luận văn thạc sĩ kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh ở công ty cổ phần xuất nhập khẩu xây dựng và thƣơng mại sao việt - Pdf 41

MỤC LỤC
TK 334,338 TK 6421......................................................................................................24
TK 152,153......................................................................................................................24
TK 111, 112, 331...........................................................................................................24
TK152,153 TK 335.....................................................................................................27
TK142, 242, 335 TK 142(1422).................................................................................27
Công thức................................................................................................................64


LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước do Đảng và Nhà nước
lãnh đạo, các doanh nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đã và đang trưởng
thành xương sống trụ cột của nền kinh tế quốc dân. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào
của nền kinh tế. Nói đến nền kinh tế thị trường là nói đến tính cạnh tranh gay gắt, các
doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trường phải độc lập tự chủ tìm cho mình
một hướng đi riêng nhằm thích nghi với thị trường đồng thời cũng phải tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh việc tối thiểu hóa đầu vào các doanh nghiệp cần
phải chú ý quan tâm đến khâu tiêu thụ nhằm tối đa hóa đầu ra. Có thể nói tiêu thụ là
một trong những khâu quan trọng nhất của quá trình sản xuất nói chung và của của chu
kỳ sản xuất kinh doanh nói riêng, là thước đo sự phát triển của các doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp vừa mang tính chất thương mại, tiêu thụ hàng hóa là giai đoạn
quan trọng nhất của quá trình kinh doanh, nó có tính chất quyết định tới thành công
hay thất bại của doanh nghiệp, giải quyết tốt khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thực
sự thực hiện được chức năng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Điều đó cho thấy
công tác hạch toán nói chung và công tác hạch toán kết quả nói riêng là khâu vô cùng
quan trọng không thể thiếu với mỗi doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này doanh
nghiệp phải lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào có lợi nhất, các phương thức tiêu thụ
để làm sao bán được nhiều mặt hàng nhất. Doanh nghiệp nên tiếp tục đầu tư hay
chuyển sang hướng khác. Do vậy việc tổ chức tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh
như thế nào để có thể cung cấp thông tin nhanh nhất kịp thời cho các nhà quản lý,
phân tích đánh giá lựa chọn phương thức kinh doanh thích hợp nhất.

được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Doanh nghiệp thu hồi được
vốn bỏ ra bù đắp chi phí và có nguồn tích lũy để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng
một khối lượng hàng hóa và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán
hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp các định kết quả kinh doanh của
mình.
Xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và
thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả kinh
doanh là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả kinh doanh là lỗ. Việc xác định kết
quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh, thường là cuối tháng,
cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng
doanh nghiệp.
Bán hàng là khâu cuối cùng của trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp còn
xác định kết quả kinh doanh là căn cứ quan trọng để đơn vị quyết định tiêu thụ hàng
hoá nữa hay không. Do đó có thể nói giữa tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh có
mối quan hệ mật thiết. Kết quả kinh doanh là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp
còn tiêu thụ là phương tiện trực tiếp để đạt được mục đích đó.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh và kết quả hoạt động khác.


1.1.1.2 Vai trò
Bán hàng Là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận doanh nghiệp đồng ý bán và
khách hàng đồng ý mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán có sự chuyển đổi
quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng. Doanh nghiệp giao hàng
hóa cho khách hàng, nhận được từ họ một khoản tiền hay là một khoản nợ tương ứng
khoản tiền này được gọi là doanh thu tiêu thụ dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ
ra trong quá trình kinh doanh
Bán hàng là khâu quan trọng của hoạt động thương mại doanh nghiệp, nó thực
hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi

kinh tế.
Yêu cầu đối với kế toán bán hàng là phải giám sát chặt chẽ hàng hoá tiêu thụ trên
tất cả các phương diện: số lượng, chất lưọng…Tránh hiện tượng mất mát hư hỏng
hoặc tham ô lãng phí, kiểm tra tính hợp lý của các khoản chi phí đồng thời phân bổ
chính xác cho đúng hàng bán để xác định kết quả kinh doanh. Phải quản lý chăt chẽ
tình hình thanh toán của khách hàng yêu cầu thanh toán đúng hình thức và thời gian
tránh mất mát ứ đọng vốn
1.1.2 Phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Việc bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện theo hai
phương thức: bán buôn và bán lẻ, được chi tiết dưới nhiều hình thức khác nhau (trực
tiếp, chuyển hàng).
Cụ thể: Bán buôn hàng hóa là hình thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các
doanh nghiệp sản xuất…Đặc điểm của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong
lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy, giá trị và giá trị sử dụng
của hàng hóa chưa được thực hiện. Hàng bán buôn thường được bán theo lô hàng hoặc
bán với số lượng lớn. Giá bán biến động tùy thuộc vào số lượng hàng bán và phương
thức thanh toán. Trong bán buôn thường bao gồm hai phương thức:
Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn hàng hóa qua kho là phương
thức bán buôn hàng mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh
nghiệp. Bán buôn hàng hóa qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức:
Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức
này, bên mua cứ đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng. Doanh
nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện mua. Sau khi đại diện


bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là
tiêu thụ.
Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này,
căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương
mại xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển

Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Bán lẻ thu tiền tập trung là hình thức bán
hàng mà trong đó tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng
cho người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của
khách, viết hóa đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do
nhân viên bán hàng giao. Hết ca hoặc hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ
vào hóa đơn và tích kê giao hàng cho khách hàng hoặc kiểm kê hàng hóa tồn quầy để
xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng. Nhân
viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.
Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực
tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên
bán hàng làm giấy bán hàng và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hóa tồn
quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn
lấy hàng hóa, mang đến bàn tính tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên
thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hóa đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Nhân
viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hóa ở quầy
mình phụ trách. Hình thức này rất phổ biến ở các siêu thị.
Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng
thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại, ngoài số tiền thu theo giá bán thông
thường còn thu thêm ở người mua một khoản lãi do trả chậm. Đối với hình thức này về
thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng.
Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hóa bán trả góp được
coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhận doanh thu.
Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hóa: Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng
hóa là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở
đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực
tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển
giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương
mại cho đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền


từng hợp đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng hóa bán ra, đôn thúc thanh toán,
nộp tiền bán hàng vào quỹ.
 Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ. Tổ chức hệ thống
chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý, khoa học, tránh sự trùng
lặp, bỏ sót, chậm trễ.
 Xác định đúng và tập hợp đúng, đầy đủ chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp phát sinh trong kỳ. Phân bổ chính xác các chi phí đó cho hàng tiêu thụ.


1.3 Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu xây dựng và thương mại Sao Việt áp dụng các
chết độ kế toán theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC. Quyết định 48 được ban hành ngày
14/09/2006, quy định về nội dung, danh mục các tài khoản, chứng từ, sổ kế toán và
báo cáo tài chính phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,. Trong phạm
vi bài khóa luận này, em xin được trình bày một số nội dung tổng quan về kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại, dựa trên chế độ
kế toán theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC.
1.3.1 Kế toán doanh thu bán hàng
1.3.1.1 Khái niệm
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp,
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch
và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm hàng hóa bao gồm cả các khoản
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có)
Theo chuẩn mực số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác ”
Doanh thu bán hàng hóa được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả 5 điều kiện
sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

yêu cầu trong công việc lập và trình bày các báo cáo tài chính quốc tế.
Việc ghi nhận doanh thu được quy đinh ở chuẩn mực kế toán quốc tế số 18
“Revenue” (IAS 18). So với VAS 14 thì IAS 18 có thêm hướng dẫn về ghi nhận
doanh thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và nhận lãi, tiền bản quyền hoặc cổ tức.
Trong đó:
• Về

việc ghi nhận doanh thu từ hoạt động bán hàng

IAS 18 đưa ra 5 tiêu chí để có thể xác định:
- Rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu được chuyển giao cho người mua
- Người bán không còn kiểm soát cũng như quản lý hàng hóa bán ra.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Người bán sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch một cách chắc chắn.
Tất cả 5 tiêu chí trên phải được thỏa mãn để ghi nhận doanh thu từ bán hàng.


