ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 8 - HỌC KÌ II ( GV: NGUYỄN THỊ VÂN)
A. NỘI DUNG
I. Phần văn bản:
1.Nhớ rừng
2.Ông đồ
3.Quê hương
4.Khi con tu hú
5.Tức cảnh Pác Bó
6.Ngắm trăng.
7.Đi đường
8.Chiếu dời đô
9.Hịch tướng sĩ
10.Nước Đại Việt ta
11.Bàn luận về phép học.
12.Thuế máu.
13.Đi bộ ngao du.
14.Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục
* Yêu cầu: - Nắm được tên tác giả, thể loại, hoàn cảnh sáng tác, nội dung, nghệ thuật cơ bản, ý nghĩa
văn bản, cảm thụ đoạn thơ.
II. Phần Tiếng Việt:
1. Câu nghi vấn.
2. Câu cầu khiến.
3. Câu cảm thán.
4. Câu trần thuật.
5. Câu phủ định
6. Hành động nói.
7.Hội thoại.
8. Lựa chọn trật tự từ trong câu.
* Yêu cầu: - Nắm được các khái niệm, đặc điểm hình thức và chức năng , đặt câu, vận dụng vào làm
bài tập, viết được đoạn hội thoại, đoạn văn.
III. Phần Tập làm văn.
do mãnh liệt bằng những vần thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn.
tám
Bài thơ đã khơi gợi niềm yêu nước thầm kín của người dân mất
chữ
Thơ
nước thuở ấy.
Là bài thơ ngũ ngôn bình dị mà cô đọng, đầy gợi cảm. Bài thơ
Ông
Vũ Đình mới
đã thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng thương của " ông đồ" qua đó
đồ
Liên
ngũ
toát lên niềm cảm thương chân thành trước một lớp người đang
ngôn
tàn tạ và tiếc nhớ cảnh cũ người xưa của nhà thơ.
Bài thơ cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của
4.
Khi
Tố Hữu
con tu
5.
bát
cách mạng trong cảnh tù đày.
Là bài thơ tứ tuyệt bình dị pha giọng vui đùa cho thấy tinh
cảnh
thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác hồ trong cuộc sống
Bó
Ngắm
Thơ
cách mạng đầy khó khăn gian khổ ở Pác Bó. Với Người, làm
Hồ Chí
thất
Là bài thơ lục bát giản dị ,thiết tha, thể hiện sâu sắc lòng yêu
nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả
trong cảnh ngục tù cực khổ tối tăm..
Là bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, mang ý nghĩa tư tưởng
sâu sắc; từ việc đi đường núi đã gợi ra chân lí đường đời : vượt
Chiếu
Lí Công
Chiếu
qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ vang.
Phản ánh khát vọng của nhân dân về một đát nước độc lập,
dời đô
Uẩn
(Chữ
thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại
hán)
Việt đang trên đà lớn mạnh. Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh
mẽ vì nói đúng được ý nguyện của nhân dân, có sự kết hợp hài
hòa giữa lí và tình.
Phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta trong
, sắc bén với lời văn thống thiết có sức lôi cuốn mạnh mẽ.
Với cách lập luận chặt chẽ và chứng cứ hùng hồn, đoạn trích
Nước
Đại
Nguyễn
Việt ta
Trãi
Cáo
Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập: Nước
ta là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong
tục riêng, có chủ quyền, có truyền thống lịch sử; kẻ xâm lược là
11
Bàn
Nguyễn
luận
Thiếp
Tấu
thực ấy bằng những tư liệu phong phú, xác thực, bằng ngòi bút
sắc sảo. Đoạn trích Thuế máu có nhiều nhiều hình ảnh giàu giá
trị biểu cảm, có giọng điệu vừa đanh thép vừa mỉa mai, chua
chát.
Để chứng minh muốn ngao du cần phải đi bộ, bài Đi bộ ngao
13
14
Đi bộ Ru-xô
Tiểu
du lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục, lại rất sinh động do các
ngao
thuyết
lí lẽ và thực tiễn cuộc sống tác giả từng trải qua luôn bổ sung cho
du
nhau. Bài này còn thể hiện rõ Ru-xô là một con người giản dị,
Ông
quý trọng tự do và yêu thiên nhiên.
Là một lớp kịch trong vở "Trưởng giả học làm sang" của Mô-
- Có những từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, tại sao...) hoặc có từ hay ( nối các vế có quan hệ
vấn
lựa chọn).
-Khi viết câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi.
