ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THU HIỀN
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH TIẾNG NGA
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN THỊ MINH HÒA.
Hà Nội, 2016
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trang
3
4
5
5
8
6. Nội dung nghiên cứu
9
7. Đóng góp của Đề tài
9
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HƢỚNG DẪN
VIÊN DU LỊCH
1.1. Các khái niệm cơ bản
10
10
1.1.1. Du lịch
10
1.1.2. Hướng dẫn du lịch
11
1.1.3. Hướng dẫn viên du lịch
11
1.3.
Phát triển đội ngũ hƣớng dẫn viên du lịch
25
1.3.1. Khái niệm phát triển
25
1.3.2. Nội dung phát triển
26
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HƢỚNG DẪN VIÊN
TIẾNG NGA Ở VIỆT NAM
2.1. Thị trường khách Nga và nhu cầu về HDV tiếng Nga ở Việt Nam
29
29
2.2.
Cơ cấu đội ngũ hướng dẫn viên tiếng Nga ở Việt Nam
31
2.2.1. Đội tuổi, giới tính
31
51
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân.
52
CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
HƢỚNG DẪN VIÊN TIẾNG NGA Ở VIỆT NAM
3.1. Các căn cứ đề xuất giải pháp
55
55
3.1.1. Quá trình phát triển của du lịch Việt Nam
55
3.1.2. Chiến lược phát triển của du lịch Việt Nam đến năm 2030
57
3.1.3. Xu hướng phát triển của thị trường khách Nga tại Việt Nam
60
Giải pháp phát triển đội ngũ hƣớng dẫn viên tiếng Nga
65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTDL:
Chương trình du lịch
DLVN:
Du lịch Viện Nam
DNDL
Doanh nghiệp du lịch
GD&ĐT:
Giáo dục và đào tạo
HDV:
Hướng dẫn viên
HDVDL:
Hướng dẫn viên du lịch
Thành phố Hồ Chí Minh
TS:
Tiến sĩ
UBND:
Ủy ban nhân dân
VCCI:
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VHTT&DL:
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
4
85
88
90
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Cơ cấu về giới tính của hướng dẫn viên tiếng Nga ở Việt Nam
Bảng 2.2. Cơ cầu trình độ chuyên môn của HDV tiếng Nga ở Việt Nam
Bảng 2.3.Bảng thống kê số phiếu điều tra từ các doanh nghiệp lữ hành Hà Nội
lịch; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ du lịch hấp dẫn đối với du khách. Đặc biệt, Ngành còn
đẩy mạnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng đáp ứng
được yêu cầu phát triển của Ngành trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.
Từ những năm 2000 đến nay, thị trường khách du lịch (KDL) Nga được xác định là
một trong những thị trường trọng điểm của DLVN. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm đến
công tác đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng phục vụ du lịch (đầu tư xây dựng các
khu resort nghỉ dưỡng biển, mở các đường bay thẳng từ Liên bang Nga đến các thành
phố du lịch của Việt Nam như Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc, và ngược lại…); đa dạng
hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch phục vụ khách Nga; tăng cường công
tác xúc tiến quảng bá du lịch đến thị trường Liên bang Nga thông qua các hội chợ du
lịch, các hội nghị, hội thảo chuyên đề, các sự kiện văn hóa đã tạo điều kiện cho các nhà
đầu tư xây dựng các dự án vui chơi giải trí phục vụ KDL Nga. Điều đó đã và đang tạo nên
một diện mạo mới cho DLVN và khẳng định rằng Việt Nam là một trong những điểm đến
hấp dẫn và an toàn đối với KDL Nga. Mặc dù KDL Nga đến Việt Nam ngày càng tăng
nhưng việc đáp ứng tốt các nhu cầu của đối tượng khách này còn hạn chế. Những
nguyên nhân chính dẫn tới những hạn chế nêu trên là: DLVN chưa có sự đầu tư, tôn tạo
danh lam thắng cảnh, di tích một cách hiệu quả; sản phẩm thiếu sự phong phú, đa dạng,
chất lượng dịch vụ du lịch chưa cao; và đặc biệt, không thể phủ nhận một thực tế là đội
ngũ hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) tiếng Nga hiện nay còn thật sự thiếu về số lượng và
yếu về chất lượng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đáp ứng và các nhu cầu đòi
7
hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ của du khách. Do đó, ngành Du lịch Vệt Nam
cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ hơn nữa, cả về yếu tố tài nguyên cũng như
nhân lực của ngành Du lịch, cụ thể là đội ngũ HDVDL tiếng Nga – những người trực tiếp
phục vụ khách, những người đại điện cho ngành DLVN mang văn hóa Việt Nam đến với
khách Nga.
Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Phát triển đội ngũ
hướng dẫn viên du lịch tiếng Nga ở Việt Nam” để làm đề tài luận văn thạc sĩ.
Nga và sự mất giá của đồng rúp nhưng du khách Nga vẫn được xếp vào thị trường khách
lớn thứ 6 trong các thị trường khách quốc tế đến Việt Nam.
- Các đề tài nghiên cứu khác về việc nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên
(HDV) của các công ty du lịch
Tuy nhiên, việc điều tra về thực trạng và đưa ra các giải pháp hát triển đội
HDVDL Tiếng Nga ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là vấn đề bị bỏ ngỏ.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục đích
Đề ra các giải pháp phát triển đội ngũ HDVDL tiếng Nga, nhằm góp phần thúc
đẩy tăng trưởng lượng KDL Nga đến Việt Nam trong thời gian tới.
3.2.
Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến HDVDL và phát triển đội ngũ
HDVDL tiếng Nga ở Việt Nam.
- Khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ HDVDL tiếng Nga ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ HDVDL tiếng Nga ở Việt Nam
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề lý luận và thực tế thực trạng đội ngũ
HDV tiếng Nga tại Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về HDV và công
tác phát triển đội ngũ HDVDL tiếng Nga nói chung; thực trạng đội ngũ HDVDL tiếng
10
dữ liệu được thu thập từ phòng nhân sự, phòng điều hành của các cơ quan quản lý nhà
nước về du lịch, các doanh nghiệp khai thác thị trường khách Nga chủ chốt...trong phạm
vi nghiên cứu từ năm 2012 – 2016. Đây là cơ sở để tác giả viết toàn bộ phần cơ sở lý luận
của luận văn và phần khái quát về thị trường KDL Nga.
* Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu sơ cấp: Luận văn dùng các phương pháp
thống kê, mã hoá để tiến hành tổng hợp lại các phiếu điều tra, trắc nghiệm. Sau đó nhập
dữ liệu vào phần mềm Excel để so sánh các chỉ số và đưa ra kết luận chung về thực trạng
đội ngũ HDV tiếng Nga ở Việt Nam.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu thứ cấp: Thống kê các dữ liệu thu thập
được và tiến hành phân tích để lựa chọn các tài liệu và thông tin cần thiết cho việc nghiên
cứu đồng thời loại bỏ những thông tin hay tài liệu không còn phù hợp với tình hình hiện
tại.
* Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp này đánh giá các số liệu, để thấy
sự tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu nghiên cứu qua mỗi năm, từ đó có những nhận
xét, đánh giá chính xác về vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp tổng hợp : Thu thập các thông tin liên quan tới đội ngũ HDV tiếng
Nga ở Việt Nam, các báo cáo tổng hợp về việc hoạt động hướng dẫn cũng như về thực tế
thị trường khách Nga đến Việt Nam trong từng giai đoạn, từ đó dùng phương pháp nhận
định và đánh giá các vấn đề để nêu ra thực trạng và giải pháp nhằm phát triển đội ngũ
HDV tiếng Nga đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của du khách cả về số
lượng và chất lượng
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu 3 chương:
Chương 1. Cơ sở l{ luận về phát triển đội ngũ hướng dẫn viên du lịch
Chương 2.Thực trạng phát triển đội ngũ HDV tiếng Nga ở Việt Nam
12
của những nơi khác. Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan
trọng trong đời sống của con người. Đến nay du lịch không còn là hiện tượng riêng lẻ, là
đặc quyền của cá nhân hay của nhóm người nào đó, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu
xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
con người
Nghiên cứu về du lịch dưới góc độ tiếp cận là nhu cầu của con người, thì du lịch
là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của
những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên
quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào”. Quan niệm này được Hiệp hội quốc tế các
chuyên gia khoa học về du lịch (AIEST) thừa nhận. [19;tr. 15]
Tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong
các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hóa
và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch (TNDL) nhằm thỏa mãn nhu
cầu và mong muốn đặc biệt của du khách. Khi đi du lịch, con người thường nảy sinh
nhiều nhu cầu trong chuyến đi của mình như: đi lại, ăn ở, giải trí. Du lịch bắt đầu được
quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách. Du lịch
là ngành tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố
cấu thành khác kể cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ các nhu cầu và mong muốn đặc
biệt của KDL. Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần
phải quan niệm rộng rãi ngành Du lịch như là người đại diện cho tập hợp các hoạt động
công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hóa và dịch vụ cho
tiêu dùng của KDL quốc tế và nội địa.
Luật du lịch Việt Nam (2005) đã định nghĩa: Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
Như vậy, thực chất du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những sắc
Dựa vào bản chất công việc và thực tế hoạt động tại Việt Nam, Luật du lịch Việt
Nam (2005) phân biệt 2 loại HDVDL như sau:
Hướng dẫn viên nội địa: Là người có quốc tịch Việt Nam, thường trú tại Việt
Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không mắc bệnh truyền nhiễm, không sử dụng
chất gây nghiện; có trình độ trung cấp chuyên nghiệp chuyên ngành hướng dẫn du lịch
trở lên (nếu tốt nghiệp chuyên ngành khác phải có chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn du
lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp).
Hướng dẫn viên quốc tế: Là người có quốc tịch Việt Nam, thường trú tại Việt Nam,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không mắc bệnh truyền nhiễm, không sử dụng chất
gây nghiện; có trình độ cử nhân chuyên ngành hướng dẫn du lịch trở lên (nếu tốt nghiệp
đại học chuyên ngành khác phải có chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn du lịch do cơ sở đào
tạo có thẩm quyền cấp);sử dụng thành thạo ít nhất 1 ngoại ngữ.
Tóm lại, tùy theo từng quốc gia và vùng lãnh thổ mà có các khái niệm khác nhau
về HDVDL nhưng chung quy lại HDVDL là người sử dụng ngôn ngữ để giới thiệu và giải
thích cho KDL hiểu và thấy được vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên, nét đặc trưng về lịch
sử, văn hóa, v.v… của một điểm tham quan, một vùng miền cụ thể hay tổng hợp của cả
một chuyến tham quan tại một đất nước nào đó.
Xuất phát từ góc độ của người đào tạo thì HDVDL là các cá nhân làm việc trên các
tuyến du lịch, trực tiếp hoặc đi kèm hoặc di chuyển cùng các cá nhân hoặc các đoàn
khách theo một chương trình du lịch, nhằm đảm bảo việc thực hiện lịch trình theo đúng
kế hoạch, cung cấp các thời điểm du lịch và tạo ra những ấn tượng tích cực cho khách
du lịch.
Đứng trên góc độ quản lí nhà nước về du lịch, nhằm xác định rõ tư cách pháp
nhân của HDVDL, Tổng cục du lịch Việt Nam khẳng định: HDVDL là cán bộ chuyên môn,
làm việc cho các doanh nghiệp lữ hành (bao gồm cả các doanh nghiệp du lịch (DNDL)
15
động tham quan, an ninh, thông tin về đất nước con người, cảnh quan, các giá trị văn
hóa–lịch sử, kinh tế - xã hội, các đối tượng tham quan... theo mục đích chuyến du lịch
mà khách đã thỏa thuận hay phát sinh trong chuyến du lịch. Đây được coi là hoạt động
chủ yếu nhất của HDVDL, phục vụ đắc lực nhất cho nhu cầu của KDL.
