MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên dân tộc (TDT - còn gọi là tộc danh) là một hiện tượng văn hoá
ngôn ngữ biểu hiện một nét văn hoá - xã hội, tâm lý - xã hội của mỗi dân tộc
(DT) trong những môi trường sống nhất định. Tên dân tộc là một vấn đề liên
quan chặt chẽ với nguồn gốc, đặc điểm văn hoá, phản ánh cách nhìn nhận,
phân chia thế giới khách quan của mỗi DT. Vì vậy, vấn đề TDT cũng là một
vấn đề nhạy cảm và mang tính văn hoá ứng xử của tộc người này, nhóm địa
phương (NĐP) này đối với các tộc người khác, các NĐP khác.
Mỗi DT thường mang nhiều tên gọi khác nhau. Ở mỗi thời kì lịch sử
nhất định thì mỗi DT lại có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau do quan niệm
văn hóa, cách định danh TDT của chính họ và các DT có quan hệ tiếp xúc.
Việc chọn được một tên gọi đúng đắn để gọi tên một DT là biểu thị thái độ
tôn trọng đối với DT đó, đồng thời chứng tỏ ý thức nghiêm túc về mặt khoa
học. Vì vậy khi nghiên cứu tên gọi các DT và NĐP về đặc điểm cấu tạo, ý
nghĩa,... sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm văn hoá, lịch sử của mỗi DT
và các NĐP, góp phần xác định một cách chính xác hơn tên gọi của họ.
Theo ý kiến của phần lớn các nhà khoa học, ở khu vực Đông Nam Á có
năm họ ngôn ngữ là: Nam Á (NA), Nam Đảo (NĐ), Thai-Ka đai, Hmông Dao (Mèo - Dao, Hmông - Miến) và Hán Tạng,. Cư dân sử dụng tiếng nói của
các họ ngôn ngữ này (ít nhiều) đều có mặt trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó
cư dân sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, chiếm một số lượng đáng
kể. Còn cư dân sử dụng các ngôn ngữ Nam Đảo ở nước ta chiếm một số
lượng không lớn và bao gồm ít DT hơn. Việc nghiên cứu so sánh đặc điểm
cấu tạo, ngữ nghĩa và văn hoá tên gọi của các DT và NĐP sử dụng các ngôn
ngữ thuộc hai ngữ hệ NA và NĐ sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể và
1
khái quát, đầy đủ hơn về cư dân các DT sử dụng ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ
mục gồm 59 dân tộc. So với bản danh mục trước đây thì bản danh mục này đã
có nhiều sự thay đổi. Sau khi thống nhất đất nước, các nhà khoa học có điều
kiện nghiên cứu các DTTS ở phía nam. Và đến năm 1979, một bản Danh mục
về thành phần các dân tộc ở Việt Nam được Tổng cục Thống kê (theo ủy
nhiệm của Thủ tướng Chính phủ) ban hành. Theo bản Danh mục thành phần
các dân tộc ở Việt Nam này, nước ta gồm 54 DT, trong đó người Kinh (Việt)
là DT đa số và 53 DTTS khác. So với bản Danh mục năm 1973, bản này có
một số thay đổi: đó là sự mất đi một vài dân tộc, sự kết hợp hai, ba nhóm DT,
NĐP thành một dân tộc, cùng với sự xuất hiện một vài DT mới, cũng như sự
xác định lại tên gọi đối với một số DT mới .
Tại sao con số tên gọi các DT ở nước ta lại thay đổi, khác biệt nhau đến
như vậy qua các thời kì ? Hiện trạng này cho chúng ta thấy được sự phức tạp
của thành phần các DT của nước ta. Gần đây, PGS. TS Đoàn Văn Phúc( Viện
ngôn ngữ quốc gia) cho biết, Ủy ban dân tộc Chính phủ nhận được các báo
cáo từ các tỉnh và tổng hợp cho thấy: hiện có 22 dân tộc, nhóm tộc người
thiểu số/ NĐP đề nghị được xác minh lại thành phần dân tộc, và 12 dân tộc,
nhóm tộc người/ NĐP đề nghị xác minh lại tên gọi và cách viết tên gọi của họ
bằng tiếng Việt.