* Có chức năng chính là dùng để hỏi. (người đối thoại trả lời)
-Trong nhiều trường hợp câu nghi vấn không dùng để hỏi mà để cầu khiến, khẳng định, phủ
2. Câu
định, đe dọa, bộc lộ tình cảm, cảm xúc... và không yêu cầu người đối thoại trả lời (VD:
* Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như : hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào,... hay
cầu
ngữ điệu cầu khiến; dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo...
khiến
* Khi viết câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến
không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm.
VD:
3. Câu
* Là câu có những từ cảm thán như: ôi, than ôi, hỡi ơi, trời ơi, biết bao, xiết bao, biết
cảm
phủ
*Câu phủ định dùng để :
định
- Thông báo, xác nhận không có sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó (Câu phủ định
miêu tả)
- Phản bác một ý kiến, một nhận định.(Câu phủ định bác bỏ).
VD:
2. Hành động nói
* Hành động nói là hành động được thực hiện bằng lời nói nhằm những mục đích nhất định.
* Những kiểu hành động nói thường gặp là :
4
- Hành động hỏi ( Bạn làm gì vậy ? )
- Hành động trình bày( báo tin, kể, tả, nêu ý kiến, dự đoán..) ( Ngày mai trời sẽ mưa )
- Hành động điều khiển ( cầu khiến, đe dọa, thách thức,...) ( Bạn giúp tôi trực nhật nhé )
- Hành động hứa hẹn .(Tôi xin hứa sẽ không đi học muộn nữa )
- Hành động bộc lộ cảm xúc. ( Tôi sợ bị thi trượt học kì này )
* Mỗi hành động nói có thể được thực hiện bằng kiểu câu có chức năng chính phù hợp với hành động
đó ( cách dùng trực tiếp) hoặc bằng kiểu câu khác (cách dùng gián tiếp)
3. Hội thoại.
*Vai hội thoại là vị trí của người tham gia hội thoại đối với người khác trong cuộc thoại . Vai xã
hội được xác định bằng các quan hệ xã hội:
- Quan hệ trên- dưới hay ngang hàng ( theo tuổi tác, thứ bậc trong gia đình và xã hội) .
- Quan hệ thân-sơ ( theo mức độ quen biết, thân tình)
Giới thiệu khái quát nội dung của đoạn thơ: Tế Hanh đã trực tiếp bày tỏ nỗi nhớ của mình về
làng quê miền biển thật cảm động... (0,25 điểm)
Nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ông, thể hiện qua cụm từ "luôn tưởng nhớ". Quê hương hiện
lên cụ thể với một loạt hình ảnh quen thuộc, gần gũi: Màu nước xanh, cá bạc, buồm vôi, con
thuyền...và "mùi nồng mặn" đặc trưng của quê hương làng chài... (1,0 điểm)
Tác giả sử dụng điệp từ "nhớ", phép liệt kê, kết hợp câu cảm thán, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
(mùi nồng mặn) góp phần làm nổi bật tình cảm trong sáng tha thiết của người con với quê
hương yêu dấu. Đoạn thơ như lời nhắc nhở chúng ta nhớ về cội nguồn, quê hương, đất nước...
(0,75 điểm)
- Câu chốt lđiểm: Qua đó, ta thấy Tế Hanh là người:…..
Bài 2: Trình bày cảm nhận của em về khổ thơ: (Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ
sau và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
- Câu luận điểm: Đoạn thơ trên thuộc khổ 2 trong bài “Quê hương của Tế Hanh, miêu tả sinh động
hình ảnh con thuyền và cánh buồm lúc ra khơi.
* Con thuyền:
- NT: so sánh (con tuấn mã), tính từ (hăng), động từ mạnh (phăng, vượt) => Diễn tả thật ấn tượng khí
thế băng tới dũng mãnh của con thuyền ra khơi, làm toát lên một sức sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng
tráng đầy hấp dẫn. Bốn câu thơ vừa là phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động
đầy hứng khởi và dào dạt sức sống.
* Cánh buồm:
Hai câu thơ tiếp theo miêu tả cánh buồm căng rất đẹp, một vẻ đẹp lãng mạn với sự so sánh độc đáo
bất ngờ:
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
* H/ả con thuyền:
Hai câu thơ sau miêu tả chiếc thuyền nằm im trên bến sau khi vật lộn với sóng gió trở về cũng đầy
sáng tạo. Với NT nhân hoá con thuyền không chỉ đang nằm im trên bến mà đang mệt mỏi say sưa
lắng nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ của nó. Con thuyền vô tri đã trở nên có hồn, một tâm hồn
rất tinh tế, nó như 1 sinh thể, như một phần của cuộc sống lao động của làng chài, gắn bó với làng
chài.
