó vừa hướng đến lý giải những yếu tố
mang tính chất riêng rẽ của một cá nhân, nhóm cụ thể nhưng đồng thời cũng
cho thấy được sự tác động của yếu tố xã hội như: giá trị, chuẩn mực, tôn giáo
tín ngưỡng,… đến các hành vi đó.
Về mặt lịch sử từ khi ra đời đến nay lý thuyết hành động xã hội đã có
tầm ảnh hưởng lớn đến nhiều các ngành khoa học xã hội khác nhau. Đầu tiên
là xã hội học với những nghiên cứu động cơ, mục đích và biểu hiện của
những hành động của cá nhân và nhóm. Tâm lý học, dựa trên lý thuyết này để
tìm thấy mối liên hệ giữa môi trường và bối cảnh xã hội đối với nhân cách và
hành vi. Trong nhân học nghiên cứu các hành động có tính chất như là một
biểu tượng văn hóa, qua đó so sánh giữa các xã hội với nhau.
Cơ sở triết học và nhân học của hành động xã hội
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã
hội được cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi
mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một
6
hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá
nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng
vào chuỗi hành động đó. Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể
như nguyên nhân của hành động - Một hành động mà một cá nhân không
nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội. Mọi hành động không tính
đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không
phải là hành động xã hội. Hành động không phải là kết quả của quá trình suy
nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội.
Thời cổ đại đã phát triển những suy nghĩ triết học và nhân học về “bản
chất xã hội” của con người như là cái bản chất thứ hai, nhưng mang tính
quyết định. Như vậy, cơ sở triết học để xã hội học xem hành động của con
người là hành động xã hội chính là dựa trên quan điểm triết học về bản chất
nào mà có được sự thích ứng lẫn nhau giữa hành động của các cá nhân khác
nhau? ông cho rằng ý nghĩa chính là yếu tố trung tâm cho sự thích ứng lẫn
nhau này. Trong tình huống tương tác, một chủ thể lựa chọn từ nhiều khả
năng hiểu khác nhau, tìm ra một cái xác định, ý nghĩa cho phép người tiếp
nhận hành động tiến hành một sự giải mã hành động (ý nghĩa của các biểu
tượng thể hiện trong hành động). Khái niệm “ý nghĩa” bao hàm những cơ sở
sau. Thứ nhất, ý nghĩa giúp tạo ra một hình thái đặc thù cho sự cảm nhận, sự
cảm nhận này làm cho hành vi của người khác trở nên có ý nghĩa và có thể
hiểu được. Thứ hai, thông qua và vượt quá một tình huống hành động cụ thể,
nó cho phép nhìn vào nền văn hóa mà nó thể hiện (văn hóa: mối quan hệ giữa
các chuẩn mực và giá trị của một hệ thống xã hội).
Chuẩn mực
Khái niệm chuẩn mực có nguồn gốc từ tiếng lating, có nghĩa là quy tắc,
sợi chỉ xuyên suốt. Người ta thấy chuẩn mực có trong đạo đức theo nghĩa các
tiêu chuẩn hành vi, trong mỹ học và logic, trong kỹ thuật và ngôn ngữ hàng
8
ngày. Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử: cái gì phù hợp
chuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bất
hình thường.
Trong lĩnh vực hành động xã hội, chuẩn mực là những quy tắc ứng xử
được quy định rõ ràng, chúng tạo ra sự tiêu chuẩn hóa, điều khiến cho việc
lặp lại các hành động và do đó các kỳ vọng hành động trở nên có thể tồn tại
được. Giống như hành động xã hội, đối với xã hội học, chuẩn mực xã hội là
một thành phần khái niệm tiên nghiệm của xã hội học. Nói cách khác, khái
niệm chuẩn mực xã hội không thể được rút ra từ bất kỳ một khái niệm nào
khác, nó thể hiện một hiện tượng tối nguyên thuỷ của cái xã hội.
Durkheim được xem là nhà xã hội học đầu tiên đề xuất vấn đề “tính
chuẩn mực của cái xã hội”. Đối với cách hiểu của Durkheim, cái xã hội tồn tại
nguyên tử của đời sống xã hội, các chuẩn mực chỉ có thể vận hành khi các
chuẩn mực quan trọng nhất đối với hành động xã hội được kết nối với nhau,
khi chúng được theo đuổi như là “đầy giá trị” (quan trọng, đúng đắn, chân lý)
theo một ý nghĩa có tính đạo lý. Giá trị là những “chỉ dẫn đạo lý” dẫn dắt
hành động con người. Chúng biểu hiện các ý nghĩa và mục tiêu mà các cá
nhân và nhóm gắn với hành động của họ.