Do những điều kiện lịch sử, địa lí đặc biệt, Việt Nam trong nhiều thiên
kỉ là ngã ba đường của các cuộc thiên di, đất lành tụ hội của nhiều tộc người.
Là một bộ phận của Đông Nam Á, thuộc về một trong những trung tâm hình
thành văn minh nông nghiệp, lại nằm ở ngã ba giữa lục địa và hải đảo, giữa
văn minh Trung Hoa phương bắc và văn minh Ấn Độ phía tây, các ngôn ngữ tộc người ở Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẽ của mọi biến cố lịch sử, kinh
tế, chính trị, văn hoá của khu vực. Do đó, bức tranh về tộc người ở Việt nam
thật phong phú, đa dạng. Quá trình hình thành tộc người ấy ở Việt Nam diễn
3
ra trong thời gian dài trên một địa bàn hội tụ nhiều luồng di cư, tạo nên rất
Việc nghiên cứu này góp phần giải quyết một số vấn đề quan trọng
đang gây tranh luận về nguồn gốc, lịch sử tộc người, quan hệ các nhóm tộc
người thuộc hai ngữ hệ này. Đồng thời việc này còn giúp chúng ta có cái nhìn
tổng thể về tên gọi các DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ
NA và NĐ ở Việt Nam. Vấn đề tên DT và các NĐP của các DTTS ở Việt
Nam được các nhà nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt là tên các nhóm tộc người/
NĐP. Điều này có thể thấy rõ qua những công trình nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu dân tộc học và các nhà ngôn ngữ học. Năm 2005, trong khoá luận
tốt nghiệp đại học, Hoàng Thị Nhung đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Đặc
điểm tên gọi các dân tộc thiểu số ở Việt Nam". Trong khoá luận này, chị đã
tổng kết, thống kê, phân tích, miêu tả và chỉ ra một số đặc điểm chung nhất về
cấu tạo hình thái, ngữ nghĩa và văn hoá của các tên DTTS. Tuy nhiên, do điều
kiện đề tài qua lớn và rộng nên chị chưa thể đi sâu phân tích được đặc điểm
về cấu tạo, ngữ nghĩa TDT và NĐP.
3. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài "So sánh đặc điểm tên gọi các dân tộc sử dụng ngôn ngữ thuộc
ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo ở Việt Nam" muốn áp dụng lí thuyết cấu tạo từ
và nghĩa của từ vào việc nghiên cứu và so sánh đặc điểm cấu tạo hình thái và
ngữ nghĩa cũng như văn hóa của một kiểu đơn vị định danh: tên DTTS (bao
gồm cả TDT và NĐP). Những kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra đặc điểm về cấu
tạo hình thái và ngữ nghĩa của một loại đơn vị định danh tồn tại trong tiếng
Việt - tên DT và NĐP. Bên cạnh đó, đề tài còn chỉ ra những điểm tương đồng
và khác biệt của tên DT sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai họ NA và NĐ, giúp
cho các nhà nghiên cứu có thêm những tư liệu mới về vấn đề lí thuyết về cấu
tạo từ thông qua loại đơn vị định danh đặc biệt này.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
5. TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Tư liệu
Tư liệu cho bản luận văn được thống kê qua sách báo, các công trình
nghiên cứu của những người đi trước, đồng thời chúng tôi cũng sử dụng thành
quả của Khoá luận "Đặc điểm tên gọi các dân tộc thiểu số ở Việt Nam" do chị
Hoàng Thị Nhung đã thực hiện năm 2005.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài kiểu này, người viết áp dụng một số phương pháp
nghiên cứu cũng như một số thủ pháp sau:
a) Phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm cấu tạo hình thái, ngữ
nghĩa của các đơn vị định danh. Tuy nhiên để có được tư liệu phân tích này,
chúng tôi vận dụng thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại dữ liệu và phân tích
thành tố trực tiếp các thành tố tạo nên TDT và NĐP. Trên cơ sở thống kê các
phiếu tư liệu chúng tôi tiến hành phân loại các số liệu đó theo từng nhóm,
từng vấn đề cụ thể.
b) Phương pháp so sánh để chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa
các đối tượng nghiên cứu.
c) Phương pháp quy nạp là phương pháp của tư duy lôgíc cũng được áp
dụng. Trên cơ sở các phiếu tư liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành miêu tả,
nhận xét và rút ra đánh giá tổng hợp để từ đó miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ
nghĩa và văn hoá của các TDT và NĐP đó.
