Header Page 1 of 113.
Trang 1
Mã số: 46
MỐI QUAN HỆ GIỮA BIẾN ĐỘNG TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ KIM NGẠCH
XUẤT KHẨU VIỆT NAM BẰNG
CÁCH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
ARDL
Footer Page 1 of 113.
Header Page 2 of 113.
Trang 1
TÓM TẮT BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu của tôi nhằm mục đích kiểm tra thực nghiệm tác động của sự
biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam, bằng cách sử dụng
phương pháp kiểm định giới hạn ARDL, được đề xuất đầu tiên bởi Pesaran và các
cộng sự năm 2001. Sử dụng chuỗi dữ liệu hàng quý, các phân tích thực nghiệm
được tiến hành trong khoảng thời gian từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2013. Các
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm và có ý nghĩa thống kê lên kim ngạch xuất khẩu. Điều này hàm
ý rằng một sự gia tăng trong biến động tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm kim ngạch xuất
khẩu tại Việt Nam. Tuy nhiên mối quan hệ này trong ngắn hạn lại không có ý nghĩa
thống kê. Bên cạnh đó, các kết quả cũng cho thấy GDP Việt Nam cũng như GDP
thế giới có tác động tương quan dương lên kim ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn
và dài hạn. Ngoài ra tỷ giá hối đoái thực có tác động tương quan âm và có ý nghĩa
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 15
3.2 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN......................................................................... 16
3.2.1 Biến phụ thuộc ............................................................................................... 16
3.2.2 Biến độc lập ................................................................................................... 16
3.2.3 Dữ liệu ........................................................................................................... 16
3.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN ............................................................................................ 18
3.3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu. ......................................................... 18
3.3.2 Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến ................................................... 19
3.3.3 Ước lượng phương trình trong dài hạn bằng mô hình ARDL ....................... 21
3.3.4 Ước lượng phương trình trong ngắn hạn bằng mô hình ARDL .................... 21
3.3.5 Kiểm tra tính ổn định của các hệ số trong dài hạn và ngắn hạn ................... 22
CHƯƠNG 4 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 22
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NGHIỆM TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI DỮ LIỆU ................................ 22
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH ĐỒNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC BIẾN....................................... 27
KẾT QUẢ UỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH DÀI HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL ........... 30
KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH NGẮN HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL ....... 33
MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC HỆ SỐ ƯỚC LƯỢNG ........................................................ 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN- HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU ................................. 37
PHỤ LỤC BẢNG ............................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................. 50
Footer Page 3 of 113.
Footer Page 4 of 113.
Header Page 5 of 113.
Trang 1
Chương 1 Giới thiệu đề tài
1.1
Lý do chọn đề tài
Tỷ giá hối đoái ngày càng có có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của toàn
thế giới. Cũng giống như giá cả, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới những
biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nó
có thể làm thay đổi vị thế kinh tế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Từ đó cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái luôn đóng một vai trò then chốt
trong việc quyết định đến tình trạng ổn định kinh tế mỗi quốc gia, nó không những
tác động đến sự cân bằng trong cán cân thanh toán của một nước, mà còn có thể
kích thích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu.
Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn gắn liền
với tự do hóa thương mại. Chính vì điều đó đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
diễn ra mạnh mẽ và góp phần ngày càng lớn vào cán cân thương mại mỗi nước, đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình
hội nhập cũng mang lại nhiều thách thức, trong đó có một yếu tố cực kỳ đáng quan
tâm là sự biến động tỷ giá hối đoái ngày càng phức tạp và khó lường trước được.
Hơn nữa đối với Việt Nam, khi xuất khẩu hàng hóa chúng ta sẽ thu về đồng ngoại
tệ, không giống như nhiều quốc gia phát triển, đồng tiền mà họ nhận được khi xuất
khẩu chính là đồng nội tệ. Dẫn đến rủi ro mà chúng ta phải gánh chịu do sự biến
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm trả lời cho các câu hỏi sau: Liệu sự biến động tỷ giá hối
đoái có tác động lên kim ngạch xuất khẩu hay không? Và nếu có thì nó tác động
như thế nào? Để trả lời cho các câu hỏi này, tôi lần lượt giải quyết các vấn đề sau:
- Liệu kim ngạch xuất khẩu có mối quan hệ với sự biến động tỷ giá hối đoái,
tỷ giá hối đoái thực, GDP của Việt Nam và GDP của thế giới hay không?
