1
Hỏi - Đáp
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ, GIÁO DỤC
Câu 1: Tại sao nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hoá
thế giới?
Trả lời
Nhà văn hóa là danh hiệu dùng để gọi những người hoạt động và sáng
tạo văn hóa đã vươn tới một tầm cao của tri thức loài người, từ đó sáng tạo ra
được những giá trị văn hóa đóng góp xứng đáng vào sự phát triển phong phú,
đa dạng của nền văn hóa dân tộc và nhân loại. Lịch sử Việt Nam có nhiều anh
hùng giải phóng dân tộc, nhưng không phải ai cũng được tôn vinh là Nhà văn
hóa lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt
xuất bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người đã cống hiến cho dân
tộc và nhân loại.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc
địa, giành lại độc lập, tự do. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi
thường mà còn là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì, giải phóng con người
khỏi thân phận nô lệ, khỏi cải đói, cái rét, cái dốt là một sự nghiệp văn hóa có
ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại. Người
đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến
lược phát triển của đất nước.
Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình
lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt.
Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống
lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng
ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước,
yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”1.
1
Người đã từng bước hấp thu văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây,
đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái và truyền thống văn hóa Pháp.
Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn
đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao và kết tinh thành tựu,
3
văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử
dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…, khi
xuất hiện như một nhà báo sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sỹ
cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó vận
dụng và phát triển sáng tạo, đổi mới đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới
những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.
Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại.
Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng chữ Hán, song
không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa
bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó
là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ ngẫu
hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đầy,
biệt xứ đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân
loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một
nhân cách lớn.
Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là
nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng
Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện
viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận. Lĩnh vực
nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất
mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.
tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và
nhân nhượng lẫn nhau.
Như vậy, có thể khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt
xuất đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân
tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của
thế giới. Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những
năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: xóa mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc,
cải tạo môi trường sinh thái v.v.. Đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp
5
quốc khởi xướng thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Đúng như
đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho
tàng đầy đủ của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng,
là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu”1.
Câu 2: Tinh hoa truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam và văn
hoá phương Đông với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh văn hoá
như thế nào?
Trả lời:
Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển tinh hoa truyền thống văn hoá dân tộc
Việt Nam
Trước khi rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước, Nguyễn Tất
Thành - Hồ Chí Minh đã hấp thụ một vốn văn hoá gia đình, quê hương, dân
tộc. Từ vùng quê làng Chùa, làng Sen, mở rộng ra là quê hương Xứ Nghệ,
qua kinh đô Huế, đến Phan Thiết, Sài Gòn... Mỗi vùng vốn có sắc thái văn
hoá khác nhau, nhưng điểm tương đồng là tất cả đều sáng ngời truyền thống
yêu nước, đoàn kết; xu hướng cố kết cộng đồng dân tộc; tinh thần độc lập, tự
chủ, tự lực, tự cường; lạc quan, yêu đời, hiếu học và truyền thống nhân ái,
nhân văn Việt Nam. Hồ Chí Minh có được những yếu tố văn hoá có tính chất
Minh không những nắm được những tư tưởng cơ bản của Phật giáo, Nho giáo
mà Người còn am hiểu Lão giáo với những yếu tố văn hoá sống giản dị, thanh
bạch, chan hoà với thiên nhiên. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh
thường xuyên nhắc tới các danh ngôn của Khổng Tử, của Đức phật Thích Ca.
