Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Thực trạng và giải pháp phục vụ phát triển ở địa phương - Pdf 41

MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................................1
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM................................................3
1.1. Vị trí và chức năng...........................................................................................................3
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn...................................................................................................3
1.3. Cơ cấu tổ chức..................................................................................................................4
1.4. Lịch sử hình thành và phát triển.......................................................................................6
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam 40 năm xây dựng và phát triển.................................6
Chương 2...............................................................................................................................24
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN.....................................................................24
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển cồng chiêng Tây Nguyên............................................24
2.2.1. Nhạc cụ cồng chiêng Tây Nguyên..............................................................................25
2.2.1.1 Giới thiệu về cồng chiêng Tây Nguyên....................................................................25
2.2.1.2 Phân loại cồng chiêng Tây Nguyên..........................................................................27
2.2.2. Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng Tây........................................................................29
2.3. Cồng chiêng trong đời sống thần linh của dân tộc Ba Na..............................................32
Chương 3...............................................................................................................................37
GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA..................................................37
CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN........................................................................................37
3.1. Đánh giá văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên..................................................................37
3.1.1. Giá trị tốt đẹp của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.................................................37
3.1.1.1. Giá trị lịch sử............................................................................................................37
3.1.1.2 Giá trị nhân văn........................................................................................................38
3.1.1.3 Giá trị nghệ thuật.......................................................................................................39
3.2 Nguyên nhân văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ của sự mai
một........................................................................................................................................40
3.3 Giải pháp giữ gìn và bảo tồn hóa cồng chiêng Tây nguyên...........................................41
KẾT LUẬN...........................................................................................................................44

MỞ ĐẦU
1. Lí do chon đề tài

- So sánh.
- Phân tích tổng hợp.
5. Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP VIỆN VĂN
HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Chương 2: VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA
CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

2


Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1. Vị trí và chức năng
Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là đơn vị sự nghiệp khoa
học, trực thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, có chức năng nghiên cứu, triển
khai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa nghệ thuật và văn
hóa du lịch.
Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (sau đây gọi tắt là Viện) có con
dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; trụ sở tại thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: 32 Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04 3856 9162
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
Trình Bộ trưởng kế hoạch dài hạn, hàng năm về hoạt động nghiên cứu khoa
học, đào tạo sau đại học của Viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
hoạch định chiến lược, xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước về văn
hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; nghiên cứu cơ bản những vấn đề lý

Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng đào tạo
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và
số lượng người làm việc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý tổ chức bộ
máy, nhân sự; thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người
lao động, người học thuộc phạm vi quản lý của Viện theo quy định của pháp luật
và phân cấp quản lý của Bộ.
Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao, ngân sách được phân bổ và
các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.
1.3. Cơ cấu tổ chức
Lãnh đạo Viện:
Viện trưởng và các Phó Viện trưởng.
Các phòng chức năng:
a. Phòng Khoa học, Hợp tác quốc tế;
4


b. Phòng Thông tin,Thư viện;
c. Phòng Tài vụ;
d. Phòng Hành chính, Tổ chức.
Các ban chuyên môn:
a. Ban Nghiên cứu Chính sách và Quản lý văn hoá;
b. Ban Nghiên cứu Di sản văn hoá;
c. Ban Nghiên cứu Văn hóa Sinh thái và Du lịch;
d. Ban Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật nước ngoài;
đ. Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hoá nghệ thuật;
e. Ban Nghiên cứu Nghệ thuật;
g. Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình;
h. Trung tâm Dữ liệu di sản văn hoá;

Khác với một số viện nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 40
năm qua, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có những lần thay đổi tên gọi và
cơ cấu tổ chức. Có thể thấy sự thay đổi ấy ở năm thời kỳ sau:
Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thông
tin, lãnh đạo Bộ Văn hóa trước đây mà nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
luôn chú trọng công tác nghiên cứu khoa học. Những năm sáu mươi của thế kỷ
XX, Vụ Âm nhạc và múa có Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa, Vụ Mỹ thuật
có Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ. Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, ngày 1 - 4
- 1971, GS. Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, đã ký quyết định
44/VH-QĐ thành lập Viện Nghệ thuật, tiền thân của Viện Văn hóa Nghệ thuật
Việt Nam ngày nay. Vị trí của Viện được xác lập: "là cơ quan giúp Bộ nghiên
cứu những vấn đề thuộc về lý luận học thuật của các bộ môn nghệ thuật: mỹ
thuật (gồm cả mỹ nghệ), sân khấu, nhạc, múa, điện ảnh theo đường lối, quan
điểm nghệ thuật của Đảng và Nhà nước". Lãnh đạo Bộ đã phân công nhà lý luận
Hà Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Văn hóa trực tiếp kiêm nhiệm làm viện
trưởng, đồng thời điều động những nghệ sĩ, cán bộ quản lý từ các trường, cục,
vụ, viện như các ông Nguyễn Phúc, Trần Đình Thọ, Nguyễn Đức Nùng, Trần
Bảng, Nguyễn Đức Lộc, Phạm Đình Sáu, Tú Ngọc, Đặng Đình Trung, Lê Huy
về làm nhiệm vụ quản lý các ban chuyên môn của Viện. Cùng với việc này, lãnh
đạo Bộ và lãnh đạo Viện đã mở cửa chiêu hiền đãi sĩ tập hợp lực lượng khoa học
6