- Nếu có mối quan hệ trên thì:
Sự biến động tỷ giá hối đoái, tỷ giá hối đoái thực, GDP trong nước và
GDP thế giới có tác động như thế nào đến kim ngạch xuất khẩu trong
ngắn hạn?
Sự biến động tỷ giá hối đoái, tỷ giá hối đoái thực, GDP trong nước và
GDP thế giới có tác động như thế nào đến kim ngạch xuất khẩu trong
dài hạn?
1.3
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng, bằng cách sử dụng
phương pháp kiểm định giới hạn phân bố trễ tự hồi quy (ARDL). Phương pháp này
nhằm mục đích ước lượng mối quan hệ giữa biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch
xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn.
1.4
Footer Page 6 of 113.
Bố cục bài nghiên cứu
khẩu và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế cả trong ngắn hạn
và dài hạn.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn giúp cho bản thân những doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở từng quốc gia có thể chủ động đưa
ra cho mình những biện pháp đối phó với sự biến động tỷ giá ngày càng
phức tạp như hiện nay. Bằng cách tham gia vào các hợp đồng quyền
chọn, giao sau,…Từ đó giúp gia tăng lợi ích kinh tế và đem lại nguồn
lợi nhuận ổn định hơn cho mỗi doanh nghiệp.
Footer Page 7 of 113.
Header Page 8 of 113.
Trang 4
Những tác động của các biến số kinh tế vĩ mô khác như: GDP trong
nước, GDP thế giới cũng giúp cho các nhà xuất khẩu nhận ra các dấu
hiệu tích cực, hay tiêu cực trong hoạt động xuất khẩu. Để từ đó có thể
chủ động đưa ra kế hoạch sản xuất cho phù hợp với nhu cầu.
Chương 2 Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về tác động
của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu
2.1
Các bài nghiên cứu về tác động của sự biến động tỷ giá
hối đoái lên hoạt động xuất khẩu ở các nước phát triển
Đầu tiên, có thể kể đến bài nghiên cứu vào năm 1978 của Hooper và
Kohlhagen với tựa đề: “The effect of exchange rate uncertainty on the price and
volume of international trade”. Nội dung bài nghiên cứu này nhằm phân tích tác
động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên khối lượng mậu dịch và giá cả hàng hóa
của chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Như vậy về kích thước mẫu trong bài nghiên cứu
này đã gia tăng so với bài nghiên cứu trước đây, làm cho các kết quả thống kê có ý
nghĩa hơn. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Do đó chuỗi dữ
liệu của từng biến được nghiên cứu đều được kiểm định tính dừng bằng phương
pháp ADF. Sau đó là kiểm định tính đồng liên kết và ước lượng mối quan hệ trong
ngắn hạn giữa biến động tỷ giá hối đoái và dòng chảy thương mại của các nước G7. Như vậy ta có thể nhận thấy bài nghiên cứu này đã khắc phục được nhiều nhược
điểm mà các bài nghiên cứu trước đây đã thực hiện về mặt kỹ thuật. Cụ thể là nó đã
góp phần tránh hiện tượng “ Hồi quy giả mạo”, bởi vì trước khi đi vào kiểm định
mối quan hệ, bài nghiên cứu đã sử dụng kiểm định tính dừng của từng chuỗi dữ
liệu. Sau đó lại xét tính đồng liên kết, để đưa ra nhận định về tồn tại mối quan hệ
dài hạn giữa các biến. Đây cũng là một điểm mới so với các bài nghiên cứu trước.