- Câu chốt lđiểm: Qua đó, ta thấy Tế Hanh là người:…..
Bài 4: Trình bày cảm nhận của em về tâm trạng của người tù cách mạng qua khổ thơ sau: (10 –
12 câu)
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu!
* Hình thức: Trình bày đúng hình thức một đoạn văn, đảm bảo số câu (10 – 12 câu), có đánh số câu
* Nội dung:
Mở đoạn: giới thiệu khái quát bài thơ, tác giả, dẫn dắt đến khổ 2: Tâm trạng bực bội, đâu khổ và niềm
khát khao tự do của nhà thơ.
Thân đoạn: Nêu được các nội dung sau
•
•
•
•
•
Tâm trạng của người tù cách mạng: đau khổ, ngột ngạt dược nhà thơ biêủ đạt trực tiếp
Bốn câu lục bát ngắt nhịp bất thường 6/2, 3/3, dùng hai câu cảm thán liên tiếp cùng với việc sử
dụng các động từ mạnh: đạp tan phòng, chết uất, các thán từ "Ôi, thôi, làm sao" đoạn thơ trở
thành tiếng kêu phẫn uất của người mát tự do.
Cái sang trọng, giàu có của người tự thấy mình hữu ích cho cách mạng cả trong gian khổ, thiếu
thốn
Qua đây thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi.
8
Bài 7:Trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ có câu thơ sau:
“Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”
1. Em hãy chép chính xác khổ thơ chứa câu thơ trên và nêu nội dung chính của khổ thơ đó?
2. Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về khổ thơ vừa chép. (đoạn văn T - P - H, từ 10 - 12 câu,
sử dụng câu nghi vấn không dùng với chức năng chính, câu chứa thán từ.
- Chép chính xác khổ thơ
- Nêu nội dung: Nỗi nhớ tiếc của con hổ về thời oanh liệt
- Về hình thức
•
•
Viết đúng hình thức đoạn văn T- P- H, đủ số câu (có đánh số thứ tự câu)
Có sử dụng câu nghi vấn không dúng với chức năng để hỏi, câu chứa thán từ (gạch chân)
- Về nội dung: học sinh nêu được các ý cơ bản sau: khổ thơ đã khắc họa bức tranh tứ bình tuyệt đẹp
qua đó nói lên tâm trang nhớ tiếc quá khứ của con hổ
•
•
•
•
Trước hết là nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ suối, nhớ trăng, nhớ lúc say mồi, ung dung thỏa thích
Ý nghĩa của đoạn thơ: Nỗi nhớ cảnh bình minh, hoàng hôn của con hổ trong quá khứ và tâm trạng của
nó
c. Đoạn thơ sử dụng câu nghi vấn. Hành động nói bộc lộ cảm xúc.
d. Hình thức
•
•
Viết đúng hình thức đoạn văn. Đủ số câu (12 – 15 câu)
Có sử dụng 1 câu cảm thán và một câu phủ định, gạch chân các câu đó
Về nội dung cần trình bày được các ý sau
- Cảnh bình minh:
Hổ như một chúa tể tàn bạo cây xanh nắng gội là màn trướng, còn chim chóc như những bầy cung nữ
đang hân hoan ca múa quanh giấc nồng. (0,5 điểm)
- Bộ tứ bình khép lại bằng bức cuối cùng, cũng là bức ấn tượng hơn cả:
Giọng điệu không còn là thở than, mà đã thành chất vấn đầy giận dữ và oai linh đối với quá khứ mà
cũng là đối với hiện tại. Chúa sơn lâm hiện ra cũng với một tư thế hoàn toàn khác: tư thế kiêu hùng
của một bạo chúa.
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng: Nền cảnh thuộc gam màu máu, gợi ra cảnh tượng chiến
trường sau một cuộc vật lộn tàn bạo. Đó là máu của mặt trời ánh tà dương lúc mặt trời hấp hối, dưới
cái nhìn kiêu ngạo của con mãnh thú, gợi được cái không gian đỏ máu của địch thủ mặt trời, vừa gợi
được vẻ bí hiểm của chốn diễn ra cuộc tranh chấp đẫm máu.
“Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật”, bức tứ bình cuối cùng
dường như đã thể hiện được bàn chân ngạo nghễ siêu phàm của con thú như dẫm đạp lên bầu trời, cái
bóng của nó cơ hồ đã trùm kín cả vũ trụ ,tham vọng tỏ rõ cái oai linh của kẻ muốn thống trị cả vũ trụ
này! (1 điểm)
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Tiếng than u uất bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ, nhớ cuộc sống tự do
của mình, nhớ những cảnh không bao giờ còn thấy nữa giấc mơ huy hoàng đã khép lại.
- Biện pháp nghệ thuật: Điệp ngữ, câu hỏi tu từ, câu cảm thán, nhân hóa.
Đề 2: Giới thiệu về một vật dụng hoặc một phương tiện của gia đình em?
a. Mở bài: Giới thiệu về vật dụng hoặc phương tiện gia đình.
b. Thân bài:
- Giới thiệu về hình dáng, cấu tạo.
- Nêu chất liệu, vật dụng phương tiện.
- Công dụng, cách sử dụng.
- Ý thức bảo quản vật dụng, phương tiện.
c. Kết bài: Vai trò vật dụng, phương tiện trong đời sống con người.
2. Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
=>Dàn ý chung:
11
a) Mở bài. Giới thiệu về danh lam thắng cảnh mà em dự định sẽ thuyết minh.
b) Thân bài.
1. Giới thiệu nguồn gốc của khu di tích: có từ bao giờ, ai phát hiện ra? đã kiến tạo lại bao giờ chưa?
2. Giới thiệu vị trí địa lí, đặc điểm bên ngoài (nhìn từ xa hoặc nhìn từ trên).
3. Trình bày về đặc điểm của từng bộ phận của khu di tích: kiến trúc, ý nghĩa, các đặc điểm tự nhiên
khác thú vị, độc đáo,…
4. Danh lam thắng cảnh của quê hương bạn đã đóng góp như thế nào cho nền văn hoá của dân tộc và
cho sự phát triển nói chung của đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai (làm đẹp cảnh quan
đất nước, mang lại ý nghĩa về giáo dục, ý nghĩa tinh thần, mang lại giá trị vật chất,…).
c) Kết bài: Khẳng định lại vẻ đẹp nhiều mặt của danh lam thắng cảnh đó.
Đề 3: Tự hào về quê hương, chúng ta tự hào về những di tích, những ngôi đình, chùa.... gắn liền
với truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời của địa phương.
Bằng niềm tự hào đó, em hãy viết một bài văn thuyết minh giới thiệu về một di tích lịch sử, văn
hóa hoặc đình, chùa... ở địa phương em trong dịp lễ hội đầu xuân. (Có thể chọn trong xã, huyện,
tỉnh)
12
+ Giá trị nghệ thuật: Bài thơ có 20 câu, sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, lời thơ trong sáng,
hình ảnh thơ sáng tạo, cảm xúc nồng hậu thiết tha.
– Chứng minh nhận định: Bài thơ Quê hương của Tế Hanh đã tái hiện vẻ đẹp tươi sáng của bức tranh
làng quê vùng biển:
+ Hai câu đầu: Giới thiệu về làng quê đầy thương nhớ, tự hào (dẫn chứng, phân tích);
+ Sáu câu tiếp theo: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi của trai làng (dẫn chứng, phân tích);
+ Tám câu tiếp theo: Cảnh đoàn thuyền đánh cá khi trở về (dẫn chứng, phân tích);
– Vai trò của bài thơ trong nền văn học nước nhà:
+ Bài thơ là những câu hát yêu thương về cảnh sắc, bầu trời, dòng sông, con thuyền, cánh buồm…;
+ Bài thơ khiến ta cảm nhận được hồn thơ Tế Hanh, một tình yêu quê hương trong sáng, đằm thắm.
* Kết bài: Suy nghĩ và đánh giá của bản thân về nhận định của bài thơ Quê hương; liên hệ với bản
thân về vị trí của bài thơ trong nền Văn học của dân tộc
II. Văn nghị luận: (Văn nghị luận có sự kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm)
Một số đề và dàn ý tham khảo
Đề 1: Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của
những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất
nước.
a) Mở bài.
- Giới thiệu khái quát về lịch sử đấu tranh và xây dựng đất nước hào hùng của dân tộc ta.
- Trong sự nghiệp ấy, các vị anh hùng dân tộc, các vị vua anh minh có công lao rất lớn.
b) Thân bài.
- Vai trò của Lí Công Uẩn:
+ Thẳng thắn và cặn kẽ chỉ ra những hạn chế của viẹc định đô lâu ở Hoa Lư.
