Những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Kon Tum - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
1

Luận văn
Những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước
nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng, Nhà
nước cũng như của các chính quyền địa phương là phát triển kinh tế và giải
quyết việc làm cho người dân. Muốn phát triển kinh tế và tạo việc làm thì
phải huy động được vốn, phát triển hệ thống doanh nghiệp. Trong điều kiện
hiện nay, giữ vai trò quyết định là vốn trong nước, trong đó nguồn vốn quan
trọng là từ nhân dân.
Làm thế nào thu hút được vốn đầu tư trong nước từ nhân dân để phát
triển kinh tế và tạo việc làm là đề tài đã được nhiều người nghiên cứu. Nhiều
chính sách của Nhà nước cũng đã được ban hành để giải quyết hai vấn đề
trên, song kết quả còn nhiều hạn chế. Số vốn trong nước huy động được, số
doanh nghiệp được thành lập, số việc làm đã được tạo ra tuy ngày càng nhiều
nhưng vẫn bất cập so với khả năng tiềm tàng trong dân cư, so với yêu cầu phát
triển của đất nước và nhu cầu việc làm ngày càng tăng của người lao động.
Đối với tỉnh Kon Tum, một trong những vấn đề nổi cộm là số doanh
nghiệp được thành lập còn ít so với dân số đô thị, số doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả, mở rộng quy mô, tăng thêm vốn và lao động cũng chưa nhiều. Hiện

kinh tế xã hội của nước mình. Ở Việt Nam, thời gian gần đây (trong thời kỳ
đổi mới) vấn đề này mới được quan tâm đúng mức. Đã có những công trình
nghiên cứu về mặt lý luận, về mặt tổng kết và cũng có những công trình
nghiên cứu cụ thể về vấn đề này ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng,
Hồ Chí Minh, Bình Dương... Tuy nhiên trước tình hình phát triển mới của đất
nước, trước sự thay đổi nhanh chóng của cơ chế quản lý và chính sách phát
triển, luôn đòi hỏi phải nghiên cứu cập nhật các vấn đề về chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với Kon Tum, chưa có công trình nào nghiên
cứu về đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa
và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
của một địa phương.
- Đánh giá đúng thực trạng và nêu ra được những hạn chế, những nguyên
nhân cản trở việc thành lập và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn tỉnh Kon Tum.

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.
4
- Luận chứng, đề xuất những giải pháp chủ yếu và kiến nghị với Trung
ương, với tỉnh về cơ chế, chính sách chung và những biện pháp của tỉnh để có
thể hỗ trợ một cách có hiệu quả nhất cho sự ra đời và phát triển các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh Kon Tum trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các biện pháp chính sách của Nhà
nước cấp tỉnh. Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp nhỏ và vừa và những

phân tích chi tiết lần đầu tiên trên địa bàn Tỉnh Kon Tum, đưa ra dự báo một
cách khoa học, giúp cho địa phương điều hành có hiệu quả trong việc ban
hành, thực hiện các biện pháp hỗ trợ thành lập và phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn nhằm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân
trên địa bàn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu 3 chương, 9 tiết.
Chương 1: Doanh nghiệp nhỏ và vừa - sự cần thiết hỗ trợ của Nhà nước
đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và những giải
pháp hỗ trợ của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong thời gian qua.
Chương 3: Những giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.
6
Chương 1
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA - SỰ CẦN THIẾT HỖ TRỢ
CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một hoạt động hợp pháp nào trong
sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho
khách hàng và thu lợi nhuận, dù hoạt động đó chỉ là của một cá nhân, một hộ

nghiêp, DN nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; theo tính chất hoạt động
thì có DN hoạt động công ích (phi lợi nhuận) và DN kinh doanh (vị lợi); theo
hình thức sở hữu thì có DNNN, DNDD và DN có vốn đầu tư nước ngoài; theo
quy mô, mà chủ yếu là quy mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNNVV.
Các DNNVV là loại hình DN có số lượng áp đảo ở hầu hết các nước.
Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNNVV. Các định nghĩa này có
những điểm giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm được một định nghĩa
thống nhất, mặc dù ai cũng thống nhất rằng kinh doanh nhỏ và vừa thì khối
lượng công việc ít hơn, đơn giản hơn là kinh doanh ở các DN lớn.
Hiện nay, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới
quy mô DN ở các nước. Ở mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển
kinh tế cụ thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định.
Bảng 1.1 dưới đây cho thấy tình hình này.
Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước:
Lĩnh vực