Các kết quả của mô hình ECM cho thấy rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm lên khối lượng xuất khẩu ở các nước G-7. Nguyên nhân được
giải thích trong bài nghiên cứu là những người tham gia thị trường đều e sợ rủi ro,
do đó tỷ giá hối đoái biến động là nguyên nhân làm giảm giao dịch của họ, cũng
như làm thay đổi cung cầu để tối thiểu hóa rủi ro này. Bên cạnh đó, các nhà giao
dịch có thể tạm thời chuyển hướng sang thị trường trong nước thông qua việc mở
rộng khu vực thị trường mục tiêu của mình.
Bài nghiên cứu vào năm 1994 của Quian và Varangis, với tựa đề: “Does
exchange rate volatility hinder export growth?”. Bài nghiên cứu đã kiểm tra tác
động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên hoạt động thương tại 6 nước: Canada,
Nhật Bản, Úc, Thụy Điển, Hà Lan và Anh, trong đó ước lượng cho cả xuất khẩu
song phương và đa phương. Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy theo tháng, từ
tháng 1-1973 đến tháng 12-1990, nhưng vì bài nghiên cứu sử dụng độ trễ, nên các
ước lượng nằm trong giai đoạn từ tháng 1-1974 đến tháng 12-1990. Như vậy so với
Footer Page 9 of 113.
Header Page 10 of 113.
quý 3 năm 1993. Bài nghiên cứu này sử dụng một kỹ thuật kinh tế hiện đại của
chuỗi thời gian để ước lượng hàm nhu cầu xuất khẩu trong cả dài hạn và ngắn hạn ở
Ireland. Đó là kỹ thuật đồng liên kết để kiểm định liệu có sự tồn tại mối quan hệ
Footer Page 10 of 113.
Header Page 11 of 113.
Trang 7
trong dài hạn giữa các biến và mô hình ECM để ước lượng các hệ số trong ngắn
hạn. Bài nghiên cứu này cải thiện so với các bài nghiên cứu trước ở chỗ nó đã ước
tính hàm nhu cầu xuất khẩu ở Ireland theo một vài cách. Đó là nhóm tác giả đã có
một phương pháp đo lường biến động tỷ giá hối đoái để điều tra tác động lên kim
ngạch xuất khẩu. Lựa chọn này là hợp lý bởi vì một sự gia tăng trong biến động của
tỷ giá hối đối của đồng bảng Anh theo sau sự sụp đổ trong sự liên kết tương ứng
giữa 2 đồng tiền vào lúc bắt đầu của hệ thống tiền tệ châu Âu. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng khối lượng xuất khẩu khá nhạy cảm với sự thay đổi trong thu
nhập và giá cả tương đối, cụ thể là trong dài hạn. Với mối quan hệ tác động của sự
biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu, các kết quả cũng chỉ ra rằng mối
quan hệ này trong dài hạn là không có ý nghĩa, nhưng trong ngắn hạn sự biến động
tỷ giá hối đoái và sự không chắc chắn liên quan có một tác động tương quan âm lên
kim ngạch xuất khẩu thực.
Bài nghiên cứu vào năm 2001 của Aristotelous (2001): “ Exchange-rate
volatility, exchange-rate regime, and trade volume: evidence from the UK-US
export function (1889-1999)”. Nội dung bài nghiên cứu này nhằm điều tra tra tác
động của sự biến động tỷ giá hối đoái và chế độ tỷ giá lên xuất khẩu từ Anh sang
Mỹ, sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ năm 1889-1999. Bài nghiên cứu sử dụng
mô hình hấp dẫn tống quát. So với bài nghiên cứu của Quian và Varangis năm 1994
chỉnh sai số và kỹ thuật đồng liên kết để ước lượng mối quan hệ đồng liên kết và
các biến động trong ngắn hạn tương ứng. Khác với phương pháp thống kê sử dụng
để đo lường sự biến động tỷ giá hối đoái trong các bài nghiên cứu trước, trong bài
nghiên cứu này tác giả đã ước tính biến động tỷ giá hối đoái bằng 2 cách. Đầu tiên
là sự biến động tỷ giá hối đoái xoay quanh xu hướng được dự báo của nó và cách
thứ hai là đo lường bằng độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi trong tỷ giá hối đoái
thực. Từ đó cho thấy một phương pháp đo lường đầy đủ sự biến động của tỷ giá hối
đoái thực, như là một sự đại diện cho rủi ro tỷ giá. Các kết quả nghiên cứu cho thấy
sự biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu thực tại Thổ Nhĩ Kỳ có mối
quan hệ tương quan âm và có ý nghĩa thống kê trong dài hạn đối với Đức, Pháp và
Mỹ. Ngoài ra, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động tương quan âm trong ngắn
hạn lên xuất khẩu với Đức. Đối các quốc gia còn lại, tác động trong ngắn hạn đều
không có ý nghĩa thống kê. Theo quan điểm của tác giả việc tận dụng tỷ giá kỳ hạn
của thị trường phòng ngừa rủi ro tỷ giá, có thể làm cho sự biến động là một nhân tố
ít tác động lên xuất khẩu thực đối với các quốc gia này trong ngắn hạn. Cuối cùng,
những nhà hoạch định chính sách nên xem xét sự tồn tại cũng như mức độ tác động
của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu thực, để từ đó đưa ra các
chính sách cho phù hợp.