+ Khẳng định việc dời đô là tuân theo “mệnh trời” – đó là một cái nhìn thấu suốt lịch sử bằng tài năng
và bằng tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
+ Nhìn ra những thuận lợi mang tính dài lâu của nơi định đô mới.
bình, no ấm trong suốt thời gian đó (kinh đô Đại La_Thăng Long_chính là thủ đô
Hà Nội ngày nay, linh hồn của VN)
Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên_Mông hung hãn,
vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã 3 lần cầm quân đánh bại
quân xâm lược. Ông xứng đáng là 1 vị anh hùng của dân tộc.
Trước năm 1285, Trần Quốc Tuấn đã viết bài "Hịch tướng sĩ" với mục đích kêu
gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ đễ chuẩn bị đánh quân xâm
lược. Bài Hịch có sức thuyết phục rất cao bởi lập luận sắc bén, có tình có lý.
Trong bài Hịch Trần Quốc Tuấn sáng suốt nêu gương các trung thần nghĩa sĩ
của Trung Quốc đễ đánh vào lòng tự tôn của các tướng sĩ dưới quyền. Ông nhắc
lại cách đối xử thân tình của mình đến với họ, chỉ cho họ thấy tội ác của giặc, bày
tỏ tấm lòng của mình trước vận mệnh của đất nước.
Trần Quốc Tuấn đã phản ánh phê phán sự bàng quan vô trách nhiệm của các
tướng sĩ. Vạch ra nguy cơ nước mất nhà tan, rồi lật ngược vấn đề: Nếu tướng sĩ lo
học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ thì mọi người được sử sách lưu danh.
Với cách lập luận như thế, Trần Quốc Tuấn đã khơi dậy, khích lệ lòng yêu nước,
căm thù giặc của tất cả mọi người.Trần Quốc Tuấn vốn là con nhà võ nhưng thấu
đáo sự học làm người, nắm rõ "tam cương, ngũ thường". Ông xứng đáng là 1 tấm
gương để chiến sĩ noi theo. Trong kho tàng văn học nước nhà "Hịch tướng sĩ" của
Trần Quốc Tuấn xứng đáng là 1 "An thiên cỗ hùng văn", "tiếng kèn xung trận hào
hùng", mãi mãi nhân dân thời Trần (thế kỉ 13) và mọi đời sau sẽ không bao giờ
quên công đức của ông.
Nói tóm lại, lịch sử đất nước Việt Nam có những trang vàng chói lọi là nhờ
vào những vị vua, vị tướng anh minh như Lý Công Uẫn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn
Trãi,… Họ là tấm gương sáng ngời đễ đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta
14
tưởng nhớ đến Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân giành độc lập ngày hôm nay. Chúng
Vậy, “học” là gì? Học là quá trình tiếp thu tri thức và biến những tri thức được
tiếp thu ấy thành vốn hiểu biết của bản thân. Việc học không chỉ đơn thuần
thông qua việc hướng dẫn giảng dạy của thầy cô, sự truyền thụ kinh nghiệm của
những người lớn tuổi mà còn thông qua sự trao đổi với của bạn bè, qua việc
đọc, nghiên cứu tài liệu, sách vở và quan sát từ thực tế cuộc sống. Tuy nhiên,
15
“học” chỉ dừng lại ở khâu lí thuyết. Muốn biến những điều đã học thành thực tế,
nhất thiết phải thông qua lao động thực hành.
“Hành” là những thao tác nhằm vận dụng các kĩ năng, kiến thức đã tiếp thu
vào việc giải quyết những tình huống, những vấn đề cụ thể. Không một môn học
nào lại không có phần thực hành.Việc thực hành thể hiện qua các bài tập sau khi
vừa học lí thuyết,qua các tiết thí nghiệm thực hành các bộ môn Lý ,Hóa ,Sinh;
qua các thao tác vận động ở bộ môn Thể dục.Theo La Sơn Phu Tử trình bày trong
phần “ bàn luận về phép học” thì “hành” là việc vận dụng đạo lý của thánh hiền
vào cuộc sống, biến những triết lý trừu tượng thành việc làm cụ thể nhằm thể
hiện nhân cách, phẩm giá của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: ‘Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không
học thì hành không trôi chảy”. Lời dạy trên của Bác cũng góp phần khẳng định
mối quan hệ mật thiết và tương hỗ giữa hai yếu tố “học” và “hành” trong cuộc
sống.
Việc thực hành có tác dụng củng cố kiến thức, khắc sâu những điều đã học.