Công nghiệp

Các nước
Mỹ
Nhật bản
CHLB Đức
Philippin
Đài Loan

DN vừa

Thương mại - Dịch vụ
DN nhỏ


Dưới 1 triệu DM

10-
- 10 tỷ đồng và có số lao động 200-500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn
dưới 5 tỷ đồng và có số lao động nhỏ hơn 200 người.
+ Trong ngành thương mại- dịch vụ: DNNVV là tổ chức có số vốn từ
5-10 tỷ đồng và có số lao động từ 50-100 người.
- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy
định rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động từ 500-1000
người, DN nhỏ là DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người [23];
- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng,
DN có vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có
vốn từ 1-10 tỷ đồng và có từ 100-500 lao động là DN vừa. Trong lĩnh vực
thương mại-dịch vụ, DN có vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng, lao động từ 50250 người là DN vừa…

Footer Page 8 of 166.


Header Page 9 of 166.
9
Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí về vốn đăng ký và số lao động
thường xuyên để xác định DNNVV vì tất cả các DN đều có thể xác định được
2 tiêu chí này. Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước
đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do
nhiều yếu tố và cũng khó xác định.
Để thống nhất tiêu chí xác định DNNVV, ngày 20/6/1998, Chính phủ
đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định các
DNNVV. Theo quy định này, DNNVV là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ
đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định tạm
thời này chỉ tồn tại khoảng 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, theo quy
định tại Nghị định này,
DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh

rất lớn DNNVV trong nền kinh tế đã tạo ra phần lớn việc làm cho xã hội. Mặt
khác, các DN loại này mang tính tư hữu cao, dễ dàng đa dạng hóa sản phẩm,
kể cả các mặt hàng mà các DN lớn không sản xuất. Sự lớn mạnh của các
DNNVV đã làm tăng thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp của
mỗi địa phương nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung.
DNNVV không chỉ trực tiếp tạo việc làm cho số lao động làm việc
thường xuyên ở các DN, mà còn tạo điều kiện để lao động ngoài DN có được
việc làm thông qua các hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra và phục
vụ sản xuất - kinh doanh. Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì DNNVV
luôn đóng vai trò quan trọng hơn các DN lớn, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái
kinh tế. Lịch sử phát triển kinh tế của các nước công nghiệp phát triển cũng
như ở Việt Nam trong thời kỳ đầu đổi mới đã cho thấy rằng: khi nền kinh tế
suy thoái, các DN lớn phải giảm lao động để giảm chi phí đến mức có thể tồn
tại được vì cầu của thị trường thấp hơn cung. Nhưng đối với các DNNVV do
đặc tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên
nó vẫn có thể hoạt động được. Do đó, các DNNVV không những không giảm
lao động mà còn có thể thu hút thêm lao động. Chính vì vậy, Hội đồng DN
nhỏ thế giới đã cho rằng: DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất
nghiệp khi nền kinh tế suy thoái [2]; [9].
Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao và không ổn định,
sức ép dân số, lao động, việc làm ở nông thôn chính là nguyên nhân của dòng
di dân từ nông thôn ra thành phố, gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Khu

Footer Page 10 of 166.


Header Page 11 of 166.
11
vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 26% lực
lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, nhưng triển vọng thu hút lao

Footer Page 11 of 166.