1.2.1.3. Hoạt động kiểm tra
Hoạt động theo dõi kiểm tra việc phục vụ KDL của các cơ sở kinh doanh du lịch –
gồm cả dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung cũng rất cần thiết. Thông thường việc phục vụ
KDL đã được thỏa thuận bằng hợp đồng, song việc kiểm tra sẽ đảm bảo cho khách sẽ
được phục vụ đúng – đủ (cả về số lượng, chủng loại, chất lượng) các dịch vụ như đã
mua. KDL sẽ yên tâm và thoải mái hơn khi có sự theo dõi, kiểm tra của HDV hay nhân
viên của công ty du lịch đảm nhiệm vai trò hướng dẫn.
1.2.1.4. Các hoạt động khác
Hoạt động hướng dẫn cần thực hiện việc làm cầu nối giữa các cơ sở kinh doanh
du lịch với KDL nhằm cung cấp những dịch vụ du lịch đúng sở thích, tâm l{, túi tiền của
khách.
1.2.2. Vai trò của hướng dẫn viên du lịch
HDV là người trực tiếp tiếp xúc với KDL, trực tiếp thực hiện các hoạt động hướng
dẫn du lịch nên có vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng uy tín cho công ty, tạo sức
hút đối với KDL quốc tế.
Đối với đất nước, người HDVDL thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ chính trị: HDVDL được xem như một “đại sứ văn hóa” giới thiệu hình
ảnh đất nước, con người của quốc gia mình với KDL, nhất là KDL quốc tế, làm tăng sự
hiểu biết tình đoàn kết giữa các dân tộc; giúp KDL nội địa cảm nhận cái hay, cái đẹp của
tài nguyên, của các giá trị văn hoá tinh thần...từ đó làm tăng tình yêu đất nước dân tộc.
17
Mặt khác, do tiếp xúc với nhiều đối tượng KDL khác nhau, HDVDL có điều kiện theo dõi,
thông báo và ngăn chặn những hành vi phạm pháp đe doạ an ninh đất nước góp phần
bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trên tuyến điểm du lịch. Trên
Có thể nói, hướng dẫn du lịch là hoạt động đặc thù và có vai trò quan trọng trong
việc cung cấp dịch vụ du lịch, đem lại lợi ích nhiều mặt không chỉ cho KDL, tổ chức kinh
doanh du lịch mà còn cho lợi ích của một quốc gia. Với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ
thuật hiện đại như: máy ghi âm, camera, v.v...
nhiều phần việc của HDVDL đã được giảm đáng kể nhưng vẫn không thể phủ nhận vai
trò quan trọng của HDVDL trong hoạt động kinh doanh du lịch.
1.2.3. Đặc điểm lao động của nghề hướng dẫn viên du lịch
Thời gian,cường độ và khối lượng công việc của HDV tương đối phức tạp
Thời gian lao động đối với HDV không theo một thời gian quy định như các ngành
khác mà theo từng tour. Trong suốt hành trình, HDV luôn phải làm việc 24/24 giờ, không
có thời gian nghỉ ngơi. Công việc chỉ được hoàn tất, được xấc định kết quả khi nào tour
kết thúc và có nhận xét của KDL.
Khối lượng công việc của HDVDL bao gồm nhiều loại công việc khác nhau tuz theo
từng nội dung và tính chất của chương trình, ngay cả khi chưa đi hướng dẫn vẫn phải
trau dồi nghiệp vụ và kiến thức chuyên môn. Hơn nữa việc chuẩn bị trước chuyến đi
như: khảo sát xây dựng các tuyến tham quan, bổ sung sửa đổi những tuyến tham quan
mới cũng như các bài thuyết minh luôn đòi hỏi HDV phải luôn tự trau dồi kiến thức để
nâng cao chất lượng công việc.