IAS 18 hướng dẫn về những trường hợp cụ thể, như hóa đơn và tổ chức bán
hàng, vận chuyển hàng hóa với những điều kiện nhất định, bán hàng ký gửi, tiền giao
hàng, .v.v…
• Ghi

nhận doan thu từ cung cấp dịch vụ

Ở đây, IAS 18 quy định 4 tiêu chí ghi nhận doanh thu:
- Doanh thu được tính môt cách chắc chắn
- Người bán sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
- Giai đoạn hoàn thành vào ngày lập báo cáo được xác định một cách chắc chắn.
- Các chi phí liên quan đến giao dịch có thể được tính tương đối chắc chắn.

Bên Có: Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ.


Số dư bên Có: Doanh thu nhận trước hiện có cuối kỳ.
1.3.1.5 Phương pháp hạch toán
TK 111, 112, 131, 136

TK 511

TK 3331, 3332
Thuế GTGT trực tiếp,
TK 521

TTĐB
và thuế xuất khẩu (nếu có)
Kết chuyển các khoản

Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ

giảm doanh thu
TK 911
Kết chuyển
doanh thu thuần

TK 3387
Lãi do bán hàng trả góp
TK 3331

1.3.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

- Hóa đơn điều chỉnh giảm trong trường hợp số tiền giảm giá, chiết khấu được
lập khi kết thúc chương trình (kỳ) giảm giá, chiết khấu
Chứng từ sử dụng để hạch toán khoản hàng bán bị trả lại có văn bản đề nghị của
người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại, giá trị hàng bị trả lại và
hóa đơn ( nếu trả toàn bộ), bản sao hóa đơn ( nếu trả một phần). Hóa đơn GTGT do
khách hàng lập để trả lại hàng (trong đó ghi rõ hàng trả lại do không đúng quy cách,
phẩm chất); Biên bản xác định hàng hóa không đúng quy cách, phẩm chất; Phiếu nhập
kho hàng trả lại và các chứng từ thanh toán; Biên bản bù trừ công nợ; Biên bản xác
nhận hàng bán bị trả lại
Chứng từ sử dụng để hạch toán khoản giảm giá hàng bán phải có biên bản xác
mnhận chất lượng lô hàng bị giảm và văn bản đề nghị của người mua giảm gía hàng
bán và bản sao hóa đơn. Hóa đơn GTGT do kế toán bán hàng lập trên Hóa đơn ghi rõ
“Hóa đơn này dùng để điều chỉnh giảm giá cho hóa đơn số ... ngày...”; Biên bản xác
nhận giảm giá hàng bán, và một số chứng từ liên quan khác như: Phiếu chi, giấy báo
Nợ ngân hàng...
1.3.2.3 Tài khoản sử dụng
TK 5211 - Chiết khấu thương mại
Tài khoản này phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm
trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng,


dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp
đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua bán hàng hóa.
TK 521
hàng)

Kết chuyển trị giá chiết

trừ vào nợ của khách


hàng vì lí do hàng hóa kém phẩm chất hay không đúng quy định trong hợp đồng kinh
tế.

TK 5213

Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng
cho người mua hàng do hàng bán kém, mất bán để xác định doanh thu
phẩm chất hoặc sai quy cách theo quy định
trong hợp đồng kinh tế
1.3.2.4 Phương pháp hạch toán
TK 5211;

TK 111, 112, 131
(1a)

TK 511

5212;5213
(2a)
TK 333
33333333333


(1b)

(2b)

Sơ đồ 2: Trình tự kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Giải thích sơ đồ:
(1a): Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán thực tế

Số lượng hàng tồn đầu kỳ+ Số lượng hàng nhập trong kỳ


Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối
tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này
chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh
nghiệp vụ.
- Bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập
Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập, kế toán phải xác định lại giá trị thực
của hàng tồn kho và giá trị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức
Đơn giá xuất kho
lần thứ i

Trị giá hàng tồn đầu kỳ + Trị giá hàng nhập trước lần xuất thứ i
=
Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng hàng nhập trước lần xuất thứ i

Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục những hạn chế của phương pháp trên
nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do vậy, phương pháp
này được áp dụng ở những doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng
nhập xuất ít.
 Phương pháp FIFO
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước thì được
xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước và thực
hiện tuần tự cho đến khi nó được xuất ra hết.
Phương pháp này giúp chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho
từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các
khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với
giá trị thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có