Header Page 12 of 166.
12
Với quy mô nhỏ và vừa, lại được thành lập phân tán ở hầu khắp các địa
phương, các khu vực, nên DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về
lao động, về nguyên vật liệu với trữ lượng hạn chế, không đáp ứng nhu cầu
sản xuất quy mô lớn, nhưng sẵn có ở địa phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc
phế liệu, phế phẩm của các DN lớn.
Thứ ba, các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các cơ sở SX-KD
và ngày càng gia tăng mạnh, tạo hiệu quả trong sản xuất thầu phụ.
Phần lớn các nước trên thế giới, số lượng các DNNVV chiếm khoảng
90% tổng số doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng số lượng các DNNVV nhanh hơn
số lượng các DN lớn. Các DNNVV hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành
công nghiệp, dịch vụ, từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành
công nghiệp kỹ thuật cao, tạo khả năng gia công, thầu phụ cho các doanh
nghiệp lớn.
Thứ tư, các DNNVV có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền
kinh tế.
Chúng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các
nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước. Riêng ở
Việt Nam, nếu chỉ tính các DN chính thức, mỗi năm các DNNVV đóng góp
khoảng 25% GDP của cả nước. Các DN này có nhiều thuận lợi trong việc
khai thác những tiềm năng phong phú trong dân… Nhiều sản phẩm thủ công
mỹ nghệ đặc trưng của từng địa phương đã nổi tiếng trong cả nước, một số đã
được xuất khẩu, được nước ngoài đánh giá cao. Nhiều ngành nghề truyền
thống đã được khôi phục và phát triển trong từng hộ gia đình, từng dòng họ,
hình thành tập trung trong các làng nghề, phát huy truyền thống dòng họ, làng
xã đặc trưng của nông thôn nước ta.

triển của DNNVV ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công
nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu
kinh tế quốc dân. Các DNNVV còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm
thay đổi và đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp.
Thứ bảy, các DNNVV góp phần dân chủ hóa nền kinh tế, duy trì sự tự
do cạnh tranh và có khả năng ứng biến nhanh nhạy.
DNNVV chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc
tập trung lực lượng kinh tế, lực lượng lao động. Sự phát triển không ngừng
của các DNNVV góp phần phân phối theo chiều hướng tương đối công bằng,
mặt khác huy động được nguồn sức lao động lớn trong xã hội vào hoạt động
sản xuất theo quy trình phân công lao động xã hội.

Footer Page 13 of 166.


Header Page 14 of 166.
14
Tự do kinh doanh là con đường tốt nhất để phát huy tiềm lực. Một quốc
gia muốn tạo nên các DNNVV đều phải có môi trường tự do cạnh tranh. Các
DN lớn thường cần những thị trường lớn, thường đòi hỏi phải có sự bảo hộ
của chính phủ và có xu hướng độc quyền. Còn ở DNNVV, tình trạng độc
quyền không xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận tự do kinh doanh. So với các DN
lớn, các DNNVV có tính tự chủ cao, không ỷ lại vào sự trợ cấp, bảo hộ của
Nhà nước, sẵn sàng khai thác các cơ hội để phát triển.
Thứ tám, các DNNVV là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp.
Các DNNVV góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện một đội ngũ
doanh nhân, ươm mầm các tài năng kinh doanh. Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là
nơi đào tạo, rèn luyện các nhà DN làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt
đầu từ kinh doanh qui mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy
mô vừa và nhỏ, một số nhà DN sẽ trưởng thành lên thành những nhà DN lớn,

