CẢM NHẬN PHẦN THƠ THỨ HAI TRONG BÀI THƠ “VỘI VÀNG” – XUÂN DIỆU
Đề bài: Cảm nhận đoạn thơ sau:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ trẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng, tôi tiếc cả đất trời
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm.
(Xuân Diệu, Vội vàng)
Cảm nhận phần thơ thứ hai trong bài thơ Vội Vàng - Xuân Diệu
Cảm nhận phần thơ thứ hai trong bài thơ Vội Vàng – Xuân Diệu
Bài làm:
Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu là một
nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chố nước non lặng lẽ này.”. Nhắc tới Xuân Diệu, ta không thể không
nhắc tới một bài thơ in đậm dấu ấn, phong cách của ông – Vội vàng. Được rút ta từ tập “Thơ thơ”, “Vội
vàng” là nỗi ám ảnh thời gian và lòng ham yêu, khát sống đến cuống quýt của Xuân Diệu. Nếu phần đầu
tiên của bài thơ là ước muốn táo bạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ hai, nhà
thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.
Đúng vậy, giữa cái mênh mông của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con ngừoi
bống trở nên quá ngắn ngủi, mong manh chỉ như bóng câu qua cửa sổ, như cái chớp mà thôi. Suy ngẫm
về điều đó, day dứt về điều đó, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi mà mới mẻ trong thơ ca Việt
“Với quan niệm một đi không trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự
mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng
vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian.
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.
Thời gian thì rớm vị chia phôi, khắp không gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia li, lời than thầm tiễn
biệt. Gió đùa trong lá không phải là những âm than vui tươi, sống động của thiên nhiêm mà vì hờn tủi
trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những bản nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có
mối nguy hiểm hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa . Vậy là vạn vật không thể cưỡng lại quy
luật tàn phai nghiệt ngã của tạo hóa. Chịu ảnh hưởng sâu sắc thuyết tương giao trong tượng trưng Phá,
Xuân Diệu chẳng những đã đem đến những cảm nhận tinh tế rất mới, rất Tây, rất hiện đại về thời gian:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.
Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia phôi.
Thơ trung đại, kể cả thơ mới cũng hiếm có câu thơ nào có cách cảm nhận như vậy.
Khép lại phần thơ thứ nhất – phần lí giải vì sao phải sống vội vàng là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm
Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Khát
vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tan thành mấy khói. chỉ còn lại nỗi bàng hoàng, thảng thốt còn in
dấu trong dấu chấm cảm giữa dòng thơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Không thể buộc gió, chẳng thể
tắt nắng để níu giữ mãi hương sắc mùa xuân, Xuân Diệu đã hối thúc mình và mọi người hãy sống vội
vàng, hãy chạy đua cùng thời gian: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.” Lời giục giã hối thúc mang
sắc điệu mạnh mẽ, quyết liệt bởi kiểu câu cầu khiến có sử dụng dấu chấm cảm giữa dòng. Có thể nói câu
Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu bộc lộ cái “tôi” cá nhân, cái “tôi” yêu đời ham sống:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Giữa cuộc sống đời thường, Xuân Diệu hiện lên như một hiện tượng đặc biệt, thu hút sự chú ý của mọi
người về sự sống. Cái tôi yêu đời với ánh mắt nhìn mới mẻ ấy đã phả vào từng câu chữ làm nên sự sôi
nổi, hăm hở, nhịp tim hối hả, dồn dập trước vũ trụ bao la, trước cuộc sống đậm đà hương sắc. Nhân vật
trữ tình muốn tắt nắng để giữ sắc cho hoa và cũng là sắc màu tươi non của cuộc sống mơn mởn, có sức
mời gọi mọi người tận hưởng cho hết hương vị của cuộc đời. Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” để ướp
hương cho nhụy – hương sắc của cuộc đời thơm lành ấy dường như sẽ lưu đọng mãi trong thơ Xuân
Diệu để thúc giục những ai yêu đời, ham sống. Là người trần mắt thịt, vậy mà nhà thơ muốn đoạt quyền
Tạo hóa, muốn chế ngự thiên nhiên để bảo tồn, gìn giữ, chăm chút cuộc sống. Bởi vì dường như ẩn trong
ham muốn ấy, nhà thơ nhận rõ sự công phá bền bỉ của thời gian. Vẫn biết rằng hướng tới cái không thể,
cho dù thi sỹ muốn mình có sức mạnh của thần thánh, song Tạo hóa thì vô cùng còn đời người thì hữu
hạn. Dù sao trong cái không thể, người đọc vẫn tìm thấy cái có thể, cái có thể ấy chính là khả năng tận
hưởng cuộc sống này. Điệp ngữ “tôi muốn” được láy lại như một nốt nhạc của bài ca yêu đời, nhấn mạnh
sâu đậm hơn nữa vào ham muốn của một người nghệ sỹ đa tình – một người “không muốn đi mãi mãi ở
vườn trần”. Cũng từ một người luôn chăm chút, gọt dũa, nâng niu hết thảy sự sống nên “Ông hoàng thơ
tình” Xuân Diệu đã phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất”
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;”
Thiên đường mà thi sỹ phát hiện ra là một khu vườn xuân tràn trề nhựa sống; mạch sống tràn lan ra từng
kẽ lá, nhành hoa, ngon cây. Khu vườn quy tụ muôn hoa khoe sắc, ong bướm, chim muông rộn ràng, dập
mới. Niềm vui như gõ cửa từng nhà và ban tặng cho từng người. Để rồi khép lại đoạn thơ là hình ảnh
thật táo bạo, nó gần gũi thân thiết mà ta có thể đón nhận một cách dễ dàng:
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
Có lẽ nhà thơ đa thả vào đó chất phong tình lãng mạn để hóa hình cho mùa xuân. Hay Tạo hóa là thế đó,
như một bà mẹ toàn năng ban tặng cho con người cuộc sống này. Nó gần gũi, nó trong trẻo tinh khôi mà
ta có thể nhìn thấy và thậm chí ngả mình vào mùa xuân để tận hưởng. Chốn địa đàng trần thế không chỉ
đẹp mà “ngon” còn có vị. Đó chẳng phải là kết quả của lòng yêu đời, ham sống đến tột bậc khiến nhà thơ
có thể cảm nhận được vị của mùa xuân, hương của mùa xuân. Xuân đã thành giai nhân được bao luyến
trong tấm lòng rộng mở “sẵn lòng ân ái với cuộc đời” của người tình nhân – thi sĩ. Cái nhìn ấy đã trẻ hóa
thế giới cũ kĩ, già nua, làm cho nó mới mẻ, đầy bất ngờ, ngạc nhiên như lần đầu tiên được khám phá bởi
đôi mắt chập chững sáng nơi tâm hồn con trẻ. Đấy là cái bỡ ngỡ hơn người của Xuân Diệu.
Như vậy mười ba câu thơ đầu đã thể hiện trọn vẹn mạch cảm xúc căng trào bằng cách sống hết mình,
sống vội vàng thực sự là con đường đi đến hạnh phúc và cũng là cách để tận hưởng hạnh phúc. Hạnh
phúc nhất chính là tình yêu thiên nhiên của thi sĩ với thiên nhiên nơi trần thế.