Cường độ lao động của HDV khá căng thẳng. Trong suốt quá trình thực hiện CTDL,
HDV luôn phải tự đặt mình vào trạng thái sẵn sàng phục vụ bất cứ thời gian nào, với khối
lượng công việc lớn và thời gian không định mức.
19
Tính chất công việc của HDV phức tạp do phục vụ tiếp xúc trực tiếp với nhiều loại
khách khác nhau, phải tiếp xúc và phối hợp với nhiều đối tượng của các cơ sở phục vụ.
Ngoài ra HDV phải xa nhà trong thời gian dài, kế hoạch sinh hoạt trong cuộc sống riêng
tư bị đảo lộn. Trong suốt quá trình đi du lịch HDV luôn ở tư thế người phục vụ trong khi
những người khác được vui chơi.
1.2.4. Các yêu cầu đối với hướng dẫn viên du lịch
trình giao tiếp.
Thứ hai: Phương pháp và nghệ thuật hướng dẫn.
HDV cần hiểu rõ các nguyên tắc, chỉ thị do cơ quan quản l{ nhà nước về du
lịch hoặc có liên quan đến du lịch, các thủ tục xuất nhập cảnh. KDL có nhiều mục đích,
trong đó có mục đích quan trọng có ở mọi tour là tham quan tìm hiểu và nhiệm vụ của
HDV là phải thuyết minh cho khách hiểu về đối tượng tham quan đó, do vậy HDV cần
nắm rõ các tư liệu dùng để thuyết minh theo các tuyến du lịch phù hợp với các đối
tượng tham quan du lịch
HDV cần phải nắm được các điều khoản có liên quan trong hợp đồng
được kí kết giữa các công ty lữ hành với các tổ chức du lịch khác, đảm bảo không gây
tổn thất cho công ty (đặc biệt khi tiêu dùng các dịch vụ khách sạn trong thời gian lưu trú
có khoản sẽ do công ty thanh toán nhưng có khoản khách phải tự thanh toán).
HDV cần có phương pháp tổ chức hướng dẫn tham quan từ những công
việc cụ thể như đưa khách lên xe, vận chuyển hành l{ của khách… tới nghệ thuật xử l{
tình huống.
HDV cần có kiến thức tâm l{ học (Tâm l{ xã hội học, tâm l{ du khách, tâm
l{ học dân tộc) và nắm được tâm l{ thị hiếu, sở thích, phong tục tập quán của KDL… mới
có thể đáp ứng được nhu cầu của KDL.
21
Bên cạnh đó HDV cần phải có nghệ thuật diễn đạt, trình bày mới thu hút
được du khách và làm sinh động được đối tượng tham quan, nếu không việc thuyết
minh cũng chẳng khác gì một cái máy thu phát thuần tu{.
Ngoài ra HDV phải luôn luôn lạc quan và vui vẻ khôi hài, trong những tình huống
khó khăn phải là người bình tĩnh giúp khách giữ vững tinh thần. HDV cũng phải biết
cương quyết trong cư xử ở nhiều tình huống nhất là khi khách tỏ ra không tôn trọng
hoặc cố { làm trái pháp luật Việt Nam.
HDV phải luôn đúng giờ để thể hiện sự tôn trong đối với du khách.
Đạo đức nghề nghiệp : Cũng như các nghề khác, nghề HDVDL đòi hỏi phải có lòng
yêu nghề thì mới có thể có nhiệt huyết và truyền cảm được tất cả kiến thức cho KDL và
làm tốt công việc của mình. Bên cạnh đó, do tính chất phức tạp nhưng rất tế nhị của
công việc đòi hỏi HDV phải có tính kiên nhẫn, tận tụy và trung thực. Trong hoàn cảnh
hiện nay, khi KDL ngày càng có kinh nghiệm và đòi hỏi khắt khe hơn thì yếu tố đạo đức
nghề nghiệp lại trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu.