Bài nghiên cứu cũng vào năm 2002 của Baak, Al- Mahmood và Vixathep với
tựa đề: “Exchange Rate Volatility and Exports from East Asian Countries to
Footer Page 12 of 113.
Header Page 13 of 113.
Trang 9
Japan and U.S”. Nội dung bài nghiên cứu nhằm điều tra tác động của sự biến động
tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu tại 4 quốc gia Đông Á gồm Hồng Kông,
Footer Page 13 of 113.
Header Page 14 of 113.
Trang 10
cứu trong bài này khắc phục được rất nhiều nhược điểm so với các bài nghiên cứu
trước. Cụ thể như khắc phục được kích thước mẫu nhỏ, có thể ước lượng các hệ số
cả trong ngắn hạn và dài hạn,… Điều này tôi sẽ thể hiện rõ hơn trong phần phương
pháp nghiên cứu mà tôi sẽ đề cập đến trong phần 3. Kết quả của bài nghiên cứu cho
thấy kim ngạch xuất khẩu của Anh đến 14 nước trong EU, cả theo ngành và tổng
hợp các ngành nhìn chung đều không bị ảnh hưởng bởi sự biến động tỷ giá hối đoái
trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn thì sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm và có ý nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu từ Anh sang các nước
EU.
Thông qua các bài nghiên cứu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự
biến động tỷ giá hối đoái luôn là vấn đề được xem xét và đáng quan tâm ở các quốc
gia phát triển. Mặc dù đối với các quốc gia này, sự tác động có thể có ý nghĩa thấp
hơn so với các quốc gia đang phát triển. Nguyên nhân là vì ở các nước phát triển,
hầu hết khi xuất khẩu hàng hóa, đồng tiền mà họ nhận về chính là đồng nội tệ, ví dụ
như USD, GBP,... Do đó một khi sự biến động tỷ giá hối đoái xảy ra, rủi ro mà nhà
xuất khẩu nhận lấy thấp hơn nhà nhập khẩu- là đối tác của họ. Nhà nhập khẩu lúc
này là người nhận hàng hóa, và chịu trách nhiệm về toàn bộ khối lượng hàng cho
đến khi phân phối nó đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, khi hàng hóa nhập khẩu là những mặc hàng tiêu dùng thiết yếu thì rủi
ro của nhà nhập khẩu do sự biến động tỷ giá sẽ giảm xuống. Bên cạnh đó, cũng có
trường hợp khi đồng tiền thanh toán cho nhà xuất khẩu không phải là đồng nội tệ thì
nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu đều phải đối mặt với rủi ro biến động tỷ giá hối
đoái.
hối đoái ở Úc, Singapore và Anh chỉ được quan sát trong dài hạn. Tuy nhiên, đối
với các quốc gia như Bangladesh và Malaysia thì không có mối quan hệ thực
nghiệm được quan quan sát giữa tăng trưởng xuất khẩu và biến động tỷ giá hối đoái.
