Sáng kiến kinh nghiệm trang bị cho học sinh trung học cơ sở tri thức văn học sử để khám phá vẻ đẹp văn học nghệ thuật - Pdf 41

Sáng kiến kinh nghiệm_Vi Thị Huệ
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Mở đầu bài tiểu luận “ Tiếng nói văn nghệ”- 1948, Nguyễn Đình Thi đã
viết: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực
tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì
mới mẻ”. Tác giả khẳng định các tác phẩm nghệ thuật đều lấy chất liệu từ hiện
thực khách quan của đời sống. Đó là những sự việc, những câu chuyện mà tác giả
từng nghe hoặc chứng kiến, nhưng khi đưa vào tác phẩm, tác giả đã có sự lựa
chọn, sắp xếp theo mục đích của mình chứ không phải là sự sao chép giản đơn,
“chụp ảnh” nguyên xi thực tại ấy. Nội dung của tác phẩm văn nghệ thường là các
vấn đề chủ yếu trong xã hội. Khi sáng tạo một tác phẩm, dù chất liệu chỉ là những
câu chuyện về những con người sống ở ngoài đời nhưng nghệ sĩ đã gửi vào đó một
cái nhìn, một lời nhắn nhủ của riêng mình. Đó là tư tưởng, tấm lòng của người
nghệ sĩ. Đó là cách giải quyết các vấn đề mà tác giả đề cập đến trong tác
phẩm. Qủa đúng như vậy, văn học nghệ thuật có chức năng phản ánh hiện thực
cuộc sống xã hội. Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn. Tác
phẩm được viết ra thời đại nào thường mang dấu ấn lịch sử và những biến động xã
hội của thời đại đó. Vì vậy trong quá trình dạy tác phẩm văn học chúng ta cần chú
trọng trang bị cho học sinh những tri thức về văn học sử để khám phá vẻ đẹp của
văn học nghệ thuật. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy ở học sinh
THCS các em khá thờ ơ với hoàn cảnh lịch sử cũng như thời gian tác phẩm văn
học ra đời, bởi vậy mà khả năng cảm thụ tác phẩm văn học và kĩ năng nghị luận
văn học chưa có chiều sâu. Để nghiên cứu, tìm tòi cách dạy hữu hiệu, cách truyền
cảm hứng văn chương tới các em, giúp các em học tốt hơn, cảm thụ tốt hơn các tác
phẩm văn học tôi đã thực hiện đề tài sáng kiến cải tiến kỹ thuật: Trang bị cho học
sinh trung học cơ sở tri thức văn học sử để khám phá vẻ đẹp văn học nghệ
thuật.
2. Mục đích nghiên cứu.
Văn học có một ưu thế đặc biệt là văn học tác động trước nhất vào tình
cảm, vào nhận thức của con người. Mà sự tác động này lâu dài nhất và bền chặt

lượng thông tin lớn gắn với nhiều thành phần kiến thức liên ngành và liên môn.
Chính vì vậy, thường khô khan và khó tiếp thu hơn so với các bộ phận tri thức
khác.
2. Cơ sở thực tiễn: (Thực trạng vấn đề dạy – học ngữ văn ở trường
THCS xã Minh Sơn)
2.1. Kết quả khảo sát
* Tình hình dạy các tiết văn học


- Khi giảng các tác phẩm văn học, một số giáo viên thường không chú tâm
vào các bài khái quát, các phần mục tìm hiểu tác giả, tác phẩm, hoặc nhắc đến một
cách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản và cũng không phục vụ cho
việc đọc - hiểu văn bản. Bản thân người dạy cũng chưa thấy hết được mối quan hệ
gắn bó chặt chẽ, tác động lẫn nhau giữa tri thức văn học sử với tri thức đọc - hiểu
tác phẩm văn học. Chưa xác định đúng vai trò của tri thức văn học sử trong dạy
đọc - hiểu tác phẩm văn học nên một số giáo viên thường có xu hướng tách rời
văn bản ra khỏi sợi dây liên hệ với yếu tố bên ngoài tác phẩm như: tác giả, hoàn
cảnh sáng tác, bối cảnh xã hội...; chỉ chú trọng đi sâu tìm hiểu nội dung, hình thức
bên trong văn bản.
- Bên cạnh đó, sức ép của thời gian so với dung lượng kiến thức quá lớn mà
giáo viên phải thực hiện trong giờ đọc - hiểu cũng là một trở ngại không nhỏ đối
với việc vận dụng tri thức văn học sử. Không những thế, so với các môn học khác
trong nhà trường, đồ dùng dạy học của môn Ngữ văn rất ít ỏi và không phong phú:
Thường chỉ một vài bức tranh minh họa tác phẩm, tranh chân dung một số tác giả
lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh,...
- Mặt khác, tài liệu tham khảo môn Ngữ văn trong nhà trường rất hạn hẹp,
hầu hết chỉ trang bị cho người dạy SGK và sách giáo viên, thiếu các tài liệu nghiên
cứu, hướng dẫn về phương pháp cần thiết. Do vậy đã hạn chế tầm nhận thức và
phương pháp dạy học của giáo viên trong giảng dạy.