Sức khoẻ: HDVDL đi cùng KDL trong suốt cuộc hành trình, mang những trọng trách
nặng nề về đảm bảo tài sản và tính mạng cho khách, đem lại cho khách sự thoải mái cao
nhất về tinh thần và phải giúp đỡ họ khi cần thiết. Do giờ giấc không ổn định và phải
thực hiện nhiều thao tác và hoạt động nghiệp vụ trong những chuyến đi dài ngày đến
những vùng khí hậu khác nhau, việc ăn ở cũng thất thường, HDV phải là người có sức
khoẻ tốt có đủ độ dẻo dai cần thiết. HDV cần phải biết tự điều chỉnh sức lực sao cho phù
hợp để cùng một lúc có thể thực hiện việc hướng dẫn đồng thời đảm bảo an toàn cho
khách, an ninh trong chuyến đi du lịch, giúp đỡ khách khi cần mà vẫn giữ được phong
thái nhanh nhẹn, thân thiện và dáng vẻ khả ái, tươi tắn…Sự kết hợp cả hoạt động trí tuệ
và hoạt động cơ bắp cùng một lúc và thường lặp lại cũng giúp HDV dễ thích ứng với hoạt
động nghề nghiệp. HDV còn cần có ngoại hình tương đối dễ nhìn, không có dị tật. Mặc
23
dù hình thức bên ngoài không phải là yếu tố quyết định nhưng cũng là một yếu tố quan
trọng gây nên ấn tượng ban đầu với KDL.
Các kỹ năng giao tiếp: Nhìn từ bên ngoài, HDVDL là một công việc khá hào nhoáng
vì được đi khắp nơi mà không phải bỏ tiền túi, có mức lương hấp dẫn và đặc biệt luôn
tươi tắn trong những nụ cười. Bên cạnh đó, nghề HDVDL được xếp trong số những nghề
có sự phát triển bền vững, lâu đời, nhiều hứa hẹn trong tương lai. Không những được đi
đó đi đây, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của mọi miền, được tiếp xúc với nhiều nền văn
minh trên thế giới, được ở khách sạn “nhiều sao”, HDVDL còn thỏa sức thể hiện bản
thân vì luôn là tâm điểm chú { của cả đoàn. Tuy nhiên, với người trong cuộc, đây là một
công việc đầy nhọc nhằn và áp lực cao. Không chỉ đòi hỏi: kiến thức, ngoại ngữ, năng
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong giao tiếp thời gian dành cho việc lắng
nghe là 42%, còn lại 58% là dành cho việc nói, viết, đọc. Thái độ lắng nghe thể hiện rõ sự
tôn trọng lẫn nhau thiết lập mối quan hệ tốt đẹp và giúp nâng cao nhận thức cá nhân
trong công việc cũng như trong cuộc sống. Người HDV biết lắng nghe và biết tạo ra bầu
không khí lắng nghe cho đoàn khách của mình sẽ dễ dàng nắm bắt được tâm tư nguyện
vọng của du khách để có cơ hội hoàn thiện dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách tốt
hơn.
Kỹ năng ứng biến/xử l{ tình huống :
Dù lên kế hoạch chu đáo và hoàn mỹ đến đâu, thì những hành trình thực tế
không phải lúc nào cũng suôn sẻ như ta mong đợi – nhất là đối với những CTDL khám
phá hoặc du lịch mạo hiểm. Vì vậy, kỹ năng ứng biến hay còn gọi là kỹ năng “phản ứng
nhanh” sẽ giúp cho HDV luôn làm chủ được tình thế khi có những rủi ro ngoài mong đợi
xảy ra. Một HDVDL nhanh nhạy trong việc xử l{ các tình huống ngoài lề sẽ để lại ấn
tượng tốt đẹp và sự tin tưởng trong lòng du khách. Càng đi tour nhiều, HDV càng tích
lũy được nhiều kinh nghiệm, nhất là sự khéo léo, mạnh dạn trong giao tiếp, hoặc cách
pha trò, kể những câu chuyện hài để xua tan sự mệt mỏi, căng thẳng cho khách; Chuyện
25