Người có học mà không biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế thì việc học
ấy trở thành vô ích. Sau mỗi bài học lí thuyết là bài bài tập để củng cố, sau mỗi
tiết thí nghiệm thực hành là kiến thức đã học được khắc sâu hơn. Nếu không có
những tiết bài tập và thí nghiệm thì những điều chúng ta đã học sẽ trở thành mớ
lý thuyết suông không có tác dụng gì.
Đối với sĩ tử ngày xưa, đi học là để hiểu rõ Đạo. Đó là lẽ đối xử hằng ngày giữa
và “hành” có tác dụng củng cố khắc sâu và hoàn chỉnh việc “học”. Từ đó, em
phải thay đổi phương pháp học tập sao cho đúng đắn, biết kết hợp vận dụng tốt
cả hai yếu tố “học” và “hành” để nâng cao trình độ học vấn của bản thân và áp dụng linh hoạt
vào thực tế.
Đề 3: Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con
đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
a) Mở bài.
- Giới thiệu câu nói của Go-rơ-ki.
- Nêu ý nghĩa của câu nói.
b) Thân bài.
- Giải thích câu nói của Go-rơ-ki: Tại sao nói sách là nguồn kiến thức?
+ Sách lưu giữ tri thức của nhân loại hàng ngàn năm nay.
+ Sách là nguồn cung cấp kiến thức về mọi lĩnh vực vượt qua thời gian và không gian.
- Tại sao nói: Chỉ có sách mới là con đường sống?
+ Sách ở đây ý nói là sự học.
+ Cuộc sống luôn cần tri thức không chỉ để mở mang hiểu biết mà trước hết, nó giúp chúng ta có một
cái nghề chân chính để tồn tại.
+ Cuộc sống càng phát triển, người ta càng cần phải học tập nhiều hơn.
+ Nêu những tác dụng của sách.
- Bài học rút ra cho bản thân:
+ Phải yêu quý và trân trọng sách.
+ Phải coi trọng sự học và lựa chọn phương pháp học cho đúng đắn và hiệu quả.
c) Kết luận.
Khẳng định lại vai trò lớn lao của sách đối với nhân loại và đối với mỗi chúng ta.
Bài văn tham khảo:
17
Đã từ lâu sách luôn là một món ăn tinh thần không thể thiều được trong cuốc
thức.....)
Nhưng coi sách cũng có khi là cách tự học nên phải đọc sách đúng lúc,đúng
chỗ.Tuy nhiên không phải lúc nào củng đọc như con mọt sách hay đọc để rồi
không còn thực tế chàng Đôn-ki-hô-tê
18
Chúng ta cần sắp xếp hợp lí về thời gian đọc sách đúng cách,biến kiến thức của
sách thành của riêng mình.Nó sẽ là người bạn tốt cho ai biết nâng niu,trân trọng
và học hỏi.
Kiến thức còn giúp cho XH văn minh thoát khỏi nền lạc hậu.Một XH chú trọng
nhiều đến tài trí thì sẽ có nhiều nhân tài.Một đất nước có nhiều đội ngũ KH thì sẽ
có những phát minh máy móc hiện đại tân tiến
Cho nên kiến thức là con đường sống của mọi người.Đó là con đường của ước mơ
và hy vong,biết hướng về tương lai bằng niềm tin tự khám phá mình để hoàn
thiện nhân cách của mình. Vì thế nếu không có sách con người sẽ sống trong tối
tăm,dốt nát,mất tự do
Quả thật câu nói của M.Go-rơ-ki là một lời khuyên chí tình.Sách rất quí nhưng
không tự đến với con
người mà con người phải tìm lấy sách để đọc. Ta phải
đọc sách một cách ham mê và đọc với tinh thần chủ động,suy nghĩ,nghiền ngẫm.
Đọc và làm theo sách sẽ giúp ta trau dồi,nâng tầm hiểu biết của ta một cao hơn .
Sách đúng là kho tàng trí tuệ của nhân loại là giá trị vô giá của loài ngươi.
Đề 4: Nghị luận Tuổi trẻ và tương lai đất nước.
*) Yêu cầu về hình thức: (1 điểm)
•
•
hội phát triển. Một trong những việc làm quan trọng nhất của tuổi trẻ chính là nhiệm vụ học
tập. (0,5 đ)
19
* Vì sao thế hệ trẻ lại ảnh hưởng đến tương lai đất nước?
•
•
•
•
Thanh niên học sinh hôm nay sẽ là thế hệ tiếp tục bảo vệ, xây dựng đất nước sau này.
Vốn tri thức được học và nền tảng đạo đức được nhà trường giáo dục là quan trọng, cơ bản để
tiếp tục học cao, học rộng, đem ra thực hành trong cuộc sống khi trưởng thành.