25 = 52,1%

6 = 12,5%

- Đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 gồm 4 em
Từ cơ sở thực tiễn trên, tôi nhận thấy để góp phần nâng cao chất lượng bộ
môn Ngữ văn đồng thời cung cấp cho học sinh những kiến thức văn học sử cơ
bản nhằm giúp học sinh yêu thích và cảm thụ đúng nội dung, ý nghĩa tác phẩm
văn học nghệ thuật. Vì vậy, trong các giờ dạy Ngữ văn cần giúp học sinh nắm bắt
kiến thức văn học sử. Dạy để học sinh nắm được hoàn cảnh xã hội mà tác phẩm đó
ra đời. Thấy được tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội
đương thời. Thấy được giá trị tư tưởng của tác phẩm mà tác giả gửi gắm vào trong
đó.
3. Nội dung đề tài, Sáng kiến nghiên cứu thực hiện
3.1. Những vấn đề cần giải quyết: giáo viên cần giúp học sinh hiểu:
- Chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội của văn học nghệ thuật
( qua các giai đoạn phát triển của văn học): Như trên đã nói mỗi tác phẩm văn
học chính là đứa con tinh thần của nhà văn. Tác phẩm được viết ra thời đại nào
thường mang dấu ấn lịch sử và những biến động xã hội của thời đại đó. Vì vậy
trong quá trình dạy tác phẩm văn học giáo viên cần chú trọng trang bị cho học sinh
những tri thức về văn học sử để giúp các em khám phá vẻ đẹp của văn học nghệ
thuật, hiểu tác phẩm văn học nghệ thuật thực sự là sợi dây đồng cảm kì diệu giữa
nghệ sĩ với bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim, nó
giúp cho đời sống tinh thần của con người phong phú hơn, đẹp đẽ hơn.
- Ưu thế đặc biệt của văn học là tác động trước nhất vào tình cảm, vào nhận
thức của con người: người giáo viên ngữ văn phải nắm chắc tri thức văn học sử để
thông qua đó giúp học sinh khám phá nét đẹp của văn học nghệ thuật nói chung và
hình tượng nghệ thuật nói riêng cũng như khả năng kì diệu của nó tác động đến
với người đọc, người nghe. Bởi con đường của văn nghệ đến với người đọc là con
đường từ trái tim đến với trái tim. Tác phẩm văn học chứa đựng tình cảm yêu ghét,

Giang…
Vì vậy văn học giai đoạn này tập trung đề cao chủ nghĩa yêu nước đó
là:
- Khẳng định chủ quyền của đất nước qua bài “Sông núi nước Nam” của Lí
Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Hay:
Như nước đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
- Tự hào về truyền thống đấu tranh chống xâm lược cha ông :


Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
-Tố cáo tội ác của giặc:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Hay:
Trong tay đã sẵn đồng tiền
Dẫu rằng biến trắng đổi đen khó gì.
- Ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất con người: Nổi bật đó là vẻ đẹp của chị em
Thuý Kiều. Có lẽ trong nền văn học nước nhà cặp mỹ nhân Thuý Kiều, Thuý Vân
đã được miêu tả đạt đến mức hoàn mỹ. Nguyễn Du đã giành những ngôn từ hay
nhất để xây dựng nhân vật của mình. Phải nói rằng cả hai chị em Thuý Kiều hình
như tất cả sắc nước hương trời đều hội tụ vào đây. Hãy nghe ông trân trọng giới
thiệu:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành…
Không chỉ có ca ngợi vẻ đẹp mà Nguyễn Du còn ca ngợi phẩm chất tốt đẹp
con người đó là tình thương cha mẹ, sự thuỷ chung với người yêu:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Một giá trị nhân đạo đáng chú ý của văn học giai đoạn này, đó là sự thông
cảm, thương cảm cho số phận con người. Ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du hay