ở nhiều nơi, nhiều nguồn khác nhau về Viện Nghệ thuật như các ông Hồ Sĩ
Vịnh, Nguyễn Từ Chi v.v... Đáng lưu ý là định hướng thành lập Tổ chuyên san
nghiên cứu nghệ thuật do nhà lý luận Hà Xuân Trường làm chủ nhiệm, hoạ sĩ,
nhà giáo Trần Đình Thọ làm Tổng biên tập, ông Nguyễn Phúc làm uỷ viên
thường trực Ban biên tập tờ chuyên san. Hoạt động của Viện Nghệ thuật trong
những ngày gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi

Nghiên cứu Sân khấu, Viện Âm nhạc và Múa, Viện Mỹ thuật và tạp chí Nghiên
cứu Văn hóa Nghệ thuậtđể thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Cuộc
hợp nhất lần này của các viện chuyên ngành, như sự trở về của những người anh
em đi làm ăn xa, trở về ngôi nhà chung. Một ban lãnh đạo Viện với Viện trưởng
Lê Anh Trà và 4 phó Viện trưởng: Nguyễn Phúc, Tô Ngọc Thanh, Trần Việt
Sơn, Nguyễn Đức Lộc điều hành các công việc của Viện, riêng ông Trần Việt
Sơn trực tiếp làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật, ông Nguyễn Đức Lộc trực tiếp
làm Viện trưởng Viện Sân khấu. Tại phía Nam, tổ thường trú phía Nam của Viện
Văn hóa và Phân viện Âm nhạc và Múa củaViện Âm nhạc và Múa được hợp
nhất thành Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói, với
4 viện chuyên ngành trực thuộc và một phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh
cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, đội ngũ cán bộ nghiên cứu
của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam khá đông đảo và hùng hậu. Nhiều cán bộ
của Viện là những nhà khoa học có uy tín, tên tuổi. Có thể kể đến về văn hóa
dân gian và âm nhạc dân tộc học với Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Lư Nhất Vũ v.v...;
về lý luận văn hóa với Lê Anh Trà, Hồ Sĩ Vịnh, Trường Lưu v.v...; về mỹ thuật
với Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Thái Bá Vân, Trần Lâm
Biền, Nguyễn Bá Vân v.v...; về âm nhạc với Nguyễn Xinh, về sân khấu với
Hoàng Chương, Trần Việt Ngữ, Đoàn Thị Tình v.v...; về múa với Lâm Tô Lộc.
Một sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện là Viện được
chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh vào năm 1991. Đây cũng là cơ
sở đào tạo trên đại học duy nhất ở nước ta đào tạo phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ), tiến
sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) về văn hóa nghệ thuật với hai mã số: lịch sử văn hóa
và nghệ thuật, mã số 5.03.13, nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02. Hoạt động đào
tạo trên đại học này có tác động rất lớn đến công tác đào tạo nguồn nhân lực và
nghiên cứu khoa học của Viện cũng như của ngành Văn hóa thông tin.