Bài nghiên cứu của Rey vào năm 2006: “Effective Exchange Rate Volatility
and MENA countries Exports to the EU”. Bài nghiên cứu này kiểm tra tác động
của sự biến động tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu của 6
quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) đến 15 nước thành viên của EU, trong
giai đoạn từ quý 1 năm 1970 đến quý 4 năm 2002. Như vậy so với bài nghiên cứu
trước, bài nghiên cứu này đã mở rộng thời gian quan sát hơn. Bài nghiên cứu sử
dụng mô hình ECM và mô hình ARCH để đo lường biến động trong cả ngắn hạn và
dài hạn. Để phân tích điều tác động này, tác giả đã xây dựng 4 phương pháp đo
lường sự biến động, đó là độ lệch chuẩn trung bình di động và độ lệch chuẩn theo
thời gian, cho cả tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa. Đây cũng là một ưu điểm so
với bài nghiên cứu của Mustafa và Nishat năm 2004. Các kết quả dựa trên kiểm
định đồng liên kết chỉ ra rằng kim ngạch xuất khẩu thực đồng liên kết với giá cả
tương đối, GDP của châu Âu và sự biến động tỷ giá hối đoái. Bên cạnh đó, trong
dài hạn khối lượng xuất khẩu có tương quan âm với biến động tỷ giá hối đoái đối
với Algeria, Ai Cập, Tunisia và Turkey, trong khi lại tương quan dương với
Footer Page 15 of 113.
Header Page 16 of 113.
Trang 12
Morocco và Israel. Bài nghiên cứu còn cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có ý
nghĩa trong hầu hết các trường hợp, nhưng các hệ số tương quan âm hay dương lại
phụ thuộc vào sự biến động đó là thực hay danh nghĩa và ở quốc gia nào. Do đó, tác
giả đã chỉ ra rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động lên kim ngạch xuất khẩu
Header Page 17 of 113.
Trang 13
của 5 quốc gia mới nổi thuộc Đông Á, cũng như với 13 nước công nghiệp khác. Dữ
liệu được lấy là dữ liệu bảng, trong khoảng thời gian 25 năm, từ quý 1 năm 1982
đến quý 4 năm 2006. So với các bài nghiên cứu trước, cấu trúc dữ liệu bảng khi
nghiên cứu tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu là
khá mới. Bằng việc sử dụng mô hình hấp dẫn tổng quát, mô hình mà có sự kết hợp
giữa mô hình truyền thống về nhu cầu xuất khẩu dài hạn với các biến kiểu hấp dẫn.
Một điểm mới trong bài nghiên cứu này là các kết quả thực hiện thông qua các kỹ
thuật hồi quy khác nhau dường như không phụ thuộc vào các biến được chọn để đại
diện cho sự không chắc chắn của tỷ giá hối đoái. Bên cạnh đó vấn đề của sai số
đồng thời và phương sai thay đổi có thể có được giải quyết bằng việc sử dụng kỹ
thuật ước lượng GMM- IV. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị và đồng liên kết được
sử dụng đã xác nhận mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Ngoài ra các kết quả còn
cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có một tác động tương quan âm lên kim ngạch
xuất khẩu của các nước mới nổi Đông Á. Từ đó bài nghiên cứu đưa ra một đề xuất
rằng các quốc gia nên tập trung vào sự ổn định hóa tỷ giá hối đoái của mình đối với
các đối tác thương mại chủ yếu, thay vì chỉ theo đuổi quá trình hợp tác tiền tệ và
chính sách tỷ giá hối đoái khu vực.
Bài nghiên cứu của Musonda năm 2008: “Exchange rate volatility and NonTraditional exports performance: Zambia, 1965- 1999”. Bài nghiên cứu nhằm
kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái thực lên thành quả xuất khẩu phi
truyền thống của Zambia, từ năm 1965-1999. Bằng cách sử dụng mô hình GARCH
để đo lường biến động tỷ giá hối đoái tương tự như cách tiếp cận của nhiều bài
nghiên cứu khác. Các kết quả chỉ ra rằng sự biến động tỷ giá hối đoái làm giảm kim
ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh đó cũng cho thấy các nhân
tố kinh tế vĩ mô tích cực cũng góp phần quan trọng trong việc tăng cường kim
ngạch xuất khẩu của quốc gia.
theo quý cho 15 quốc gia, theo giai đoạn từ quý 1 năm 1995 đến quý 1 năm 2011.