Các kiểu của hành động xã hội
1. Kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm
như thế từ xưa đến nay;
2. Kiểu hành động cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc;
3. Kiểu hành động duy lý với giá trị hướng tới các giá trị tối hậu;
4. Kiểu hành động duy lý có mục đích hay còn gọi là kiểu hành động
mang tính công cụ.
Những tiên đề của xã hội học hành động xã hội
10
Dựa trên những khái niệm có tính tiên nghiệm trình bày ở trên, xã hội học
hành động xã hội đưa ra một số tiên đề nghiên cứu có thể tóm tắt dưới đây.
- Con người hành động trong các tình huống nhất định trên cơ sở của
các ý nghĩa mà tự họ gắn vào các hành động của bản thân và của đối tác.
- Khi đi vào các tình huống hành động cụ thể mỗi người đều đã có một
tri thức hàng ngày được cấu trúc hóa trước đó. Thế giới trong đó chúng ta
hành động đã là một thế giới văn hóa, được lý giải. Đối với chúng ta là một
thế giới có một ý nghĩa cụ thể.
- Hành động là một quá trình có tính lý giải, diễn ra một cách mới, khác
đi với các đối tác hành động. Trong quá trình đó, các ý nghĩa cấu trúc hóa nên
những kỳ vọng.
Mỗi cá nhân đều ở trong tình trạng “hiểu ý nghĩa”.
Các cá nhân hình thành từ xã hội hóa, tức là từ việc được trang bị các
yếu tố cơ bản sau đây:
• Chủ thể hành động là những cá nhân
• Các chủ thể theo đuổi các mục đích
• Chủ thể phát triển các phương tiện khác nhau để đạt mục đích
• Chủ thể đối mặt với những hoàn cảnh khác nhau, những hoàn cảnh
gây tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện
• Chủ thể bị điều khiển bởi các giá trị và chuẩn mực tác động đến việc
lựa chọn mục đích và phương tiện (theo Bùi Thế Cường, 2008).
Ngoài các tác giả trên thì một đại diện của học thuyết tương tác luận,
H.Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hành động
trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán vào tương tác xã hội của họ. Đây là quá
trình xã hội trong đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các quy tắc, chứ
không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm. Nhà tương tác luận
đồng ý rằng ở mức độ nhất định, hành động được cấu trúc hóa, được thường
12
ước lệ hóa thừa nhận sự có thật của các thiết cả xã hội. Ông cho rằng mặc dù
ở đây có những chỉ dẫn chặt chẽ cho hành động, song các hành động được
tiêu chuẩn hóa vẫn được kiến tạo nên bởi các chủ thể chứ không phải bởi các
hệ thống xã hội.
3. Nội dung chính của lý thuyết hành động xã hội
Weber được xem là nhà xã hội học có đóng góp lớn nhất lý thuyết hành
động xã hội. Theo ông, đối tượng đích thực của xã hội học là hành động xã
hội. Ông nói: “Xã hội học... là một khoa học cố gắng hiểu theo kiểu diễn giải
hành động xã hội để bằng cách đó đạt tới việc giải thích nhân quả về chuỗi
hành động và tác động của nó. Hành động là hành vi con người khi và chỉ
trong chừng mực khi cá nhân đang hành động gắn một ý nghĩa chủ quan vào
đó” (theo Bùi Thế Cường, 2008). Tuy nhiên điểm căn bản trong lý thuyết này
Theo V.Pareto phân chia thành hai dạng hành động :
1. Hành động logic. Đó là những hành động hợp lý một hợp lý có mục
đích được ý thức một cách rõ ràng và các cá nhân hành động hướng đến các
mục đích đó
2. Hành phi lôgic. Đó là những hành động bản năng, hành động không
được ý thức. Nó xuất phát từ những bản năng sẵn có trong con người như,
ham muốn lợi ích, tham lam… Mỗi cá nhân đều có cả hai loại hành động này
trong quá trình tương tác
Phân loại của Max Weber
1- Hành động hợp lý về mục đích. Loại hành động này căn cứ vào
những mong đợi của đối tượng bên ngoài và coi đó là phương tiện để đạt
được mục đích. Hay đó chính là việc người hành động phải suy nghĩ và quyết
định xem chọn mục đích nào, phương tiện nào để đạt được mục đích.
14
2. Hành động hợp lý về giá trị. Là nhũng hành động mà chủ thể luôn
hướng đến những giá trị xã hội.