thường sử dụng lao động thay thế cho vốn, thiết bị, đặc biệt đối với các nước
có nguồn lao động dồi dào với giá rẻ như ở nước ta.
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người sử dụng lao động và người
lao động. Do quy mô vừa và nhỏ, quan hệ giữa những người lao động và
người sử dụng lao động trong các DNNVV khá chặt chẽ, khoảng cách giữa
người sử dụng lao động và người lao động không lớn. Do vậy, nếu có xung
đột, mâu thuẫn cũng dễ dàng giải quyết.
- Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh. Các DNNVV thường không có
tình trạng độc quyền, họ dễ dàng và sẳn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh.
- Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong nước. Do
DNNVV có thể phát triển ở khắp mọi nơi, mọi vùng của đất nước, lấp vào
khoảng trống và thiếu vắng của các DN lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng
giữa các vùng.
- DNNVV gắn liền với các công nghệ trung gian, là cầu nối giữa công
nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại.
- Các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ,
thích ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
- DNNVV chỉ cần số vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh.
- Hệ thống tổ chức SX và quản lý ở các DNNVV gọn nhẹ, linh hoạt,
công tác điều hành mang tính trực tiếp. Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí
quản lý DN.

Footer Page 15 of 166.


Header Page 16 of 166.
16
- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc
không gây nên khủng hoảng kinh tế-xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng bởi
các cuộc khủng hoảng kinh tế dây chuyền [9]; [14].


Header Page 17 of 166.
17
kinh tế – xã hội. Đó là các hiện tượng trốn, lậu thuế, mua bán hàng nhái, hàng
giả, mua bán hóa đơn, gây ô nhiễm môi trường,..
Chính những hạn chế và tiêu cực nảy sinh trong quá trình hoạt động của
DNNVV đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, điều chỉnh và hỗ trợ của nhà nước đối
loại DN này [14].
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC

1.2.1. Sự cần thiết phải hỗ trợ
DNNVV, với những ưu thế và hạn chế đã nêu, nên khó có thể phát triển
nhanh và bền vững nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức hỗ trợ
khác. Vì thế, để phát huy vai trò tích cực của các DNNVV nhất thiết phải có
sự hỗ trợ các DN này trong quá trình hình thành và phát triển
1.2.2. Vai trò và nội dung chính sách hỗ trợ hiện hành của Nhà nước
Việt Nam đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1988) đã đánh dấu sự
chuyển hướng trong chính sách của Đảng và Nhà nước-đó chính là sự thừa
nhận kinh tế tư nhân; thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần được tồn tại
lâu dài, được phép kinh doanh các hàng hoá dịch vụ mà Nhà nước không
cấm. Tiếp theo đó là một loạt các văn kiện ra đời như: Nghị quyết 16 của
Bộ Chính trị (1988), Nghị định 27,28,29/HĐBT năm 1988 về kinh tế cá
thể, kinh tế hợp tác và hộ gia đình. Nghị định 66/HĐBT và gần đây là Nghị
định 02/CP về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định, các bộ luật như: Luật
Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp
nhà nước, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam và gần đây là Luật Doanh nghiệp 2005. Tất cả các văn bản
pháp lý đó đã tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý DNNVV; tổ chức cung cấp thông
tin về kinh tế, thị trường trong và ngoài nước, về chọn đối tác, tìm bạn hàng ở
trong nước và ngoài nước.
- Hoàn thiện một số chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện nay
của DNNVV như thị trường thông qua hợp đồng phụ, tăng sức mua của dân
cư, khuyến khích xuất khẩu, chính sách đất đai với đầy đủ quyền sử dụng để
yên tâm đầu tư lâu dài, hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng để khắc phục tình
trạng thế chấp cầm cố, ưu đãi về thuế đối với DNNVV mới khởi sự hoặc hoạt
động ở vùng khó khăn.

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.
19
- Hướng dẫn xây dựng những điều lệ mẫu về việc tổ chức các hiệp hội
ngành nghề của DNNVV đối với từng ngành từng lãnh vực, từng loại sản
phẩm. Khuyến khích việc hình thành các trung tâm hỗ trợ DNNVV lập
nghiệp chuyển giao công nghệ,vay vốn, hỗ trợ xã hội.
- Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy chế về liên kết,
hợp tác giữa các DN lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh với các DNNVV cùng
ngành nghề, kinh doanh cùng loại sản phẩm. Qua mối quan hệ hai chiều đó
mà nâng cao tính cộng đồng, bảo vệ được lợi ích quốc gia cũng như của từng
DN lớn và nhỏ trong hoạt động thị trường ở trong và ngoài nước, không xâm
phạm lợi ích của nhau.
- Xây dựng, ban hành quy chế về sự phối hợp với các ngành quản lý liên
quan, với các cơ quan chức năng về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp
hành pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNVV trong
từng ngành, từng lĩnh vực cũng như các quy chế về thưởng, phạt một cách
công bằng, nghiêm minh đối với quá trình hoạt động của DNNVV theo hướng