Dữ liệu trong bài nghiên cứu này cũng là kiểu dữ liệu bảng, giống với bài nghiên
cứu của Chit, Rizov và Willenbokel năm 2008. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình
mậu dịch song phương, trong đó có dùng hàm ước lượng nhóm trung bình có trọng
số của Pesaran và Smith (1995) để có ước tính trực tiếp của khoản thu nhập và sự
biến động tỷ giá hối đoái dài hạn. Bài nghiên cứu cũng sử dụng kỹ thuật đồng liên
kết để kiểm tra mối có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến hay không.
Cũng như sử dụng mô hình GARCH để có được ước lượng sự biến động tỷ giá hối
đoái chính xác hơn. Bên cạnh đó bài nghiên cứu uớc lượng cho cả các hệ số trong
ngắn hạn cũng như dài hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự giảm xuống trong tỷ
giá hối đoái thực có mối quan hệ tương quan dương với cán cân thương mại trong
dài hạn. Cùng trong thời gian đó, cũng trong dài hạn, sự biến động tỷ giá hối đoái
có mối quan hệ tương quan âm với cán cân thương mại của Ấn Độ.
Footer Page 18 of 113.
Header Page 19 of 113.
Trang 15
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
3.1
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tôi sử dụng phương pháp kiểm định giới hạn phân bố trễ tự
hồi quy (ARDL). Cách tiếp cận mô hình ARDL được giới thiệu đầu tiên bởi
Pesaran và Shin năm 1999, sau đó tiếp tục được mở rộng thêm bởi Pesaran và các
cộng sự vào năm 2001. Mô hình này được phát triển dựa trên cơ sở ước lượng của
3.2
Trang 16
Phương pháp đo lường các biến
3.2.1 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu là kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
(EP). Đơn vị tính: Triệu USD.
3.2.2 Biến độc lập
Bài nghiên cứu gồm 5 biến độc lập như sau:
-
GDP của Việt Nam (G). Đơn vị tính: Tỷ VND.
-
Tỷ giá hối đoái thực của VND/USD (RER), được tính theo công thức sau:
Trong đó:
NRE là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa VND và USD.
CPIMỹ, CPIVN lần lượt là chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ và của Việt Nam.
-
Biến động tỷ giá hối đoái của VND so với USD (V). V được tính theo công
thức sau:
∑
Trong đó:
-
GDP của Việt Nam được lấy từ 2 nguồn:
Dữ liệu từ quý 3 năm 1999 đến quý 4 năm 2004 tôi lấy từ nguồn dữ
liệu của tổng cục thống kê3. (Bảng 3- Phụ lục)
Từ quý 1 năm 2005 đến quý 2 năm 2013 được lấy từ phần dữ liệu vĩ
mô của trang web: Vietstock.vn . (Bảng 4- Phụ lục)
Ngoài ra, GDP của Việt Nam vào quý 3 năm 2013, cũng được tôi
tham khảo từ số liệu của tổng cục thống kê4.
-
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa từ quý 2 năm 1999 đến quý 2 năm 2013 được lấy
từ IMF (Bảng 5- Phụ lục). Do sự biến động tỷ giá hối đoái thực được tính
theo phương phương pháp bình quân, nên tôi phải lấy thêm tỷ giá hối đoái
vào quý 2 năm 1999 và quý 4 năm 2013. Trong đó tỷ giá hối đoái vào quý 3,
quý 4 năm 2013 được lấy từ dữ liệu của ngân hàng nhà nước Việt Nam5.
-
CPI của Mỹ (Bảng 6- Phụ lục) và CPI của Việt Nam (Bảng 7- Phụ lục)
cũng được lấy từ IMF. Trong đó CPI được tính theo cách lấy năm 2005 làm
năm gốc.