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về một cuộc sống thanh bạch, trong
sáng, giản dị, khiêm tốn, luôn luôn chăm lo cho lợi ích của nhân dân, của cả
cộng đồng dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo
đức cá nhân. Tuy vậy sẽ sai lầm căn bản nếu ai đó cho rằng tư tưởng Hồ Chí
Minh là sự hội tụ của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Khổng Tử. Hồ Chí
Minh chỉ rõ Khổng Tử là phong kiến. Hồ Chí Minh chủ trương lật đổ cả chế
độ phong kiến lẫn thực dân, đế quốc để xây dựng ở Việt Nam một chế độ
khác về bản chất - đó là chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh
7
thuộc hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Do đó không thể có sự hội nhập, sự
giống nhau về tư tưởng giữa Hồ Chí Minh và Khổng Tử. Nhưng như thế
không có nghĩa là chỉ có sự đối lập, loại bỏ tất cả mọi sự kế thừa. Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở chúng ta phải quán triệt, thực hiện lời dạy của Lênin:
Thâu thái cho được những tinh tuý của các đời trước để lại, để phục vụ hiện
tại và tương lai. Về vấn đề này, hơn ai hết, Hồ Chí Minh một nhà cách mạng
đã kết hợp thành công giữa truyền thống và hiện đại vào cuộc đấu tranh cách
mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta thấy Người khẳng định
Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn. Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các
tăng ni, phật tử nhớ tới lời Phật dạy: Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha, nghĩa là
đem lại lợi ích vui sướng cho mọi người, quên mình vì người khác. Từ đó, Hồ
Chí Minh hướng mọi người theo con đường “làm theo lòng đại từ, đại bi của
Văn hoá phương Tây là một bộ phận quan trọng của văn hoá nhân loại
và là một trong những cơ sở hình thành tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh. Chủ
tịch Hồ Chí Minh tiếp thu văn hoá phương Tây khi đã có một vốn văn hoá
phương Đông nhất định. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ khi rời bến cảng
Nhà Rồng (5-6-1911) sang Pháp Hồ Chí Minh mới có được những hiểu biết
về văn hoá phương Tây. Những kiến thức đầu tiên về văn hoá phương Tây
của Hồ Chí Minh đã có trước đó. Năm 1905, Hồ Chí Minh đã theo học lớp dự
bị Trường tiểu học Pháp – bản xứ ở Thành phố Vinh. Chính tại trường Tiểu
học này, Hồ Chí Minh lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng
– Bác ái. Tiếp đó, năm học 1906-1907, Người học Trường tiểu học Đông Ba
(Huế). Năm học 1907-1908 học Trường Quốc học Huế mà tiếng Pháp là ngôn
ngữ chính dạy trong trường.
Tư tưởng Tự do – Bình đẳng – Bác ái của văn hoá phương Tây có một
tác động lớn lao đối với Hồ Chí Minh, từ việc chọn hướng đi đến quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng. Hồ Chí Minh kể lại: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần
đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Và từ thủa
ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn
đằng sau những chữ ấy”. Câu nói trên giúp ta hiểu rõ lý do Người không đi
9
theo phong trào Đông du mà lại mở ra một hướng đi mới: sang phương Tây.
Rõ ràng tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái chưa thể có trong xã hội phong kiến
Việt Nam và cả thời kỳ đêm trường trung cổ ở phương Tây. Xuất xứ ở những
từ ấy gắn với giai cấp tư sản, với sự ra đời từ các cuộc cách mạng tư sản.
Tự do, bình đẳng, bác ái – những tri thức văn hoá phương Tây đầu tiên
Hồ Chí Minh tiếp thu được trở thành một động lực trực tiếp để Người hướng
sang phương Tây tìm con đường cứu nước mới. Quá trình bôn ba khắp châu
Âu và các châu lục khác, Hồ Chí Minh đã làm giàu trí tuệ mình bằng nhiều tri
Có lẽ chưa một nhà cách mạng thuộc địa nào như Hồ Chí Minh lại có
30 năm (1911-1941) liên tục hoạt động ở nước ngoài. 30 năm đó, Người chủ
yếu hoạt động ở những trung tâm văn minh phương Tây, đến khảo sát tận
những nơi đã xảy ra các cuộc cách mạng tư sản điển hình. Những chuyến đi
khảo nghiệm thực tế gần như vòng quanh thế giới của Hồ Chí Minh thời gian
này thật sự có ý nghĩa. Sự hiểu biết về văn hoá, lịch sử phương Tây, về tình
hữu ái giai cấp, sự ngưỡng mộ tinh thần yêu hoà bình, tự do và thông cảm sâu
sắc với đời sống của những người lao động phương Tây trong Hồ Chí Minh
luôn được bổ sung, phát triển.