6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
6.1. Về lý luận
7
Chương IV: Những tương đồng và khác biệt về tên dân tộc và nhóm địa
phương DTTS sử dụng các ngôn ngữ thuộc hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo.
Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục về: Tên các dân tộc và nhóm
địa phương sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á; Tên các dân tộc và
nhóm địa phương sử dụng các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH DANH, DANH XƯNG HỌC VÀ TỘC DANH
1.1.1. Về định danh
Ngôn ngữ có vai trò vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ của tư duy.
Tên gọi là biểu hiện cụ thể vai trò của ngôn ngữ. Vậy tên gọi có tác dụng như
thế nào đối với hoạt động suy nghĩ ? K. Marx viết: “...Trên lý luận người ta
cũng học hỏi biết cách đem những vật ngoại giói có thế thoả mãn nhu cầu
của mình phân biệt hết thảy với những vật khác. Sau này, khi đã đạt đến một
mức độ phát triển nào đó, và sau khi những nhu cầu của mình và những hình
thái hoạt động thoả mãn nhu cầu của mình đều tăng lên dần và phát triển
thêm một bước nữa, thì người ta lại đặt cho cả một lớp sự vật những tên gọi
khac nhau và người ta căn cứ vào kinh nghiệm đã có mà phân biệt các sự vật
đó với các sự vật khác của ngoại giới”. Điều này có nghĩa là tên gọi xuất hiện
do nhu cầu phân biệt các sự vật ở ngoại giới với nhau. Định danh là chức
năng gọi tên sư vật, hiện tượng của đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ.
9
Chức năng định danh được coi là một trong những tiêu chí để xác định từ. Sự
ngữ "danh xưng học" (onomastika) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
nghệ thuật đặt tên) là tên gọi toàn bộ các tên riêng. Danh xưng học thường
được chia nhỏ thành những bộ phận tương ứng với các đối tượng có tên gọi
riêng. Nhân xưng học nghiên cứu tên người. Địa danh học nghiên cứu các đối
tượng địa lý. Thiên văn học nghiên cứu tên gọi các vì sao và thiên thể trong
vũ trụ. Tộc danh học nghiên cứu tên gọi các tộc người. Lý thuyết định danh
phân biệt tên chung và tên riêng. Tên riêng là tên gọi của từng cá thể, chủ yếu
cá thể sự vật. Tên gọi DTTS và NĐP cũng là tên riêng.
1.1.3. Về khái niệm tộc danh - tên gọi dân tộc.
Hiện nay giữa các nhà nghiên cứu nhân học (anthopology) ở nước ta
cũng như trên thế giới không có một cách hiểu thống nhất về tộc người cũng
như các tiêu chí để xác định tộc người. Trong một số từ điển thuật ngữ về dân
tộc học xuất bản gần đây, tộc người (ethnic) thường được định nghĩa: đó là
một cộng đồng người hình thành trên một vùng lãnh thổ, có những đặc điểm
văn hoá (bao gồm ngôn ngữ) chung và ổn định cũng như ý thức về sự thống
nhất của mình và phân biệt với các cộng đồng khác bằng tên tự gọi của mình.
Ở Việt Nam, mỗi dân tộc thường mang nhiều tên gọi khác nhau. Trong số
những TDT và NĐP (mà chúng tôi thống kê được) chính là những tên tự gọi
và tên được gọi. Trong số này thậm chí có những tên được gọi đã chuyển
thành tên tự gọi của một dân tộc.
Mỗi thị tộc, bộ lạc hay dân tộc đều có tên gọi của mình, đó là tộc danh
(ethnonym - trong đó ethnos bắt nguồn từ Hy Lạp có nghĩa là bộ lạc, tộc
người; nyma - là tên gọi). Tộc danh được hiểu như tiêu chí để nhận biết tộc
người. Nó cũng được dùng như một tiêu chí để thống nhất trong nội bộ tộc
người. Tộc danh cũng được dùng như một tiêu chí để thống nhất trong nội bộ
11
tộc người và khu biệt với những người ngoài tộc người đó. Tộc danh còn có
nc ta hin nay, mt s tờn t gi ch DTTS nay vn ang c s
dng. ú l nhng tờn nh Thỏi, Ty,... hoc cú nhng tờn t gi mt s
NP nh C ho Srờ (C ho lm rung nc), Mó ling, Cht...