Phương pháp nhập sau, xuất trước: áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho
được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước. Theo phương pháp này thì giá trị
hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của
hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn
kho. Phương pháp này hầu như không được dùng trong thực tế.
Mỗi phương pháp tính trị giá mua của hàng xuất kho đều có những ưu nhược
điểm riêng. Việc áp dụng các phương pháp khác nhau sẽ cho các KQKD khác nhau.
Kế toán cần phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu và trình độ quản lý của đơn vị để lựa
chọn phương pháp thích hợp.


Bước 2: Tính chi phí thu mua phân bổ cho hàng xuất kho.
CP mua hàng

CP mua hàng của

phân bổ cho

hàng tồn đầu kỳ

hàng xuất kho

=

trong kỳ

Trị giá mua của
hàng tồn đầu kỳ

+

hàng xuất kho trong kỳ

1.3.3.3 Tài khoản sử dụng
Kế toán chủ yếu sử dụng Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bất
động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (Đối với doanh nghiệp xây
lắp) bán trong kỳ.
Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt
động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí
nghiệp vụ cho thuê BĐS đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt động (Trường hợp
phát sinh không lớn); chi phí nhượng bán, thanh lý BĐS đầu tư. . .


TK 632
-

-

-

Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
Phản ánh CPNVL, CPNC, CPSX
chung cố định không phân bổ không
được tính vào giá trị hàng tồn kho mà
phải tính vào giá vốn hàng bán của
kỳ kế toán.
Phản ánh hao hụt, mất mát của hàng
tồn kho sau khi trừ đi phần bồi
1.3.3.3 Phương pháp hạch toán

TK 911

Kết chuyển giá vốn hàng bán
để xác định kết quả kinh
doanh

TK 138, 152, 153, 156

TK 156

Phần hao hụt, mất mát hàng

Hàng bán bị trả lại nhập kho

tồn
kho tính vào giá vốn hàng bán
TK 111, 112, 131

TK 159
Hoàn nhập dự phòng

Bất động sản đầu tư

giảm giá HTK

TK 133
Thuế GTGT
đầu vào

Trích lập dự phòng giảm giá

1.3.4.2 Chứng từ kế toán chi phí bán hàng
Hóa đơn GTGT.
Phiếu chi.
Các chứng từ liên quan khác…
1.3.4.3 Tài khoản sử dụng


TK 6421 “Chi phí bán hàng”.
Tài khoản này dùng để phản ánh tập hợp và kết chuyển các chi phí thực tế phát
sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ. Tài khoản 6421 được
mở chi tiết theo từng nội dung chi phí như: Chi phí nhân viên, vật liệu, đồ dùng, khấu
hao TSCĐ; dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh,
yêu cầu quản lý từng ngành, từng doanh nghiệp, Tài khoản 6421 có thể được mở thêm
một số nội dung chi phí. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí bán hàng vào bên Nợ Tài
khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh".
Kết cấu Tài khoản 6421 “Chi phí bán hàng”
Bên Nợ:
Chí phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có:
Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng
Kết chuyển chi phí bán hàng để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ
chi phí bán hàng cho những sản phẩm sẽ tiêu thụ ở kỳ sau
TK 6421 không có số dư cuối kỳ.


1.3.4.4 Phương pháp hạch toán
TK 334,338

TK 138, 111


TK214

TK 911
Khấu hao TSCĐ ở bộ phận
bán hàng

Kết chuyển chi phí bán
hàng để tính kết quả kinh
doanh kỳ này

TK 111, 112, 331
Chi phí

TK 133

điện nước

1.3.5 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
1.3.5.1 Nội dung kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) là những chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của cả
doanh nghiệp.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản cụ thể, có nội dung và công
dụng khác nhau. Chi phí quản lý doanh nghiệp được chia thành các loại sau:


Chi phí nhân viên quản lý: gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho Ban giám đốc,
nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCD
trên tiền lương nhân viên quản lý theo qui định.
Chi phí vật liệu quản lý: trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status