trong đó có các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp.
Bên cạnh Luật Doanh nghiệp, việc thực hiện khuyến khích đầu tư trong
nước cũng tạo điều kiện giúp các DNNVV phát triển mạnh trong thời gian qua.
Một văn bản pháp luật quan trọng thể hiên sự khuyến khích DNNVV ở
Việt Nam thời gian qua là Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001. Đây
là văn bản chính thức của Nhà nước khẳng định vai trò quan trọng của
DNNVV trong nền kinh tế và các chính sách trợ giúp DNNVVphát triển. Văn
bản này cũng đưa ra định nghĩa rõ ràng về DNNVV và thể hiện rõ Chính phủ
sẽ trợ giúp DNNVV phát triển thông qua các chương trình khác nhau. Nghị
định này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong chính sách của Chính
phủ trong việc khuyến khích sự phát triển của DNNVV. Chính sách này thể
hiện trên mấy khía cạnh sau đây [12].
- Khẳng định phương thức mới trong cơ chế khuyến khích DNNVV. Cụ

thể là cho các DNNVV được hưởng tất cả chính sách ưu đãi hiện hành đối với
các doanh nghiệp đầu tư SXKD theo đúng ngành nghề, kể cả ngành nghề
truyền thống, đồng thời được hưởng thêm các chính sách ưu đãi khác.
- Nhà nước đã đề cao chức năng của các hiệp hội doanh nghiệp trong
việc trợ giúp các DNNVV. Hiệp hội doanh nghiệp có vai trò là cầu nối giữa
doanh nghiệp và Nhà nước trong việc tham gia soạn thảo các văn bản qui
phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Footer Page 20 of 166.


Header Page 21 of 166.
21
- Nghị định này cũng đề cập đến việc thành lập “vườn ươm doanh
nghiệp” hình thức trợ giúp DNNVV trong bước khởi đầu, đây là nơi cung cấp
các kiến thức ban đầu về thành lập doanh nghiệp, tư vấn lựa chọn phương án

22
tư vấn về công nghệ kỹ thuật, cải tiến trang bị, hướng dẫn quản lý, bảo dưỡng
trang bị, tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận trang bị mới.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
143/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực
cho các DNNVV giai đoạn 2004-2008, triển khai xây dựng kế hoạch phát
triển DNNVV giai đoạn 2006-2010, tạo lập các mối quan hệ hợp tác với các
tổ chức, hiệp hội trong nước và ngoài nước.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 12/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 về chức năng nhiệm vụ của Hội
đồng và thành viên Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV. Hội đồng
khuyến khích phát triển DNNVV thực hiện chức năng tư vấn, giúp Thủ
Tướng chính phủ về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển DNNVV.
- Thủ tướng ban hành Chỉ thị 27/2003/CT-TTg về tiếp tục đẩy mạnh thực
hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển DNNVV.
Ngoài ra, hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan đã được ban hành
nhằm khuyến khích sự phát triển DNNVV ở Việt Nam. Đó là:
- Luật Lao động cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
quyền tuyển lao động trực tiếp thay cho việc phải thông qua các tổ chức trung gian.
- Các văn bản pháp luật liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá, cải
tiến thủ tục hải quan.
- Luật và các điều khoản liên quan đất đai và thủ tục cấp quyền sử dụng
đất, quy hoạch đô thị.
- Luật và các điều khoản liên quan đến các thủ tục chuyển nhượng tài
sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Các quy định hướng dẫn Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
- Các quy định khuyến khích xuất khẩu hàng hoá.
- Các quy định và các điều khoản liên quan đến việc miễn giảm thuế và
hàng loạt các quy định khác được ban hành bởi các bộ có liên quan.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn tạo điều kiện cho các tổ chức có khả năng