Tờn c gi (exonym) l tờn gi do cỏc dõn tc khỏc t cho. Tờn cỏc
DT khỏc t cho thng rc ri v phc tp. Mi DT trong tng vựng u
mang mt tờn ph bin ly trong s cỏc tờn gi do DT khỏc t cho mỡnh. Tờn
gi ph bin ny thng l ca mt DT cú dõn s ụng hn, cú u th hn v
mt chớnh tr, kinh t, vn hoỏ a phng. Trong bi vit "Bn v tờn gi
cỏc dõn tc min Bc nc ta"(trong "Về vấn đề xác định thành phần các
dân tộc thiểu số ở Miền Bắc Việt Nam", KHXH, H 1975, tr. 98 - 135) GS
ng Nghiờm Vn cú vit: "Nhng tờn gi ph bin ny thng ln ỏt tờn t
gi hay nhng tờn do dõn tc khỏc khi t cho v c dựng nh tờn chớnh
thc, thụng dng trờn cỏc sỏch bỏo trung ng v a phng". Cỏc tờn gi
ny cựng vi vic s dng trờn bỏo chớ l vic tn ti nhiu bin th do b
phiờn õm theo nhiu cỏch khỏc nhau ca nhng ngi nghe v thm õm khỏc
nhau.
tng thi kỡ lch s nht nh, mi dõn tc thng c gi bng
nhiu tờn khỏc nhau. Mt dõn tc khi tip xỳc vi mt dõn tc khỏc thng
theo hoc phng theo tờn t gi ca bn thõn dõn tc ú, hoc tờn ca mt dõn
tc khỏc ó gi h, hoc t t cho nhúm ngi mi quen bit ú l mt tờn
riờng theo ý ch quan ca mỡnh. Cỏch t tờn cho mt nhúm ngi thng ht
sc tu tin, nhiu khi cú nhng tờn gi sai lm thng c duy trỡ rt lõu.
Nhng tờn gi y tn ti song song di tng thi k lch s v tờn gi ca
mt dõn tc c coi l chớnh thc cng cha hn l ó theo mt quy lut no.
13
Tự bản thân mỗi dân tộc, qua từng thời kì lịch sử, lại muốn thay đổi tên gọi
của mình cho phù hợp với điều kiện lịch sử và xã hội lúc đó. Và sự thay đổi
còn lại là khác, không phải chúng ta. Cái tối thiểu trong ý thức tự giác tộc
người của mỗi thành viên là biết về tên tự gọi tộc người của mình. Ý thức tự
giác dân tộc thuộc về ý thức hàng ngày của con người. Nó được hình thành
trong quá trình giáo dưỡng của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như
vậy ý thức tộc người là tiêu chí quan trọng để nhận biết sự sở thuộc của một
cá nhân hay một nhóm người thuộc về một cộng đồng tộc người nào đó; ý
thức tộc người liên quan chặt chẽ với tên gọi của cộng đồng tộc người nào đó;
ý thức tộc người liên quan chặt chẽ với tên gọi của cộng đồng mà mỗi người
thừa nhận và tự gắn kết mình với cộng đồng .
Còn ở Việt Nam, sau nhiều cuộc hội thảo, hội nghị thì năm 1973 các
nhà nghiên cứu đã đi đến thống nhất ba tiêu chí để xác định tộc người, đó là:
- Có chung tiếng nói (ngôn ngữ).
- Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá.
- Có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc.