Cái dây lưng đụi nhuộm hồi sang xuân
- Vì vậy khi dạy bài thơ “Ông Đồ” ta phải hiểu được tâm trạng của tác giả.
Đó là tâm trạng nuối tiếc cho một thời vàng son của nho học và tâm trạng chua xót
trước sự lạc lõng của chữ nho trong xã hội đang ồ ạt bị tây hoá.Tâm trạng đó cũng
được Tú Xương phản áng qua mỗi trang viết của ông :
Nào có ra gì cái chữ nho


Ông nghè ông cống cũng nằm co
- Phải nói rằng ở giai đoạn này mọi vấn đề thi cử đều đươc định giá bằng
tiền. Vì vậy các tri thức nho học họ chán chường trước cái xã hội ấy. Chúng ta sẽ
hiểu hơn qua bài thơ của Nguyễn Khuyến:
Thằng bán tơ kia giở mối ra
Làm cho bận đến cụ viên già
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a !
e. Giai đoạn 1930-> 1945:
Đây là giai đoạn Đảng cộng sản ra đời lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Tạo
nên các cao trào cách mạng như Xô viết Nghệ tĩnh 1930-1931, phong trào mặt trận
bình dân 1936-1939. Vì vậy văn học giai đoạn này bị phân hoá thành ba dòng văn
hoc:
+ Dòng văn học lãng mạn: Đây là dòng văn học có vai trò cải tổ nền văn
học nước ta. Nó phá bỏ phương pháp sáng tác cũng như đề tài sáng tác cũ tạo nên
một bước nhảy vọt cho thơ văn Việt Nam. Nó để lại nhiều tác phẩm sông mãi với
thời gian. Đây là thời kỳ xuất hiện nhiều cây bút tài hoa như: Thạch Lam, Thế Lữ,
Nguyễn Bính, Xuân Diệu …v.v…
+ Dòng văn học hiện thực: Vào giai đoạn này do chính sách bóc lột hà khắc
của chế độ thực dân nửa phong kiến, làm cho đời sống nhân dân cùng cực. Họ đã
bị bần cùng hoá như lão Hạc hay bị lưu manh hoá như Chí Phèo. Vì vậy đã có
nhiều tác giả dám đứng lên dùng ngòi bút của mình tố cáo giai cấp thống trị như:

Ai có súng dùng súng
Ai có gươm dùng gươm
Và đoàn quân vệ quốc lên đường
(Tố Hữu)
Trong kháng chiến người lính là “Điểm tựa” của lịch sử:
Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa
Vui gì hơn bằng người lính đi đầu
Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa
(Tố Hữu)
Vinh dự là vậy, thế nhưng trong cuộc kháng ấy người lính phải trải muôn
ngàn gian khổ khó khăn. Từ những miền quê nghèo họ đi kháng chiến mang theo
những gì ở nhà họ có :
Chiếc xắc mây anh mang
Em nách mo cơm nếp
Lúa níu anh trật dép
Anh cúi sửa vội vàng
(Thăm lúa-Trần Hữu Thung)


Chúng ta hãy đọc bài « Nhớ » của Hồng Nguyên để hiểu được thực tại cuộc
sống người lính bấy giờ:
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi một hai
Súng bắn chưa quen, quân sự mươi bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến
Lột sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm
Áo vải chân không đi lùng giặc đánh.
(Nhớ- Hồng Nguyên)