-
Tốc độ tăng trưởng GDP thế giới từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2013 lấy
từ IMF6 (Bảng 8- Phụ lục).
Quy trình thực hiện
3.3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu.
Gồm kiểm định tính dừng của các biến LEP, LG, LRER, LV và LWG. Trong
đó, một chuỗi dữ liệu được coi là dừng khi chúng có các đặc điểm sau:
-
Chúng thể hiện xu hướng trở lại trạng thái trung bình theo một cách mà trong
đó dữ liệu dao động xung quanh một giá trị trung bình cố định trong dài hạn.
-
Có một giá trị phương sai xác định không thay đổi theo thời gian.
-
Có một giản đồ tự tương quan với các hệ số tự tương quan sẽ giảm dần khi
độ trễ tăng lên.
Nguyên nhân mà tôi phải kiểm định tính dừng của các biến là vì nếu như
chuỗi thời gian của tôi không dừng, tôi chỉ có thể nghiên cứu hành vi của nó trong
một khoảng thời gian được xem xét. Vì thế mỗi mẫu dữ liệu thời gian sẽ mang một
tình tiết nhất định. Kết quả là tôi không thể khái quát hóa cho các giai đoạn khác,
dẫn đến các chuỗi không dừng như vậy sẽ không có giá trị thực tiễn khi dự báo.
Hơn nữa, đối với phân tích hồi quy, nếu chuỗi thời gian không dừng thì tất cả các
kết quả điển hình của một phân tích hồi quy sẽ không có giá trị và được gọi là “Hồi
quy giả mạo”. Thứ 2, khi biết dữ liệu là dừng hay không dừng, chúng ta sẽ giới hạn
được một số mô hình phù hợp nhất cho dữ liệu.
Có một vài phương pháp để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu như: Giản
tra
bảng thì ta bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là chuỗi dữ liệu của các biến là chuỗi dừng.
Nếu tất cả các biến đều dừng ở I(1) hoặc I(0), ta sẽ chuyển sang bước 2.
3.3.2 Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến
Chúng ta kiểm định đồng liên kết thông qua việc ước lương phương trình sau:
∑
∑
∑
∑
∑
(1)
Trong đó:
-
là các hệ số nhân dài hạn.
-
là các hệ số nhân trong ngắn hạn.
là phần nhiễu trắng.
Phương trình trên được ước lượng bằng phương pháp OLS để kiểm tra liệu có
Trong bài nghiên cứu của tôi gồm có 5 biến, tương ứng tôi sẽ dò tìm phạm vi
giá trị F tại hàng K = 5, như vậy với mức ý nghĩa 1% giá trị F nằm trong khoảng
2.82- 4.21, mức ý nghĩa 5% nằm trong khoảng 2.14- 3.34 và với mức ý nghĩa 10%
sẽ thuộc phạm vi từ 1.81- 2.93.
Footer Page 24 of 113.
Header Page 25 of 113.
Trang 21
Nếu như kết quả kiểm định trên xác nhận có mối quan hệ đồng liên kết giữa
các biến, tôi sẽ sử dụng phương pháp ARDL để lựa chọn độ trễ tối ưu cho các biến
khi xét mối quan hệ trong cả ngắn hạn và dài hạn.Trong đó, các độ trễ tối ưu sẽ
được lựa chọn thông qua một số tiêu chuẩn như SC (BIC), HQ, AIC hay chúng ta
có thể tự chọn độ trễ cho các biến sao cho phù hợp. Tuy nhiên, tôi sử dụng tiêu
chuẩn AIC để xác định độ trễ tối ưu của các biến trong bài nghiên cứu này, vì tiêu
chuẩn AIC là tiêu chuẩn thường được ưu tiên sử dụng nhiều nhất trong xác định độ
trễ của chuỗi thời gian.
Nếu như giữa các biến có mối quan hệ đồng liên kết thì ta chuyển sang bước 3
và bước 4.
3.3.3 Ước lượng phương trình trong dài hạn bằng mô hình ARDL
Phương trình dài hạn như sau:
∑
∑