Một thế hệ trẻ giỏi giang, có đạo đức hôm nay hứa hẹn có một lớp công dân tốt trong tương lai
gần. Do đó, việc học hôm nay là rất cần thiết.
Thế giới không ngừng phát triển, muốn "sánh vai các cường quốc" thì đất nước phải phát triển
về khoa học kĩ thuật, văn minh – điều đó do con người quyết định mà nguồn gốc sâu xa là từ
việc học tập, tu dưỡng thời trẻ. (1đ)
* Thực tế đã chứng minh, việc học tập của tuổi trẻ tác động lớn đến tương lai đất nước.
Những người có sự chăm chỉ học tập, rèn luyện khi còn trẻ thì sau này đều có những cống hiến quan
trọng cho đất nước:
•
•
Ngày xưa: những người tài như Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,... từ thời trẻ đã
chăm chỉ luyện rèn, trưởng thành lập những chiến công làm rạng danh đất nước.
Ngày nay: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng. Các nhà khoa học xã hội có nhiều
Mối quan hệ giữa văn học và tình thương trong lịch sử văn học.
b) Thân bài.
- Tại sao văn học luôn gắn bó với tình thương?
20
+ Vì văn học là tâm hồn dân tộc.
+ Một trong những vẻ đẹp nhất của tâm hồn dân tộc ấy là tình thương yêu nhân loại.
- Văn học gắn bó với tình thương như thế nào?
+ Văn học nói lên nỗi đau khổ của mọi kiếp người.
+ Văn học nói lên sự cảm thông đối với nỗi đau của họ và gợi tình thương yêu trong mỗi tâm hồn
người đọc.
+ Văn học bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người.
c) Kết bài.
Tình yêu thương đã trở thành một phẩm chất và là thước đo cao quý của văn học. Nó cứu vớt, dìu
dắt, nâng niu con người trong hiện tại và trên đường đến tương lai.
Đề 6: Hãy nói "không" với các tệ nạn.
* Yêu cầu về hình thức:
•
•
•
•
•
Làm đúng kiểu bài: Văn nghị luận (kết hợp các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả)
Nội dung: Vai trò của tuổi trẻ đối với tương lai của đất nước.
Phạm vi: Trong thực tế cuộc sống
Bài làm có ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, văn giàu hình ảnh; diễn đạt trôi chảy; trình bày sạch
cắp... Một khi đã nhiễm thì rất khó từ bỏ, nó sẽ hành hạ và làm cho con người điêu đứng.
Thói hư tật xấu là bạn đồng hành của chủ nghĩa cá nhân ích kỉ.
21
3. Tác hại cụ thể:
* Cờ bạc:
•
•
•
•
•
Đó cũng là một loại ma túy, ai đã sa chân thì không thể bỏ.
Trò đỏ đen, may rủi kích thích máu cay cú, hiếu thắng.
Mất nhiều thời gian, sức khoẻ, tiền bạc và sự nghiệp.
Ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách và hạnh phúc gia đình, an ninh trật tự xã hội.
Hành vi cờ bạc bị luật pháp cấm và tùy theo mức độ vi phạm mà có mức xử lí khác nhau.
* Thuốc lá:
•
•
•
•
•
Là sát thủ giấu mặt với sức khỏe con người.
Khói thuốc có thể gây ra nhiều bệnh: Ung thư phổi, ung thư vòm họng, tai biến tim mạch...
Khói thuốc không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn ảnh hưởng tới những
•
•
•
•
Từ những tệ nạn trên, bản thân mỗi người phải có ý chí, nghị lực trước sự cám dỗ của các tệ
nạn
Xã hội và đặc biệt các bậc phụ huynh thường xuyên quan tâm các em học sinh nhiều hơn Tuyên truyền cho mọi người biết về tác hại khôn lường của các tệ nạn
Tham gia vào các hoạt động phòng, chống tội phạm, góp phần làm giảm kỳ thị và phân biệt đối
xử đối với người đã từng mắc lỗi.
Chúng ta hãy cùng nhau đẩy lùi các tệ nạn, vì một xã hội phát triển thì không có những tệ nạn
đó tồn tại, học sinh là những trụ cột đất nước sau này, đừng xa vào tệ nạn trước hết là làm hại
chính mình, sau nữa là gay nguy hại cho đất nước.
3. Kết bài
22
•
•
Tránh xa tệ nạn xã hội là cách tự bảo vệ bản thân vừa là cách khẳng định nhân cách, đạo đức
của mình, góp phần xây dựng nên một xã hội văn minh, trong sạch, lành mạnh.