Vầng trăng nào sánh được vẻ kiên trinh
Xưa tiễn chồng đi cứu nước rười rưỡi tóc xanh
Nay lại tiễn con đi rung rinh đầu bạc
(Lưu Trọng Lư)
Để có thực lực chi viện cho Miền Nam Đảng đã phát động phong trào « Mỗi
người làm việc bằng hai ». Tất cả mỗi người dân Miền Bắc đều lao động không
quản ngày đêm với tinh thần « tất cả cho Tổ Quốc, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược »
Để thực hiện được nhiệm vụ thống nhất đất nước trung ương Đảng đã quyết
định mở con đường mòn Hồ Chí Minh. Đây là con đường huyết mạch chi viện cho
miền Nam. Thấy được tầm quan trọng của con đường này, đế quốc Mỹ đã dội
xuống đây hàng triệu tấn bom đạn hòng cắt đứt sự chi viện của miền Bắc. Để bảo
vệ con đường, hàng vạn nữ thanh niên xung phong lại đi vào tuyến lửa. Con
đường Trường Sơn đã trở thành nơi đối đầu giữa sức mạnh vật chất của đế quốc
Mỹ và sức mạnh tinh thần của dân tộc chúng ta:
Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phới dậy tương lai
* Văn học giai đoạn này được chia làm hai mảng:
- Mảng thứ nhất viết về đề tài Miền Bắc: Các văn nghệ sĩ đã đi sát với thực
tế cuộc sống ca ngợi tinh thần lao động khẩn trương không quản ngày đêm như bài
“Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, ca ngợi hình ảnh “Con người mới xã hội chủ
nghĩa”, đó là những con người biết đặt lợi ích tập thể, lợi ích đất nước lên trên lợi
ích cá nhân mà hành động. Họ sống với tinh thần “Mình vì mọi người” mà tiêu
biểu là truyên ngắn “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long mà nhân vật anh
thanh niên là hình mẫu con người mới XHCN.
- Mảng thứ hai viết về đề tài Miền Nam: Văn học đã phản ánh nỗi đau của
chiến tranh, tinh thần quật cường của nhân dân Miền Nam như “Hòn Đất” của
Anh Đức, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng. Đặc biệt là những tác phẩm viết về những con người huyền thoại nơi
tuyến đường trường Sơn. Đó là những anh lính lái xe “ Bài thơ về tiểu đội xe

viên thường băm nát tác phẩm để tìm ra được cái tích hợp ở trong đó mà quên đi
giá trị tư tưởng của tác phẩm. Vì vậy phải dạy văn học sử. Dạy để học sinh nắm
được những nét chính về tác giả, hoàn cảnh xã hội mà tác phẩm đó ra đời. Thấy
được tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội đương thời.
Thấy được giá trị tư tưởng của tác phẩm mà tác giả gửi gắm vào trong đó.
* Kỹ năng tìm hiểu kiến thức văn học sử và vận dụng kiến thức văn học sử
vào cảm thụ văn học:
Ở mỗi tiết học Ngữ văn, phân môn văn học, khi hướng dẫn học sinh tiếp
cận với văn bản nghệ thuật, điều đầu tiên giáo viên cần hướng dẫn và tạo cho các
em kỹ năng tìm hiểu và nắm rõ về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ấy để


trên cơ sở đó các em hiểu và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật một cách đúng và trúng
đồng thời cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học.
Ví dụ 1: Khi tìm hiểu những tác phẩm như “ Nam quốc sơn hà” ( Lý Thường
Kiệt), “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), Cáo bình ngô (Nguyễn Trãi). Giáo viên
cần cho các em hiểu: Nhân vật trung tâm trong văn học giai đoạn này là người anh
hùng phong kiến, là những con người thuộc giai cấp thống trị có xu hướng đề cao
và khẳng định những người thuộc tầng lớp trên. Yếu tố cá nhân của người nghệ sĩ
bị chìm khuất đi để biểu hiện yếu tố chung cho cộng đồng, cho giai cấp. Cái tôi
của nhà văn đã nhường chỗ cho cái ta xuất hiện. Tình yêu lứa đôi, những chuyện
riêng tư sầu muộn của đời người ít được đề cập tới, quyền lợi của giai cấp phong
kiến lúc này thống nhất với quyền lợi dân tộc. Vì thế việc đấu tranh bảo vệ quyền
lợi cho mình là bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Nền văn học này được gọi là “văn
học hướng thượng”
Ví dụ 2: Khi giảng những tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, ta
phải giúp học sinh hiểu rằng: Do chế độ phong kiến đã suy tàn, nên văn học giai
đoạn này là “văn học hướng hạ”-“ nhảy qua cầu khuynh hướng nhân đạo bước lên
bờ chủ nghĩa nhân đạo”, để từ đó các em hiểu nét đẹp của tác phẩm chính là chủ
nghĩa nhân đạo. Chủ nghĩa nhân đạo là tình thương yêu con người được phổ biến