Với ba tiêu chí này, các nhà khoa học của chúng ta đã đưa ra danh mục
53 dân tộc thiểu số năm 1978, được Tổng cục thống kê thông qua năm 1979
và sử dụng cho tới ngày nay .Với một đất nước đa DT như Việt Nam, việc
xác định tộc người gặp nhiều khó khăn. Các tiêu chí áp dụng đã và đang gây
nhiều tranh cãi. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn có viết: "Những tiêu chí xác định
một dân tộc Việt Nam được rút ra thể hiện qua tên gọi, nhất là tên tự gọi của
tộc người qua ngôn ngữ (...), qua lịch sử, chí ít qua mối quan hệ về nguồn gốc
chung thể hiện qua huyền thoại về nguồn gốc tộc người, những truyền thuyết
về nơi quê hương xưa hư hay thực, nơi tổ tiên cư trú, về quá trình thiên di và
17
chuyển cư của các tộc người hay những trang sử chép tay, truyền miệng. Tiêu
chí đó còn được thể hiện qua một số đặc trưng văn hoá, một số thói quen
trong cung cách sinh hoạt rất riêng biệt khi thể hiện ở những chi tiết rất dễ
1.3. VỀ HỌ NGÔN NGỮ NAM Á VÀ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM
1.3.1. Họ ngôn ngữ Nam Á
Theo các nhà ngôn ngữ học, họ ngôn ngữ Nam Á được coi là họ ngôn
ngữ của cư dân bản địa trong khu vực Đông Nam Á lục địa. Cư dân sử dụng
các ngôn ngữ họ này có mặt trên lãnh thổ hầu hết các nước Đông Nam Á lục
địa (Miến Điện, Thái Lan, tây Malaysia, Việt Nam, Lào, Campuchia), nam
Trung Quốc, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan và Bănglađét. Họ ngôn ngữ này được
chia thành bốn chi là Mun Đa, Nicôbar, Aslia và Môn Khơ me. Trong bốn chi
này, chi Môn Khơ me được coi là chi quan trọng nhất. Các nhà nghiên cứu
hiện nay khá nhất trí với nhau rằng những ngôn ngữ Nam Á có mặt ở Việt
Nam đều thuộc chi Môn Khơ me. Những ngôn ngữ này được xác định là
thành viên của các tiểu chi Khơ me, Ba na, Ka tu, Việt - Mường và Khơ mú.
Gần đây, trong công trình “Tiếng Mảng” (2008, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội) thì nhóm tác giả Nguyễn Văn Lợi, Tạ Văn Thông, Nguyễn Hữu Hoành
đồng ý với quan niệm của một số người đề nghị tách tiếng Mảng khỏi tiểu chi
Khơ mú (cùng với một số ngôn ngữ ở Trung Quốc) thành một tiểu chi riêng
có tên là Mangic.
Theo "Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam" (1979) do Tổng
cục Thống kê ban hành (theo ủy nhiệm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức
Thủ tướng Chính phủ), có 24 DTTS sử dụng các ngôn ngữ Nam Á gồm (trang
sau):
20
1. Khơ mú
9. Bru - Vân Kiều
22. Chơ ro
7. Thổ
15. Hrê
23. Rơ măm
8. Chứt
16. Brâu
24. Khơ me
1.3.2. Họ ngôn ngữ Nam Đảo
Họ ngôn ngữ NĐ là một trong những họ ngôn ngữ lớn trên thế giới. Chỉ
riêng nhánh phía Tây, theo con số thống kê năm 2010 của các nước trong khu
vực đã có gần năm trăm triệu người sử dụng. Địa bàn cư trú của cư dân nói họ
ngôn ngữ này phân bố ở vùng Đông Nam Á, chủ yếu là ở Indonesia,
Malaysia, Philippin, Đài Loan, cùng với một số ở Thái Lan, Cămpuchia và
Việt Nam. Đây là họ ngôn ngữ được xác định có tới hơn một ngàn ngôn ngữ
khác nhau. Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc họ NĐ chỉ có 5
ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Chăm. Theo Danh mục thành phần các dân tộc ở
Việt nam (1979) thì có 5 dân tộc sử dụng các ngôn ngữ NĐ dưới đây:
1. Chăm
4. Churu
2. Gia rai
Ở các ngôn ngữ NA và NĐ, mối quan hệ hạn định được biểu thị bằng
trật tự cú pháp: yếu tố được hạn định - yếu tố hạn định, kiểu như: deeng
plăng (nhà - tranh: nhà tranh) trong tiếng Ta ôi, hay sang hră (nhà – chữ:
trường học). Đây chính là một điều rất đáng lưu ý khi so sánh đặc điểm cấu
tạo tên gọi DT và NĐP các dân tộc thuộc hai họ ngôn ngữ này.