góp phần quan trọng trong việc tạo ra nguồn vốn cho DNNVV.
Hệ thống tài chính Philippine được chia thành hai bộ phận: một là hệ
thống các ngân hàng; hai là các tổ chức phi ngân hàng. Hệ thống ngân hàng
được chia thành 4 loại. Căn cứ vào tên gọi của chúng, người ta có thể biết
được mức độ dịch vụ và khả năng cho vay của ngân hàng đó. Đó là các ngân
hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng nông thôn và ngân hàng
nhà nước.

Footer Page 23 of 166.


Header Page 24 of 166.
24
Ba loại ngân hàng đầu tiên đều do tư nhân làm chủ và điều hành. Ngân
hàng Nhà nước – như ngân hàng nhà đất và ngân hàng phát triển của Philippine
– thường cho các dự án nông nghiệp và phi nông nghiệp vay; đó là các dự án
mà các ngân hàng tư nhân thường không cho vay vì mức độ rủi ro cao.
Khu vực phi ngân hàng bao gồm các công ty bảo hiểm, các tổ chức đầu
tư, các hoạt động ủy thác và các tổ chức tài chính trung gian khác, trong số đó
có cả các nhà đầu tư dưới dạng cho vay và các cửa hàng cầm đồ. Cũng giống
như đối với khu vực ngân hàng, chính phủ chỉ trực tiếp tham gia vào các
nghiệp vụ đặc biệt như dành các hạn ngạch tín dụng cho các hoạt động tín
dụng qui mô nhỏ của các tổ chức tư nhân hay các tổ chức phi chính phủ.
Khu vực tài chính ở Philippine trong những năm thập kỷ 90 nắm giữ
khoảng 1,3 ngàn tỷ pêso (tương đương khoảng 38 tỷ USD), trong đó có một
ngàn tỷ nằm trong hệ thống ngân hàng, phần còn lại nằm trong các tổ chức
phi tài chính.
Khảo sát của các tổ chức nghiên cứu Philippine cho thấy, có khoảng 20%
trong tổng số mà khu vực này nắm giữ là dành cho các DNNVV. Con số này
chưa tính đến số vốn khá lớn do các nhà cho vay không chính thức đầu tư vào

Khả năng tiếp cận với các nguồn vốn trở nên dễ dàng hơn, tuy nhiên đã
hình thành sự cạnh tranh do có quá nhiều ngân hàng ở cùng một địa phương.
Các chương trình tài trợ cho DNNVV:
Ở Philippine, nhiều kế hoạch tài chính cho DNNVV đã được đưa ra.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Philippine thống kê được 156 chương
trình tín dụng cho DN nhỏ. Những chương trình tín dụng này thuộc các tổ
chức của cả Chính phủ và tư nhân, trong đó có cả các tổ chức phi Chính phủ.
Nhìn chung, các chương trình ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định
của các DNNVV. Số lượng đông đảo các chương trình như vậy đã chỉ ra mức
độ quan tâm của các tổ chức Chính phủ và tư nhân.
Dịch vụ của các chương trình này gồm cả các dự án cho vay trực tiếp đến
bảo lãnh tín dụng. Có những chương trình dành cho tất cả DNNVV; có những
chương trình chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ hoặc hộ kinh doanh, hoặc tổ hợp
kinh doanh...
Khả năng tiếp cận của DNNVV đến các nguồn tài chính:
Hiện nay mức độ sẵn có của các nguồn vốn cho các DNNVV không còn
là vấn đề ở Philippine nữa. Điều cần quan tâm là xem xét khả năng tiếp cận
các nguồn tín dụng này của DNNVV.

Footer Page 25 of 166.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status