quan lại cao cấp Nguyễn Du vạch trần tội ác của chúng. Đối với những con người
bất hạnh... ông dành hết tình thương đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
Tóm lại:
- Sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du từ chữ Hán đến
truyện Kiều, văn chiêu hồn đều sáng ngời Chủ nghĩa nhân đạo. Mặc dù sinh ra
trong gia đình quý tộc, Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc sống, yêu thương
quần chúng, lắng nghe tâm hồn, nguyện vọng của quần chúng nên ông ý thức được những vấn đề trọng đại của cuộc đời. Với tài năng nghệ thuật tuyệt vời ông đã
làm cho vấn đề trọng đại càng trở nên bức thiết hơn, da diết hơn, nóng bỏng hơn.
Thơ Nguyễn Du dù chữ Hán hay Nôm đều đạt tới trình độ điêu luyện. Riêng
truyện Kiều là một công hiến to lớn của ông đối với sự phát triển của văn học dân
tộc. Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc- người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học
dân tộc- một danh nhân văn hóa thế giới. Thơ Nguyễn Du là niềm tự hào dân tộc –
Niềm tự hào của văn học Việt Nam. Tố Hữu ca ngợi:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.”
Hiểu những vấn đề đó nên khi đi tìm hiểu hoặc làm bài văn nghị luận về
nhân vật người phụ nữ trong truyện Kiều, học sinh mới cảm nhận được: Nàng
Kiều tài hoa bạc mệnh. Nàng là hiện thân của cái đẹp nhưng đồng thời cũng là nạn
nhân của chế độ phong kiến đã thối rữa. Khi mà cả xã hội đã bị đồng tiền tác oai,
tác quái “ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”, khiến nàng phải hi sinh thân mình
cứu cha và em khỏi bị đánh đập, để rồi trải qua biết bao đau khổ: bi kịch tình yêu,
mối tình đầu tan vỡ, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần ( Hai lần tự tử, hai lần đi tu,
hai lần phải vào lầu xanh, hai lần làm con ở) quyền sống và quyền hạnh phúc bị
cướp đoạt nhiều lần…). Từ đó các em biết căm thù phường buôn thịt bán người -lũ
sở khanh đểu giả và cảm thương xót xa cho cuộc đời Kiều, cho những người phụ
nữ xưa. Căm giận xã hội phong kiến bất công tàn bạo đã trà đạp lên nhân phẩm
cuộc đời họ...
Ví dụ 3: Khi học các tác phẩm thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán

Khi tìm hiểu và cảm nhận về “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm
Tiến Duật), để học sinh hình dung rõ nét và luôn nhớ mãi hình ảnh những “Tiểu
đội xe không kính” cùng những con người dũng cảm, hăm hở ra trận bằng cả trái
tim với những cái “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” và “Nhìn nhau mặt lấm cười ha
ha”. Hình tượng độc đáo ấy mà có lẽ đến muôn đời sau lịch sử không thể lặp lại:
những chiến sĩ lái xe trên tuyến lửa Trường Sơn những năm đánh Mỹ. Từ đó các
em có quyền tự hào về những trang lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc
với lớp lớp những con người quả cảm, ngoan cường và giàu đức hi sinh. Thì học
sinh phải tìm hiểu để biết rằng: Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra
ngày càng ác liệt. Nhằm tạo một tuyến hành lang chiến lược về hậu cần cho cuộc
kháng chiến chống Mỹ của ta chắc thắng; ngày 19/5/1959, Bác Hồ đã quyết định
và trực tiếp giao nhiệm vụ thành lập tuyến đường vận tải chiến lược để chi viện
sức người sức của cho cách mạng miền Nam và giúp nước bạn Lào, Campuchia.
Trên dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước hình chữ S, tuyến đường vận tải lấy