22
1.4. ĐƠN VỊ MIÊU TẢ
Để thuận tiện cho việc phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữ
nghĩa loại tên gọi này, chúng tôi cho rằng: trong cấu tạo các đơn vị định danh
tên DT và NĐP, có lẽ nên căn cứ vào:
1.4.1. Số lượng các thành tố tham gia cấu tạo
Chúng tôi không phân chia TDT và NĐP thành các đơn vị như từ,
ngữ,... mà chỉ gọi chung là đơn vị định danh. Về số lượng thành tố tham gia
cấu tạo, các đơn vị định danh này có thể được phân thành:
+ Đơn vị định danh đơn thành tố: Mường, Thổ, Cuối, Co, Chăm, Cơ
ho, Chu ru... Về phương diện ngữ âm, mỗi thành tố này có thể có vỏ ngữ âm
là đơn tiết hoặc đa tiết.
+ Đơn vị định danh đa thành tố, kiểu như: Xinh mun, Gié - Triêng, Bru
- Vân Kiều, Thổ Mọn, Mọi Sơn Phòng, Cơ ho Srê, Cơ ho Lách/Lạt....
Đối vối các đơn vị định danh đơn thành tố thì bản thân chúng không có
cấu trúc nội bộ. Chỉ có các đơn vị định danh đa thành tố mới có cấu tạo nội bộ
mà thôi. Bởi vậy trong luận văn này khi xét cấu tạo của tên DT và NĐP,
chúng tôi chỉ xem xét đến loại đơn vị định danh đa thành tố. Theo lý thuyết
định danh, đơn vị đa thành tố thì bao giờ cũng có ít nhất một thành tố chính
/chung được kí hiệu C. Thành tố chính này thường chỉ một lớp sự vật, đối
Kết hợp cả tiêu chí về số lượng thành tố và đặc điểm ngữ âm: số lượng
âm tiết, ta thấy sẽ có các đơn vị định danh TDT và NĐP cư dân sử dụng các
ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo ở Việt Nam sẽ phức tạp hơn. Những tư liệu
của chúng tôi về đặc điểm cấu tạo tên DT và NĐP sử dụng các ngôn ngữ
thuộc hai ngữ hệ NA và NĐ sẽ được thống kê phân tích theo cách nhìn nhận
24
và lý giải của khung phân loại này. Đối với những đơn vị định danh đặc biệt,
chúng tôi sẽ có sự lý giải riêng.
1.5. MỐI QUAN HỆ GIỮA TÊN DT VÀ NĐP VỚI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
Nói đến vấn đề văn hoá bộc lộ qua tên gọi các DT và NĐP là chúng ta
đề cập đến mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ. Đó cũng là vấn đề đã được
rất nhiều nhà ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý ngôn ngữ học, văn hóa học...
quan tâm. Để tìm hiểu mối quan hệ này chúng ta cần đề cập tới hai khái niệm
ngôn ngữ và văn hoá.
Theo quan niệm phổ biến và tồn tại từ lâu thì ngôn ngữ là công cụ giao
tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy. Humbololt cho rằng: “ngôn ngữ
là linh hồn của dân tộc”. Còn Edward Sapir thì nói: “Con người không chỉ
sống trong một thế giới khách quan của các sự vật, cũng không chỉ sống
trong thế giới của các hoạt động xã hội như vẫn thường nghĩ mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ cụ thể vốn là phương tiện giao tiếp trong xã hội
của họ”. Dưới góc độ xã hội - ngôn ngữ học, ngôn ngữ đóng vai trò điều hành
xã hội, liên kết các thành viên trong một cộng đồng dân tộc.
Cho đến nay, trên thế giới có tới hàng trăm định nghĩa về khái niệm
văn hóa. Khái niệm văn hóa bắt nguồn từ khái niệm kultus (có nghĩa là "trồng
trọt") trong tiếng La tinh, và có từ trước Công nguyên. Khái niệm này được
người Châu Âu sử dụng dưới các từ khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ của