LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô giáo
TS.Trần Thị Thanh Huyền đã tận tình, chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá
trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ to lớn, những
ý kiến đóng góp quý báu của thầy TS.Cao Phi Bằng, Khoa Khoa học Tự
nhiên, Trường Đại học Hùng Vương, Tỉnh Phú Thọ
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong bộ
môn Sinh lý học thực vật và Ứng dụng, bộ môn Công nghệ sinh học và Vi sinh,
bộ môn Hóa sinh tế bào, bộ môn Di truyền học đã tạo điều kiện về thời gian,
thiết bị, hóa chất, phòng thí nghiệm giúp em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Trung tâm Tài nguyên Thực vật,
Viện KHNN Việt Nam đã cung cấp hạt giống và những thông tin về các
giống vừng giúp em hoàn thành tốt đề tài.
Em xin gửi lời cảm đến tập thể cán bộ phòng Công nghệ tế bào thực vật Viện Công nghệ Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam đã tận tình
giúp đỡ em nhanh chóng hoàn thành đề tài.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong
gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, Tháng 9 năm 2015
Học viên
Đỗ Thị Hằng
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết
ABA
Axit deoxyribo nucleic
Amplified fragments length polymorphism
Adenozin triphotphat
Arabidopsis Axit ribonucleic thalian
Axit ribonucleic
Áp suất thẩm thấu
Axit deoxyribo nucleic complement
Basic local alignment search tools
Bảo vệ thực vật
Cây không héo
Cây phục hồi
Cộng sự
Dehydrin
Đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Điều kiện
Dinitrosalicylic
DNA Data Bank of Japan
SIB Bioinformatics Resource Portal
European Molecular Biology Laboratory
Expressed Sequence Tags (trình tự biểu hiện)
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Late embryogenesis abundant protein
Lượng mưa trung bình
Multiple sequence alignment
National Center for Biotechnology
P5CS
PCR
(4-5%) [31]. Ngoài ra còn có axit oleic (C18 H34 O2) chiếm (45,3-49,4%) và
axit ninoleic (C18 H32 O2) chiếm (37,7 - 41,2%), không có cholesterol [9], [14],
[25], [41]. Nên dầu vừng ngày càng được đánh giá là loại dầu có ưu điểm
vượt trội hơn so với các loại dầu khác, dùng để làm thực phẩm và làm thuốc
để chữa bệnh. Đặc biệt là trị các bệnh nội khoa mãn tính, tim mạch, gan mật
[32], [41],[45], [53], [66], [72].
Trên thế giới, cây vừng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu theo nhiều
hướng khác nhau. Trong đó, phần lớn các nghiên cứu chủ yếu về những biến
đổi sinh lý trước và sau khi nảy mầm, còn một số nghiên cứu về ảnh hưởng
của điều kiện hạn đến sự nảy mầm, sinh trưởng phát triển, năng suất của cây
vừng…đã được thảo luận và đăng trên tạp chí chuyên ngành [34], [35], [72].
Cho đến nay, ở Việt Nam các công trình và các hướng nghiên cứu về
vừng còn rất ít. Chủ yếu các nghiên cứu về hướng chọn tạo giống mới như
V6, V36, VD10, cho năng suất cao, chất lượng tốt, hay tập trung nghiên cứu
5
sâu hơn về một số chỉ tiêu hóa sinh thực phẩm, dinh dưỡng trong hạt, việc
khai thác, sử dụng và chế biến bột vừng làm thức ăn cho trẻ em, làm dược
phẩm chữa trị bệnh. Một vài nghiên cứu về khả năng chống sâu bệnh, chống
đổ lốp, chống tách vỏ…nhằm áp dụng để nâng cao năng suất cây vừng [10],
[14], [37], [39], [43]. Cũng có một số nghiên cứu về các gen liên quan đến
tính chịu hạn của vừng nhưng chưa được nghiên cứu sâu [15].
Trong khi đó, Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,
hạn là môi trường sống nổi bật và xảy ra thường xuyên. Các giống vừng hiện
đang được sử dụng trong nước không có khả năng vượt qua những thời kỳ
khô hạn trong quá trình phát triển làm cho năng suất và chất lượng hạt chưa
cao. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số các chỉ tiêu sinh lí, hóa sinh và gen liên quan đến khả
năng chịu hạn của một số giống vừng (Sesamum indicum L.)”.
Cây vừng (Sesamum indicum) là cây cho dầu lâu đời nhất được biết đến,
thuần hóa hơn 5000 năm trước, có đặc tính chịu hạn cao. Nó là một cây trồng
“sống sót”, với khả năng phát triển ở những nơi mà hầu hết cây trồng khác
khó sống được.
Cây vừng cổ đại được trồng rộng rãi ở các khu vực khô hạn, ở rìa sa mạc,
các vùng nhiệt đới khắp thế giới. Cây vừng thích nghi được với những môi
trường khô hạn nhờ có hệ thống rễ sâu rộng. Tuy nhiên, hạt vừng đòi hỏi phải
có độ ẩm thích hợp cho sự nảy mầm và phát triển sớm. Trong đó độ ẩm trước
khi trồng, thời kỳ ra hoa và đậu trái là quan trọng nhất [10],[46].
Cây vừng bắt nguồn từ châu Phi sau đó được phát triển rộng ra Nam Mỹ, từ
đó vừng được người Châu Âu biết đến từ năm 1942 (Do Chritophecoloms,
người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha) giới thiệu. Từ những năm 1950,
cây vừng đã được trồng nhiều ở Mỹ [11], [12]. Phần lớn tập trung tại bang
Texas với diện tích dao động từ 10000 đến 20000 mẫu. Ở Anh dao động từ
4000 đến 8000 mẫu trong những năm gần đây. Tuy nhiên sản lượng hạt vừng
ở Mỹ không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng trong nước, Mỹ phải nhập nhiều
sản phẩm hạt vừng và dầu vừng ở nước khác về và chủ yếu là ở Nam Mỹ
[10], [11], [12].
Hiện nay cây vừng (Sesamum indicum) có hàng ngàn giống, chúng đã
được phân ra thành nhiều loài khác nhau. Ở khu vực Châu Âu, Châu Mỹ, Tây
Á và Tiểu lục địa Ấn Độ trồng cây vừng cho ra hạt màu trắng và màu vàng.
Còn các hạt vừng màu đen và sẫm màu hơn chủ yếu là sản xuất tại Trung
Quốc và Đông Nam Á. Tuy nhiên với Di truyền học phân tử hiện đại, mặc dù
8
cây vừng có nhiều dạng hình, màu hoa, dạng quả, màu sắc hạt khác nhau,
chúng vẫn là các giống khác nhau thuộc loài vừng trồng (Sesamum indicum)
[46], [47], [53].
Các giống vừng trồng đang dần thích nghi với nhiều loại đất. Một số loại
được đưa vào hệ thống mùa vụ ở nước ta [37], [40], [49], [51].
Đặc điểm rễ
Rễ vừng là rễ cọc, rễ chính ăn sâu. Có hệ thống rễ chùm rất phát triển, trên
rễ cái đâm ra nhiều rễ cấp, trên rễ cấp 1 đâm ra nhiều rễ cấp 2. Rễ vừng phân
bố chủ yếu ở lớp đất 0-25cm. Do có rễ cái ăn sâu nên vừng có khả năng chịu
hạn rất tốt [37], [38], [40], [45],[52], [14].
Đặc điểm của thân
Thân vừng thuộc thân thảo, có hình 4 cạnh ở gần ngọn, hình dạng thân
nhiều khi không rõ rệt. Thân vừng cao khoảng 55-150cm. Trong điều kiện
hạn, thân có thể thấp hơn. Cành mọc từ thân, vừng thường chỉ có một cấp
cành, có khoảng 2-6 cành. Trên thân có 25-50 lóng, độ dài lóng 2-7cm, có
lông màu trắng hoặc không có [37], [38], [40], [45].
Đặc điểm của lá
Lá vừng là lá đơn, mọc cách trên thân, cành. Hình dạng lá thường có hình
trứng, hình tiêm hoặc hình thuôn dài. Thông thường, lá ở vị trí thấp và gần
gốc, cành thường rộng bản và chia thùy. Cuống lá dài 1-5 cm. Phiến lá thường
có lông và có chất nhầy. Các lá phía trên cao thường nhọn, không phân thùy,
mép lá xẻ răng cưa không theo quy luật. Lá vừng không có lá kèm phân dọc
theo thân và cành, sắp xếp không thống nhất. Đa số lá mọc đối hoặc gần gốc
lá mọc đối, phía ngọn lá mọc cách, màu lá giống màu thân [37], [38], [40],
[45], [52].
Hạt vừng thuôn, dẹt có một đầu nhọn và một đầu tròn. Mặt ngoài nhám
mang nhiều vân hình nhẵn, có một đường phân đôi hạt theo chiều dọc. Màu
sắc hạt thường có màu trắng, đen, vàng, sẫm, nâu hoặc đen… Cấu tạo hạt có
nội nhũ. Hạt vừng rất nhỏ, trọng lượng 1000 hạt thường biến động khoảng 24,5g. Có dộ dài từ 3-4mm, rộng từ 1,6-2,3mm. Vừng gồm hai lớp vỏ hoặc
một lớp vỏ hạt ngoài. Hạt dính vách quả thành 2 hàng, 2 bên vách. Số hàng
hạt là đặc điểm được coi là một chỉ tiêu để phân biệt, đánh giá giống vừng
[37], [38], [40], [46], [52].
11
1.1.3.Cơ sở phân loại
- Căn cứ vào thời gian sinh trưởng, vừng chia thành hai nhóm: Nhóm sinh
trưởng ngắn ngày (dưới 100 ngày) và nhóm sinh trưởng dài ngày (trên 100
ngày).
- Căn cứ vào số khía trên quả vừng chia làm ba nhóm: nhóm có quả bốn
khía (quả có hai múi, bốn hàng hạt), nhóm giống có quả sáu khía (quả ba múi,
sáu hàng hạt), nhóm có quả tám khía (quả bốn múi, tám hàng hạt). Cách phân
loại này dùng để chọn cỡ hạt to hay nhỏ.
- Căn cứ vào màu sắc: Là cách phân loại phổ biến nhất, theo cách phân
loại này vừng được chia làm ba nhóm: Vừng đen, vừng vàng và vừng trắng.
1.1.4.Đặc điểm sinh thái
♦
Vĩ độ: Vừng phân bố từ vĩ độ 250 Bắc đến 250 vĩ Nam. Vừng có thể
trồng ở các khu vực nhiệt đới trong điệu kiện bán khô hạn và các vùng lân cận
nhiệt đới, ôn đới trong mùa hè [10], [37], [38], [45], [52].
♦
sống trong điều kiện lượng mưa 200-300mm [10], [37], [38], [45], [51].
♦
Độ cao: Vừng thích hợp ở độ cao dưới 1250m so với mặt biển, có
trường hợp trồng ở độ cao dưới 1000m, vừng trồng ở vùng này cây thường
nhỏ, không phân cành, chỉ có một hoa ở dưới nách lá, do đó năng suất thấp,
phẩm chất kém [10], [37], [38], [45], [51].
♦
Gió: Vừng rất dễ bị thiệt hại do gió, nên khi chọn thời vụ trồng vừng
nên tránh vào thời gian mưa to gió lớn. Khi canh tác vừng thường chọn những
giống có lóng ngắn, chiều dài của thân tương đối ngắn có thể cho nhiều trái,
chú ý cần phải vun gốc cho cây [10], [37], [38], [45], [51].
♦
Đất và chất dinh dưỡng: Vừng phát triển được trên nhiều loại đất khác
nhau, nhưng phát triển tốt nhất là trên loại đất phì nhiêu, thoát nước tốt. Các
loại đất cát, cát pha có pH từ 5,5 đến 8 đều trồng vừng được, nhưng tốt nhất là
pH = 6 [34], [42]. Độ ẩm thích hợp nhất là 70%. Đồng Bằng Sông Hồng, Đối
với Đồng Bằng Sông Cửu Long như An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, một số
vùng ven Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Trung, đất phù sa ven
sông như Cồn Khương (Cần Thơ), ở Châu Phú (An Giang) thích hợp để trồng
vừng [37], [38], [41], [45], [51].
♦
Thời vụ: Việt Nam là khu vực nhiệt đới. Với khí hậu và địa hình này
ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi bên ngoài môi trường, và những phản ứng
của cơ thể thực vật [10], [19], [34], [35].
14
1.2.1.1.Khái niệm về tính chịu hạn của thực vật
Hạn là tác động của môi trường gây lên sự mất nước của thực vật [19] hay
chính là sự thích nghi của bản chất di truyền được thể hiện ra trong tính thích
nghi đa dạng về mặt hình thái và sinh lý của thực vật chịu mất nước khi bị
hạn [10], [19], [34], [35].
1.2.1.2.Các kiểu hạn
•
Hạn đất : Xảy ra khi lượng nước dự trữ cho cây hấp thu trong đất bị cạn
kiệt, cây không hút đủ nước và mất cân bằng nước [5]. Hạn đất xảy ra từ từ,
xảy ra ở bất cứ vùng đất nào ( sa mạc, đất đồi trọc, ở vùng ít mưa), khi đó
lượng muối và dinh dưỡng trong rễ bị vô hiệu hóa, cây không đủ nước để hút,
mô cây bị khô đi nhiều và sự sinh trưởng xảy ra rất khó khăn. Hạn đất làm
cho áp suất thẩm thấu của đất tăng cao đến mức cây không cạnh tranh được
nước của đất làm cho cây không thể lấy được nước cho tế bào qua rễ, chính vì
vậy hạn đất thường gây ra hiện tượng cây bị héo lâu dài [10], [19], [34], [35].
Hạn không khí : Xảy ra khi độ ẩm không khí quá thấp làm cho quá trình
thoát hơi nước của cây quá mạnh, dẫn đến mất cân bằng nước trong cây [3].
Hạn không khí xảy ra một cách đột ngột, độ ẩm của không khí giảm xuống
10-20% hoặc thấp hơn, ảnh hưởng trực tiếp lên các bộ phận của cây trên mặt
đất ( hoa, lá, chồi non)…thường gây ra héo tạm thời. Ở cây vừng hạn không
khí thường gây ảnh hưởng đến giai đoạn nảy mầm [10], [19], [34], [35].
Hạn sinh lý: Xảy ra do trạng thái sinh lí của cây không cho phép cây hút
nước mặc dù trong môi trường không thiếu nước. Rễ cây không lấy được
Hoạt động sinh lý bị kìm hãm
Thiếu nước sẽ ức chế hoạt động quang hợp, khí khổng bị đóng làm thiếu
CO2, lục lạp có thể bị phân huỷ, ức chế tổng hợp diệp lục, lá bị héo và khô
chết làm giảm diện tích quang hợp, sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp ra
khỏi lá về cơ quan dự trữ bị tắc nghẽn…[10], [19], [34], [35], [45].
Thiếu nước ban đầu sẽ làm tăng hô hấp vô hiệu, về sau giảm hô hấp
nhanh, hiệu quả sử dụng năng lượng của hô hấp rất thấp vì hô hấp sản sinh
nhiệt là chính [6]. Khi đó dòng vận chuyển vật chất trong cây bị ức chế rất
mạnh, sự hút chất khoáng giảm do tốc độ dòng thoát hơi nước giảm, tốc độ
vận chuyển chất đồng hoá về các cơ quan dự trữ và có thể xảy ra hiện tượng
“chảy ngược dòng ” [10], [19], [34], [35], [45].
16
Quá trình sinh trưởng và phát triển bị kìm hãm
Ức chế sinh trưởng: Thiếu nước thì đỉnh sinh trưởng không tiến hành phân chia
được, quá trình dãn của tế bào bị ức chế làm cho cây sinh trưởng chậm.
Ức chế ra hoa, kết quả: Thiếu nước ảnh hưởng đến quá trình phân hoá hoa và
đặc biệt là quá trình thụ tinh. Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm, ống
phấn không sinh trưởng được, sự thụ tinh không xảy ra và hạt sẽ bị lép, giảm
năng suất…[10], [19], [34], [35], [45].
1.2.1.4.Các điều kiện thích nghi của thực vật đối với điều kiện hạn
♦
Ở mức tế bào và phân tử
Sự biến đổi về hình thái của cơ thể như: hệ rễ phát triền mạnh và phân sâu
xuống mạch nước ngầm để lấy nước, là điều kiện làm tăng tính chịu hạn cho
cây. Số lượng và đường kính mạch dẫn của rễ tăng lên nhằm tăng khả năng
vận chuyển nước từ rễ lên thân và lá. Cây có bộ rễ phát triển mạnh khi gặp
điều kiện hạn sẽ tăng khả năng giữ nước cho cây [10], [19], [45], [52].
Giảm chỉ số diện tích lá để giảm bề mặt thoát hơi nước của cây, cân bằng
với sự cung cấp nước của môi trường, là cơ chế thích nghi với điều kiện thiếu
nước. Sự sinh trưởng của tế bào trong cây quyết định đến kích thước lá.
Trong điều kiện hạn, sự sinh trưởng của tế bào bị ức chế từ đó làm giảm diện
tích lá của cây. Lá cây có thể có lông, lớp phấn phủ bên ngoài hay phát triển
tầng cutin dày hơn để bảo vệ lá khỏi bị đốt nóng, giảm lượng nước bay hơi
qua cutin, giảm tính thấm của CO2 nhưng không ảnh hưởng đến quang hợp
của lá vì các tế bào biểu bì nằm dưới cutin không thực hiện chức năng quang
hợp. Lá vận động theo hướng song song với ánh sáng mặt trời hoặc cuộn lại
để thoát hơi nước cho cây [10], [19].
Như vậy, khi gặp hạn cơ thể thực vật có nhiều phản ứng khác nhau ở các
mức độ khác nhau nhằm duy trì ổn định quá trình trao đổi chất, duy trì sự sinh
trưởng và phát triển, bảo vệ cơ thể.
♦
Một số gen liên quan đến tính chịu hạn của thực vật.
Hệ gen của cây vừng đã được giải trình tự cùng với các bộ gien của loài
thực vật Nhỉ cán túi Utricularia gibba đã từng được công bố. Nghiên cứu mới
nhất được đăng tải trực tuyến trên tờ Genome Biology. Phiên bản hệ gen của
18
cây vừng hiện có kích thước xấp xỉ 337Mb, với tổng số 27,148 gen. Kết quả
này đã làm nổi bật sự vắng mặt của miền thụ thể Toll/interleukin-1 trong các
tiên, nó hoạt hóa phosphoryl hóa glutamate, tiếp đó, enzyme này khử hợp chất
trao đổi trung gian không bền γ-glutamyl phosphate thành glutamate
semialdehyde, dạng cân bằng với pyrroline-5-carboxylate (P5C) [67].
Hoạt tính P5CS kiểm soát tốc độ sinh tổng hợp proline, quá trình được
điều khiển ở mức độ phiên mã của P5CS và thông qua sự ức chế ngược P5CS
bởi proline. Cây thuốc lá chuyển gen biểu hiện trên gen P5CS có hiện tượng
tăng tích lũy proline và tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi áp suất
thẩm thấu, nghiên cứu này khẳng định rằng P5CS là chìa khóa quan trọng đối
với sự sinh tổng hợp proline ở thực vật. Gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho
thấy sự tích lũy proline không chỉ liên quan đến khả năng chống chịu điều
kiện bất lợi mà còn diễn ra ở các cơ quan sinh dưỡng, sự phát triển phôi
muộn. Gen P5CS đã được tách từ nhiều loài thực vật và ở một vài loài, hai
gen P5CS đã được miêu tả. Thật ngạc nhiên là sự tích lũy proline cũng như sự
tách dòng hay biểu hiện của gen P5CS ở các cây vừng mới cũng đã được
nghiên cứu gần đây chỉ trên một số gen [67]. Với việc hệ gen của cây vừng
đã được giải trình tự, nghiên cứu xác định và các đặc trưng của toàn bộ các
P5CS trong hệ gen của cây vừng là một yêu cầu có tính cấp thiết và có ý
nghĩa lớn.
Trong công trình này, sử dụng các phương pháp tin sinh học, chúng tôi
hướng tới nghiên cứu các đặc điểm của các P5CS ở loài cây này, trong đó có
xác định các đặc tính lí – hóa, phân tích cây di truyền và sự biểu hiện của các
gen này [1], [68].
1.2.2.Tình hình nghiên cứu về cây vừng và về tính chịu hạn của cây vừng
1.2.2.1.Tình hình nghiên cứu về cây vừng
Mặc dù cây vừng là loại cây được trồng từ lâu đời nhưng chỉ được trồng ở
các nước đang phát triển, đồng thời là loại cây phụ trồng xen vụ, nên trước
đây cây vừng ít được nghiên cứu và biết đến. Tuy nhiên sau khi xác định giá
20
(Venezuela và Sesaco), M.L.Kinman (USDA, Collection Station,Teas), D.M.
21
Yermanos (University of Riverside, California ), T. Kobayashi (Nhật Bản ),
C.W. Kang (Hàn Quốc ) và W. Wongyai (Thái Lan ) thì có thể sử dụng 7 đặc
tính (kiểu phân cành, số quả trên một nách lá, chiều cao cây, độ dài lóng,
chiều dài quả, số lá noãn, và kiểu chín) để phân loại nhanh các giống vừng
ngay trên đồng ruộng [52], [71], [74], [79].