8




trưởng Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định thành lập Phân viện Nghiên cứu
Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Huế.
Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đào tạo tiến sĩ, từ năm
1997, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật được giao thêm nhiệm vụ làm thành
viên Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, trực tiếp
điều hành nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc
Việt Nam. Ngoài nhiệm vụ làm tư vấn cho lãnh đạo Bộ: đề xuất, kiểm tra các
địa phương thực hiện dự án, Viện còn trực tiếp tiến hành một loạt các dự án sưu
tầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Bộ Văn
hóa - Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho xây dựng tại Viện
Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam một ngân hàng dữ liệu (databank) về di sản văn
hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam.
Từ năm 2000, Viện chuyển nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc
mã số 5.08.02 cho Nhạc viện Hà Nội, Viện chỉ còn lại đào tạo tiến sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13.
Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin
Ngày 16-7-2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị
ký quyết định 29/2003/QĐ-BVHTT đổi tên Viện thành Viện Văn hóa - Thông
tin. Ngày 08 - 07 - 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị
ký quyết định 52/2004/QĐ-BVHTT quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa - Thông tin. Vị trí của Viện được xác định:
"là đơn vị sự nghiệp khoa học, có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động
khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa thông tin". Từ vị trí và chức năng
này, các phòng, ban nghiên cứu, hai phân viện cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa
Thông tin đã được thành lập. Năm 2006, Bộ Văn hóa - Thông tin lại cho thành
lập Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á tại Viện.
Năm 2003, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện có sự thay đổi. Từ một
chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã cho phép Viện đào tạo tiến sĩ Văn hóa học với 3 chuyên


11


40 năm trôi qua, từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt
Nam là một chặng đường Viện đã qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức, tên gọi,
nhưng tựu trung vẫn luôn luôn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo
sau đại học hàng đầu về văn hóa, nghệ thuật của ngành văn hóa, thể thao và du
lịch Việt Nam.
Bốn mươi năm hoạt động của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
Nhìn lại một chặng đường phát triển, rõ ràng những thế hệ các nhà nghiên
cứu tại Viện Nghệ thuật mà nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã liên
tục không ngừng phấn đấu, đóng góp vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học về văn
hóa nghệ thuật nước nhà. Có một điều cần khẳng định, những hoạt động nghiên
cứu khoa học và thành tựu của các viện chuyên ngành như Viện Sân khấu, Viện
Âm nhạc và Múa, Viện Văn hóa, Viện Mỹ thuật (từ năm 1988 đến năm 1995) và
tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (từ năm 1988 đến năm 1993) trong thời
gian là bộ phận trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cũng chính là
hoạt động nghiên cứu và thành tựu của Viện. Thành tựu của Viện trong những
năm qua thể hiện qua các mặt hoạt động sau:
Về nghiên cứu khoa học
Công tác nghiên cứu khoa học được thực hiện từ những ngày đầu mới
thành lập. Trong khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi
ác liệt, thế hệ những nhà nghiên cứu đầu tiên của Viện đã mang hết tâm sức của
mình cho những đề tài khoa học. Từ đi điền dã đến các hội thảo, các nhà nghiên
cứu của Viện đã rất cần mẫn và say sưa. Những ngày đầu mới giải phóng miền
Nam, cán bộ của Viện lại hăm hở nhiệt tình đi nghiên cứu ở Tây Nguyên, ở
vùng đồng bào Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều công trình có giá trị
của các nhà nghiên cứu trong Viện như các công trình của nhà lý luận Hà Xuân
Trường, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v... được hoàn thành và công bố

nhập quốc tế (năm 2011); Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại,
nghiên cứu trường hợp thờ Hùng Vương của Việt Nam (năm 2011) v.v…
Các cán bộ khoa học của Viện đã tham dự nhiều hội thảo khoa học quốc
tế ở Việt Nam và các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đức, Ấn Độ,
New Zealand, Canada, Hoa Kỳ, Philipin, Nhật Bản v.v... Hội thảo khoa học
quốc tế Việt Nam học lần thứ 2 do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức
năm 2004 tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện đã có 10/316 tham luận của các học
giả trong nước và nước ngoài. Hội thảo quốc tế thường niên của Hội nhân học
Hoa Kỳ năm 2008 tại Hoa Kỳ, 05 cán bộ khoa học của Viện có tham luận thành
một tiểu ban trình bày trong hội thảo. Năm 2011, tại hội thảo quốc tế của Hội
nhân học Đông Á tại Hàn Quốc, 04 cán bộ khoa học của Viện đã có tham luận,
15


thành một tiểu ban trình bày trong hội thảo. Trên tinh thần khiêm tốn nhất, vẫn
phải ghi nhận cố gắng không mệt mỏi ấy của cán bộ khoa học của Viện, trong
hội nhập quốc tế, đưa Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngang tầm với các
viện nghiên cứu trong khu vực.
Hoạt động thông tin khoa học được chú trọng và phát triển. Thời kỳ Viện
mang tên là Viện Nghệ thuật, tạp chíNghiên cứu Nghệ thuật của Viện, dưới sự
lãnh đạo của chủ nhiệm Hà Xuân Trường, nhà lý luận; Tổng biên tập Trần Đình
Thọ và nỗ lực của Ban biên tập gồm những nhà khoa học đầy uy tín như các nhà
lý luận Nguyễn Phúc, Hồ Sĩ Vịnh, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v... đã là
cơ quan ngôn luận khoa học có uy tín trong nước, tập hợp được những nhà
nghiên cứu có tên tuổi trong nước, công bố nhiều công trình có giá trị. Thời kỳ
sáp nhập các viện chuyên ngành thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, các
vị lãnh đạo các viện chuyên ngành lại cũng là thành viên của hội đồng biên tập
tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, vì thế, hàng loạt công trình nghiên cứu
của các nhà nghiên cứu trong Viện cũng được công bố ở tạp chí này. Thời kỳ
Viện mang tên Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, cơ quan ngôn luận của

Chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, 298 dự án đã được các nghiên
cứu viên của Viện thực hiện, trong đó có 68 dự án văn hóa phi vật thể các dân
tộc thiểu số thực hiện ở khu vực miền núi vùng sâu vùng xa. Từ dữ liệu của các
dự án do Viện và các tỉnh thành phố tiến hành, Viện đã xây dựng một Ngân
hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Ngân
hàng dữ liệu đã lưu trữ 1.100 băng với 860 băng Betacam, băng VHS tư liệu gốc
với thời lượng hơn 100.000 phút, hơn 500 phim khoa học với thời lượng hơn
15.000 phút, 535 album ảnh với hơn 100.000 ảnh; 350 băng cassette, hơn 500
báo cáo điền dã về các di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc ở Việt Nam.
Các dữ liệu đã được lưu trữ, phân loại đúng quy chuẩn.
Công việc làm phim nhân học (Anthopology film) được Viện thực hiện từ
năm 1990, với rất nhiều phim khoa học kiểu dân tộc học, nhân học được lưu trữ
trong Ngân hàng dữ liệu. Từ năm 2008, Quĩ Ford (Hoa Kỳ đã tài trợ cho Viện
01 dự án để các nghiên cứu viên của Viện học tập kinh nghiệm làm phim nhân
học của thế giới. Kết quả, trong liên hoan phim ở Vân Nam tháng 03 - 2011
(Trung Quốc), 07 phim của các nhà khoa học trong Viện được trình chiếu và
đánh giá cao.
17


Từ các dữ liệu của Ngân hàng dữ liệu và những tư liệu mới thu thập qua
khảo sát điền dã, Viện đã thực hiện thành công công việc xây dựng bộ hồ
sơ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để đệ trình UNESCO công
nhận Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Ngày 25-11-2005,
Tổng giám đốc UNESCO đã tuyên bố công nhận Không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên của Việt Nam là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể
của nhân loại (nay là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại). Năm
2005, Bộ Văn hóa - Thông tin lại giao cho Viện phối hợp cùng Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh xây dựng bộ hồ sơ Dân ca quan họ Bắc Ninh để đệ
trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Ngày 30-10-2009, tại kỳ họp của Ủy ban liên chính phủ theo Công ước năm

số 5.08.02, tổ chức cho 18 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ
khoa học (nay là tiến sĩ).
Từ năm 2000, Viện thực hiện quy trình đào tạo tiến sĩ mới theo quy định
tại Quy chế đào tạo tiến sĩ được ban hành theo quyết định số18/2000/QĐBGD&ĐT ngày 08-06-2000 về việc ban hành "Quy chế đào tạo sau đại học” của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2000, Viện chuyển công việc đào tạo tiến sĩ
chuyên ngành nghệ thuật âm nhạc cho Nhạc viện Hà Nội. Năm 2003, Bộ Giáo
dục ban hành danh mục các chuyên ngành đào tạo tiến sĩ mới. Viện đã được Bộ
Giáo dục Đào tạo cho phép mở 6 chuyên ngành đào tạo: Văn hóa học mã số
62.31.70.01, Văn hóa dân gian mã số 62.31.70.05, Quản lý văn hóa mã số
62.31.73.01 thuộc khoa Văn hóa học; Lý luận và Lịch sử mỹ thuật mã số
62.21.20.01, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu mã số 62.21.40.01, Lý luận
và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình, mã số 62.21.50.01 thuộc khoa học
Nghệ thuật.
Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư số 10 về đào tạo tiến
sĩ. Công việc đào tạo tiến sĩ có nhiều thay đổi, theo hướng nâng cao chất lượng và
hội nhập quốc tế. Được giao quyền tự chủ về mọi phương diện từ tuyển đầu vào đến
tổ chức đào tạo và cấp bằng tiến sĩ cho NCS v.v..., Viện phải chú trọng nâng cao chất
lượng mọi công việc để giữ vững "thương hiệu” của mình.
Tính đến tháng 10-2011, Viện đã và đang đào tạo 14 khoá nghiên cứu
sinh các chuyên ngành thuộc khoa học văn hóa và khoa học nghệ thuật gồm 162
nghiên cứu sinh (trong đó có 03 nghiên cứu sinh của CHDCND Lào). Trong số
19