tên là Đường Trường Sơn, là tên của giải Trường Sơn đã ra đời, và sau này được
đổi tên là đường Hồ Chí Minh mang tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc – Đây là
con đường chiến lược đặc biệt nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Và đến
ngày 25/10/1965, đoàn xe cơ giới đầu tiên với hàng trăm chiếc mang tên “Ngọn
đèn xanh Bác Hồ” đưa hàng sâu vào chiến trường, mở đầu cho giai đoạn vận tải cơ
giới lớn liên tục trên đường Hồ Chí Minh. Đúng như cố Đại tướng Võ Nguyên
Giáp đã viết: “quyết định xây dựng tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh
và việc thực hiện thắng lợi quyết định này là một thành công kiệt xuất trong lãnh
đạo chiến tranh của Đảng CSVN, là biểu hiện ý chí sắt đá quyết tâm giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước của toàn dân, toàn quân ta, biểu hiện tinh thần
đoàn kết quốc tế đặc biệt: Việt Nam-Lào-Campuchia…”.
Ví dụ 5: Khi cảm thụ bài thơ “Sang thu” (Hữu Thỉnh), các em cần hiểu bài
thơ qua lời tự bạch của ông như: “ Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”. Đây là chìa
khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không

vào tác phẩm, biết vận dụng kiến thức thâu tóm được để làm khá tốt bài văn nghị
luận về đoạn thơ, bài thơ, nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích.
- So sánh kết quả: Trước khi thực hiện đề tài với kết quả sau khi áp dụng đề
tài: Bài TLV số 5: Nghị luận về đoạn thơ bài thơ, nghị luận về tác phẩm truyện,
đoạn trích và bài kiểm tra văn học, kết quả thi học sinh giỏi cấp huyện như sau:

Thời
gian

Số
HS

Kết quả
G

%

Kh

%

TB %

Y

%

K % TB %

Trước

24

3

12,5 8

33,4

11

45,8 2

8,3

0

0

22

91,7

-8,4

-8,4

0

0


hơn khi lên các bậc học cao hơn. Sự kế thừa và nâng cao này thể hiện rõ nhất ở
việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức văn học sử, của kĩ năng tìm hiểu và tăng
cường hoạt động thực hành của học sinh.
- Với nội dung của đề tài, muốn thực hiện tốt đòi hỏi giáo viên phải rèn cho
học sinh kĩ năng tìm hiểu tri thức văn học sử ngay từ khi các em mới vào lớp 6 để
các em có thói quen vận dụng thực hành thường xuyên và được rèn luyện qua
nhiều năm mới mong có thành công tốt. Kinh nghiệm mà tôi đã trình bày là rút ra
từ thực tế hướng dẫn học sinh qua nhiều năm giảng dạy, nhiều khóa học sinh đã
học tập, thi cử đạt kết quả khá cao trong các kì thi, từ kiểm định chất lượng, đến
thi chuyển cấp. Và hiện nay tôi vẫn đang áp dụng khi ôn thi cho HS vào lớp 10
THPT. Hi vọng nó cũng có thể giúp ích cho các em học sinh hiện nay và gợi ý
thêm một số cách học văn khi các em lên bậc học cao hơn.
* Hiệu quả
Báo cáo đề tài, sáng kiến cải tiến kĩ thuật này là do bản thân tìm tòi, tham
khảo và học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy và trên thực tế
cũng đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên chắc chắn không có nhiều
mới lạ, cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng nghiệp tham
khảo và góp ý chân thành để việc dạy học của chúng ta có hiệu quả tốt hơn.
2. Các đề xuất khuyến nghị
* Đối với học sinh:
Để học tốt môn Ngữ văn và làm tốt bài văn Nghị luận văn học, đòi hỏi các
em phải đọc tham khảo nhiều tài liệu, sách báo để bổ sung thêm kiến thức phổ
thông và kiến thức xã hội
Biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế bìa làm, biết đúc rút kinh nghiệm
qua các lần kiểm tra, nhận xét, đánh giá của cô giáo và các bạn.
* Đối với giáo viên:
- Người giáo viên cần phải có lòng yêu nghề, hết lòng vì học sinh.
- Chuẩn bị bài chu đáo hệ thống câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, sát với mục tiêu
của bài và phải phát huy được tính tích cực của học sinh.
- Nghiên cứu, tham khảo tài liệu, sách báo để bổ sung kiến thức cho bản

................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
....................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
........................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
....................................

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO PHÒNG GD ĐT VỀ ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
....................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
........................
................................................................................................................................
....................




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status