•
Nghiên cứu cải tiến phương thức canh tác
Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọng
cho sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây Bắc
Australia vào giữa những năm 80. Từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm
tra, hai dạng đã được chọn cho sự đánh giá. Hnan Dun một giống của
Myanma, với đặc điểm hạt màu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho sản
lượng 1,2 tấn/ha. Được trồng trên đất sét Cunurracos tưới nước, chín trong
105 ngày. Trên đất cát Cockatoo, sản lượng hạt của Hnan Dun là 1,3 tới 1,6
tấn/ha. Pachequino có giống không phân nhánh, có nguồn gốc từ Mehico,
chín chậm hơn so với Hnan Dun, cho sản lượng lên tới 1,8tấn/ha trong các
thử nghiệm ở trên đất cát sét Cunurra, và hạt có màu trắng rõ nét được ưa
thích trong việc dùng làm bánh kẹo. Trong hai thử nghiệm điều tra về phương
pháp thu hoạch. Thời điểm thích hợp cho phương pháp thu hoạch trực tiếp
của Pachequino được phát hiện là 50 ngày sau khi gieo, khi khoảng 50% cây
trồng đã khô hoàn toàn, cho phép thu hoạch sớm hơn để kiểm soát tốt hơn
những mất mát từ việc vỏ quả bị nứt. Sáu ha vừng được trồng trong năm
1985-1986 trên đất sét Cunurra thu hoạch tạo ra sản lượng từ 730-980 kg/ha.
Kogram và Steer kiểm tra đặc điểm sinh lý phát triển của vừng, đặc biệt là
trong sản xuất vừng vẫn chưa được quan tâm nhiều. Cây vừng được trồng
nhiều chủ yếu ở 5 tỉnh : Nghệ An, Bình Thuận, Tây Ninh, An Giang và Đồng
23
Tháp [37], [38], [44].
Về diện tích: Từ năm 2006 đến năm 2009 diện tích gieo trồng vừng giảm
không có chiều hướng tăng. Năm 2009 cả nước gieo trồng được 46000 ha,
giảm 6800 ha so với năm 2005.
Về năng suất: Nhìn chung năng suất bình quân của cả nước ở mức thấp, đạt
0,52 tấn/ha (2009) không tăng so với năm (2005) đạt 0,52 tấn/ha. Giữa các
năm năng suất bình quân biến động không nhiều, vẫn ở mức thấp.
Về sản lượng: Tổng sản lượng năm 2009 là 24000 tấn giảm 3400 tấn so với
năm 2005. Ngành dầu thực vật Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh,
năm 2001 đạt 265 ngàn tấn, dự kiến năm 2009 đạt khoảng 420 ngàn tấn, tuy
nhiên đến hiện nay sản lượng này vẫn chưa đạt theo yêu cầu, hàng năm Việt
Nam phải nhập khẩu gần 90% nguyên liệu từ nước ngoài với một khoản ngoại
tệ không nhỏ. Chúng ta đang bị thiếu hụt trầm trọng dầu thực vật, trong khi
tiềm năng phát triển cây vừng để lấy dầu rất lớn.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Vy và Ctv (1996) về so sánh các
giống vừng ngoài nước và nhập nội. Nghệ An (vừng nâu), Nghệ An (vừng
đen), Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hải
Hưng, Đông Anh, vừng Malaysia và giống vừng Nhật Bản thì năng suất ở
giống Quảng Bình thấp đạt 2,9 – 5,1 tạ/ha, giống vừng Nhật cho năng suất
cao nhất là 7,8 – 18,5 tạ/ha [44], [45].
Trịnh Thị Bích Hợp (1997) đã tiến hành thí nghiệm với 3 giống vừng vàng
địa phương, vừng trắng Trung Quốc, vừng vàng Nhật Bản trên vùng đất xám
Thủ Đức với 4 lần lập lại, nhằm xác định giống, phân bón và khoảng cách
trồng thích hợp. Kết quả thí nghiệm cho thấy các giống vừng địa phương có
năng suất trung bình cao nhất. Tuy nhiên, giống vừng Trung Quốc lại cho
1.2.2.2.Tình hình nghiên cứu về tính chịu hạn của cây vừng
Đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống vừng chịu hạn cho tỉnh Nghệ An giai
25