này, có nhiều người là các giảng viên, cán bộ nghiên cứu từ các viện và trường:
Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Nhạc viện
thành phố Hồ Chí Minh, trường Nghệ thuật Sân khấu Điện ảnh thành phố Hồ
Chí Minh, trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu
Văn hóa dân gian, trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, và Đại học Mỹ thuật thành
phố Hồ Chí Minh… và một số anh chị em khác đến từ các cơ quan quản lý văn

phó giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Xuân Hồng, phó
hiệu trưởng trường Đại học văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Văn
Tình, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, TS. Ngô Phương Lan, Phó cục trưởng
phụ trách Cục Điện ảnh, TS. Huỳnh Văn Tới, Ủy viên Thường vụ Tỉnh uỷ,
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Đăng Vũ, Tỉnh ủy viên,
giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, TS. Phan Quốc
Anh, Tỉnh ủy viên, giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận v.v...
Về phát triển nguồn nhân lực
Bốn mươi năm, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện cũng trải qua nhiều
biến động. Nhưng cũng chính tại môi trường của Viện, hai nhà khoa học của
Viện đã được phong PGS năm 1984 rồi GS năm 1991 là GS.TS. Lê Anh Trà và
GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh. Tại các viện chuyên ngành và tạp chí Nghiên cứu
Văn hóa Nghệ thuật, các nhà khoa học như Nguyễn Từ Chi, Hồ Sĩ Vịnh,
Nguyễn Thuỵ Loan, Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ v.v... đã được phong PGS
vào các năm 1984 và 1992.
Từ năm 2003 đến nay, các cán bộ khoa học của Viện đã được phong chức
danh PGS là PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên, PGS.TS Nguyễn Chí Bền, PGS.TS.
Lương Hồng Quang, PGS.TS. Bùi Quang Thắng, PGS.TS. Bùi Quang Thanh,
PGS.TS. Lê Thị Hoài Phương. Năm 2011, PGS.TS. Nguyễn Chí Bền được Viện
hàn lâm Khoa học xã hội Vân Nam (Trung Quốc) trao tặng danh hiệu Viện sĩ
danh dự của Viện hàn lâm khoa học xã hội Vân Nam (Trung Quốc). Từ năm
2000 đến nay, nhiều nghiên cứu viên của Viện đã bảo vệ thành công luận án tiến
sĩ như Bùi Quang Thắng, Đỗ Lan Phương, Bùi Hoài Sơn, Vũ Anh Tú, Trần
Đình Hằng.
Từ sau năm 1996, vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ được lãnh đạo
Viện đặc biệt quan tâm. Một số cán bộ trẻ đã được gửi đi đào tạo tại Vương
quốc Anh, Ôxtrâylia, một số cán bộ được thực hiện những chuyến nghiên cứu ở
21



22


Về xây dựng cơ sở vật chất
Đây là lĩnh vực Viện được lãnh đạo Bộ và các Vụ, Cục chức năng quan
tâm, tạo điều kiện. Cho đến nay, công tác xây dựng cơ sở vật chất cho cả ba cơ
sở ở Hà Nội, thành phố Huế, thành phố Hồ Chí Minh của Viện cơ bản đã hoàn
thành, Viện đã có một cơ ngơi bước đầu đáp ứng yêu cầu của một viện nghiên
cứu khoa học ở cả ba cơ sở tại thành phố Hà Nội, thành phố Huế và thành phố
Hồ Chí Minh.

23


Chương 2
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch
sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu
duệ" của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ
đá: cồng đá, chiêng đá... tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng... Từ
thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu
hiện của tín ngưỡng là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... âm thanh khi ngân
nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với
tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả
các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng
nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi
nghe khan... đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng
chiêng nối liền, kết dính những thế hệ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên,

của Việt Nam và cũng được thấy những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn nhạc
cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nét văn hóa truyền thống rất
riêng của Việt Nam, rất tuyệt vời và đặc sắc. Việc công nhân Danh hiệu Kiệt tác
di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đối với Văn hóa Cồng
chiêng Tây Nguyên là rất xứng đáng”.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status