3. Hành động hợp lý theo truyền thống. Đó là những hành động tuân
thủ theo những theo thói quen, nghi lễ, phong tục,…của truyền thống. Ví dụ
như tổ chức đám giổ linh đình, mê tín dị đoan
4. Hành động hợp lý theo cảm xúc. Là hành động tự phát, không có sự cân
nhắc, không theo quy luật, không có sự phân tích mà hoàn toàn phụ thuộc vào
cảm xúc chủ quan…Ví dụ như do tức ai đó mà đánh làm người ta phải đi viện…
Weber cho rằng tất cả các loại hành động của con người đều thuộc một
trong bốn loại hành động này. Tuy nhiên, sự tồn tại của bốn loại hành động
này không phải độc lập với nhau mà chúng đan xen, bổ trợ và đặc biệt trong
thực tiễn ranh giới giữa các hành động không phải lúc nào cũng có thể minh
định được.
4. Khả năng áp dụng lý thuyết hành động xã hội trong nghiên cứu
cần đến những cách tiếp cận của các lý thuyết khác. Lý thuyết hành động xã
hội cũng như vậy, cách nhìn về hành động của con người muốn đạt đến sự
xác thực và có sức mạnh cần phải đặt trong sự phối hợp với quan điểm chức
năng, tương tác, cấu trúc. Bên cạnh sự phối hợp đó thì lý thuyết hành động xã
hội cũng trợ giúp và bổ sung cho cả những lý giải hành vi có bằng chứng sâu
rộng, đồng thời giúp lý giải vĩ mô không quá trừu tượng và chung chung.
Những đóng góp đó của lý thuyết hành động xã hội một lần nữa cho
thấy đây là một trong những phương pháp luận có và trò quan trọng hàng đầu
không chỉ trong xã hội học mà còn trong các khoa học xã hội nhân văn khác
nhất là trong bối cảnh phúc hợp hóa tri thức đang được đề cao như hiện nay.
5. Hiện tượng làn sóng văn hóa Hàn Quốc nhìn từ góc độ hành
động xã hội học
16
Làn sóng Hàn Quốc là khái niệm về hiện tượng văn hóa đại chúng của
Hàn Quốc như: âm nhạc, phim truyền hình, phim chiếu rạp nhận được ưa
chuộng của người hâm mộ, đặt trọng tâm vào tầng lớp thanh niên trẻ tuổi trên
khắp thế giới. Với ý nghĩa là từ mới tạo được bắt đầu sử dụng lần đầu tiên
trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc vào những tháng còn lại của
năm 1990, là từ đồng âm khác nghĩa của từ Hàn lưu ( dòng nước lạnh),
Hallyu ( làn sóng Hàn Quốc) - phản ánh sự ưa chuộng của văn hóa đại chúng
Hàn Quốc lúc đó, đã khiến cho các văn hóa khác cảm thấy khiếp sợ; vừa mới
bắt đầu được khán giả chấp nhận nhưng nó đã có một vị trí tương đối trong
lòng người hâm mộ.
Cuối năm 1997, khái niệm Hallyu - Hàn lưu bắt đầu xuất hiện trên báo
chí Trung Quốc, sau khi phim truyền hình Hàn Quốc đổ bộ và gặt hái trọn vẹn
thành công tại quốc gia đông dân nhất Thế giới này. Ngay sau đó, phim Hàn
Quốc, kèm theo cụm từ Hallyu bắt đầu được nhắc đến thường xuyên hơn,
được đón nhận nồng nhiệt hơn tại hàng loạt các quốc gia Châu Á như Nhật
xâm nhập, khuếch tán tự nhiên vào văn hóa bản địa, Hàn Quốc đã thực thi
thành công tại nhiều quốc gia nhờ chính việc định hướng chính xác, chọn
phim ảnh là sản phẩm chiến lược để có thể đưa dòng chảy Hallyu len lỏi đến
từng ngõ ngách của xúc cảm, ghi dấu ấn và được yêu thích tại bất cứ nơi nào.
Lúc này, Việt Nam cũng như nhiều nước khác, đón nhận một cách tự
nhiên, chủ động chứ không phải là bị động tất cả những nét văn hóa của Hàn
Quốc được phô bày qua phim ảnh, tạo nên những trào lưu hưởng ứng, say mê
với ẩm thực, thời trang, phong cách giao tiếp và cả ngôn ngữ đời sống….của
Hàn Quốc. Một bộ phận người Việt Nam thích phim Hàn Quốc, hòa hợp với
văn hóa Hàn Quốc một cách tự nhiên. Thời điểm này, những bộ phim như
Trái tim mùa thu, Chuyện tình mùa đông, Nấc thang lên thiên đường,
18
Những nàng công chúa nổi tiếng…liên tục gây những cơn sốt trên sóng
truyền hình, dù trước đó, khoảng từ năm 2004, Hallyu có dấu hiệu chững lại
và có nguy cơ tụt dốc, nhiều khả năng bị phim Trung Quốc giành lại vị thế.
Sau cú trở mình ngoạn mục từ Giày thủy tinh, đặc biệt là sau bộ phim dã sử
Nàng Dae Jang Gum, Hallyu đã tìm lại được vinh quang của mình khi rất
đông khán giả Việt Nam ở các vùng miền đều say mê theo dõi phim Hàn,
thiện cảm dành cho phim Hàn cũng dần được tái tạo. Thích phim Hàn Quốc,
trìu mến khi nhận xét về con người, đất nước Hàn Quốc kèm theo kèm theo
sự yêu thích gu thời trang, ẩm thực…kiểu Hàn, khán giả Việt Nam một cách
tự nhiên đã tạo nên những thay đổi lớn. Phim ảnh - chính là yếu tố tạo nên
những ảnh hưởng về văn hóa nhất định của Hàn Quốc đối với Việt Nam, ở cả
mặt tích cực lẫn những tác động không tích cực. Đặc biệt, tầng lớp thanh niên
Việt Nam hiện nay được coi là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất và có
những biểu hiện khá rõ rệt khi ít nhiều bị văn hóa Hàn Quốc làm cho thay đổi,
thông qua việc yêu thích phim ảnh, mến mộ những nhân vật và tình huống
trong phim.
hóa nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam mà vẫn có thể tiếp nhận, học hỏi
được những nét văn hóa tích cực từ bên ngoài.
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể thấy hiện tượng làn sóng văn hóa
Hàn quốc tại Việt Nam đã mang đầy đủ các yếu tố cơ bản của thuyết hành động
xã hội học như trên đã đề cập. Làn gió nóng Hallyu với vai trò như một sự quan
tâm tuyệt đối về văn hóa Hàn Quốc, được liên kết bởi luồng khí nóng về văn hóa
và giáo dục Hàn Quốc, nó tạo ra một chuẩn mực nhất định thu hút sự yêu thích,
sự quan tâm của đông đảo người dân mà đặc biệt là giới trẻ Việt Nam.
20
KẾT LUẬN
Hành động xã hội vừa là một lý thuyết xã hội học, vừa là một phương
pháp luận trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhăn văn. Có nguồn gốc từ
phương Tây, lý thuyết này không chỉ hướng tới lý giải hành vi cá nhân mà mở
rộng mối quan tâm đến sự tương tác của các yếu tố xã hội đến động cơ và
mực đích hành động cá nhân và nhóm. Khi vận dụng lý thuyết này, các bộ
môn khoa học xã hội và nhân văn khác nhau có cái nhìn biện chứng, sự tương
tác qua lại như thế nào trong đối tượng nghiên cứu chính yếu nhất là con
người và xã hội. Từ khi ra đời đến này lý thuyết hành động xã hội không
ngừng được bổ sung làm rõ trong các công trình nghiên cứu thực nghiệm,
chính điều này đã làm cho sức mạnh của phương pháp luận này ngày càng
được củng cố.
Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu thì lý thuyết hành động xã hội
cũng gặp phải những phê phán. Những nhà cấu trúc luận cho rằng lý thuyết
hành động xã hội cũng rơi vào “cái bẫy vi mô” khi chỉ lý giải được những vấn
đề nhỏ lẻ rời rạc của con người mà không cho thấy được cấu trúc và quy luật
của xã hội. Trong khi đó những nhà hành vi luận lại phê phán lý thuyết hành
động xã hội là một học thuyết “nửa vời” khi không hẳn thuộc về hành vi cũng
6. Phan Thị Kim Anh (2012), Ảnh hưởng Hàn lưu đến giới trẻ Việt
Nam. Hội thảo Quốc tế 20 năm quan hệ Việt - Hàn, tổ chức tại Trường Đại
học KHXH & NV Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/2012.
7. Phạm Văn Quyết (2001). Phương pháp nghiên cứu xã hội học. NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Thanh Lê (2004). Xã hội học. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
9. Đào Duy Hiệp (2008). Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại. Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
10. Bùi Thế Cường (2008). Các lý thuyết về hành động xã hội. Tạp chí
Khoa học xã hội.
11. Bùi Thế Cường (chủ biên). 2010. Phương pháp nghiên cứu xã hội
và lịch sử. Nxb. Từ điển bách khoa.