Liên hệ bản thân
Đề 7: Tác dụng của sách đối với đời sống con người
A. Mở bài
- Vai trò của tri thức đối với loài người
- Một trong những phương pháp để con người có tri thức là chăm chỉ đọc sách bởi sách là tài sản quý
- Các bạn ấy chưa thấy rằng bây giờ càng ham vui chơi thì sau này càng khó tìm được niềm vui trong
cuộc sống = > Vậy thì ngay từ bây giờ các bạn hãy chăm chỉ học tập
C. Kết bài :
- Liên hệ với bản thân
Đề 9: Hãy viết bài nghị luận với đề tài : Bảo vệ môi trường thiên nhiên là bảo vệ cuộc sống của
chúng ta
A. Mở bài : Giới thiệu về môi trường thiên nhiên: không khí, nước, cây xanh
B. Thân bài
- Bảo vệ bầu không khí trong lành
+ Tác hại của khói xả xe máy, ô tô… Tác hại của khí thải công nghiệp
- Bảo vệ nguồn nước sạch
+ Tác hại của việc xả rác làm bẩn nguồn nước sạch .Tác hại của việc thải chất thải công nghiệp
- Bảo vệ cây xanh Nếu rừng bị chặt phá thì :
+ Cây cối bị chết, chim thú bị huỷ diệt. Cây cối chết sông ngòi khô cạn
+ Khí hậu trái đất sẽ nóng lên ảnh hưởng đến sức khoẻ.Hiện tượng xói mòn lũ lụt thiệt hại đến sản
xuất
C. Kết bài . Mỗi chúng ta hãy có ý thức trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của chúng ta
Đề 10: Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ
thiết tha căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn
ở công học tập của các em.”
Hãy viết một văn bản nghị luận trình bày ý kiến của em về nội dung lời căn dặn của Bác.
•
•
•
Mở bài:
+ Sách ghi lại những hiểu biết, những phát minh của con người từ xưa đến nay trên mọi phương
diện…
– Sách mở ra những chân trời mới:
+ Sách mở rộng hiểu biết về thế giới tự nhiên và vũ trụ, về loài người, về các dân tộc…
2. Chứng minh vai trò của sách trong đời sống:
– Sách cung cấp tri thức về khoa học kỹ thuật, văn hóa, lịch sử, địa lý,… (dẫn chứng)
– Sách đưa ta khám phá tri thức của toàn nhân loại, của các dân tộc khác nhau trên thế giới… (dẫn
chứng)
– Sách giúp ta rèn luyện nhân cách, nuôi dưỡng khát vọng, ước mơ… (dẫn chứng)
– Với tuổi học sinh: sách cung cấp kiến thức toàn diện về mọi môn học: văn, toán, lí, hóa,…
3. Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách:
– Tạo thói quen lựa chọn sách, hứng thú đọc và học theo những sách có nội dung tốt.
– Học điều hay trong sách bên cạnh việc học trong thực tế.
Kết bài:
– Khẳng định vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của sách.
– Thái độ của bản thân đối với việc đọc sách.
Bài văn tham khảo
Sách là người bạn không thể thiếu được của con người, nhất là đối với học sinh sinh viên.
Ngày nay xã hội đã phát triển, con người đã có những cách tiếp cận khác nhau để đến với tri thức
nhưng sách vẫn vô cùng quan trọng, chính vì những ý nghĩa đó của sách, nhà văn M. Gorki từng nhận
định: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”.
Sách đưa đến cho chúng ta nguồn tri thức vô tận, giúp chúng ta mở mang kiến thức và vốn hiểu
biết theo từng ngày. Trong cuộc sống của mình, con người luôn luôn có ý thức học tập, tìm hiểu khám
phá thế giới tự nhiên và xã hội. Những kinh nghiệm, suy nghĩ của con người được ghi chép, lưu giữ
lại để truyền cho muôn đời con cháu mai sau. Và vì vậy, sách trở thành một con đường quan trọng để
con người đến với tri thức. Con người lưu lại vào sách những suy nghĩ tâm tư, tình cảm của mình về
những vấn đề trong cuộc sống…
Tùy vào loại tri thức con người lưu giữ mà sách có nhiều loại: sách khoa học, sách nghệ thuật,
sách đời sống… Với tất cả những kiến thức trong dân gian cũng như trong khoa học được ghi chép lại
vào sách, khi con người đọc sách, sách sẽ cung cấp tri thức cho con người, con người biết được mọi