Nói văn hoá phương Tây góp phần vào việc hình thành và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh còn phải kể đến những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ của Người
với các nhà hoạt động chính trị, xã hội nổi tiếng như Hăngri Bacbuýt, Pôn
VaiăngCutuyariê, Macen Casanh… Đó còn là việc Hồ Chí Minh có mặt trong
các cuộc hội thảo về văn học, triết học, kinh tế chính trị ở các câu lạc bộ, thư
viện. Dù là văn hoá phương Đông hay văn hoá phương Tây, Hồ Chí Minh đều
dày công chắt lọc một cách kỹ lưỡng với một thái độ khách quan, khoa học,
trân trọng với một tầm nhìn văn hoá rộng mở. Qua Hồ Chí Minh, những tri
thức văn hoá đó được vận dụng, bổ sung có thêm nội dung mới trở thành giá
trị vĩnh hằng của nhân loại.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá
mới và ra sức phát huy sức mạnh của ánh sáng văn hoá Mác - Lênin cho sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Đặc biệt Người đã
nghiên cứu kỹ tư tưởng của V. I. Lênin về văn hoá, cách mạng văn hoá trong
nhiều tác phẩm quan trọng và cả qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền
11
văn hoá mới ở nước Nga của V. I. Lênin. Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp
tác”, V. I. Lênin đã viết: "Sau khi đã hoàn thành cuộc cách mạng chính trị lớn
12
Không chỉ hoà mình vào thực tiễn đấu tranh của phong trào công nhân và
các dân tộc bị áp bức mà Hồ Chí Minh còn hoà mình vào thế giới văn hoá vô
cùng phong phú và đa dạng của các dân tộc, nhờ đó Người hiểu biết nhiều sự
kiện văn hoá và các phương pháp đấu tranh bằng văn hoá. Người viết sách, ra
báo, tham gia nhiều hoạt động văn hoá, tổ chức nhiều hội liên hiệp đều nhằm
giác ngộ cách mạng cho nhân dân các dân tộc trong đó có đồng bào của mình.
Người muốn đem ánh sáng văn hoá đến cho mọi người cùng khổ để soi
đường cho họ tự giải phóng, tự đứng lên đấu tranh với các thế lực áp bức, bóc
lột.
Hồ Chí Minh cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn xây dựng phát triển văn
hoá của các nước xã hội chủ nghĩa như cách mạng văn hoá ở Liên Xô, Trung
Quốc...
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam vốn là một quốc gia phong
kiến độc lập, kinh tế chậm phát triển, đời sống tinh thần lạc hậu. Khi thực dân
pháp xâm lược với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, nhân danh "khai
hoá văn minh” chúng đã thực hiện những chính sách cực kỳ phi văn hoá như:
Chính sách ngu dân, chia để trị, đầu độc nhân dân ta, nhất là thanh niên bằng
rượu và thuốc phiện... làm cho đời sống vật chất của nhân dân ta vốn đã đói
nghèo càng đói nghèo, đời sống tinh thần vốn lạc hậu ngày càng tăm tối, dốt
nát. Năm 1920 tại Đại hội XVIII Đảng xã hội Pháp, Người đã nói: "Chúng tôi
không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu
độc một cách thê thảm... Nhà tù nhiều hơn trường học... Chúng tôi phải sống
trong cảnh ngu dốt và tăm tối, vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” 1. Như
vậy, khi đất nước bị nô lệ thì văn hoá cũng cùng chung số phận nô lệ.
Thực tiễn đó là cơ sở để Hồ Chí Minh vạch ra một đường lối mới: Ở Việt
Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành lấy chính quyền,
1
Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và
cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã
hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
14
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín
ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính
văn hoá đã đem lại cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản,
có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hoá
mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một
phương án chưa hoàn thành đặt ra xem xét những thành tựu của bản thân, tìm
tòi không mệt mỏi những vấn đề mới và sáng tạo nên những công trình mới
vượt trội bản thân.
Một số quan niệm khác cho rằng: Văn hoá là hiểu biết, trình độ
“người” trong các quan hệ; là sự phát triển nội tại bên trong của một con
người, một dân tộc… hiểu biết để làm chủ – làm người – làm cách mạng.
Những quan niệm về văn hoá nêu trên là rất phong phú, đa dạng. Tuy
nhiên, vẫn có một số điểm chung giống nhau là: Văn hoá là một hệ thống các
giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch
sử. Hệ thống đó có thể gồm các bộ phận hình thành sau đây:
- Hệ thống các khái niệm về triết học, khoa học, tôn giáo, tín ngưỡng…
dựa vào đó người ta tự lý dải mình và giải thích thế giới.
- Hệ thống các chuẩn mực về đạo đức pháp luật... để đánh giá hành vi
của con người trong các tình huống cụ thể.
- Hệ thống các nghệ thuật biểu hiện cụ thể, cảm tính nhằm thể hiện các
ý niệm và chuẩn mực nói trên một cách sinh động, truyền cảm.
- Hệ thống hành động thông qua các trung gian kỹ thuật cho phép con
người làm chủ môi trường tự nhiên và xã hội của mình
tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự sinh tồn và
phát triển của mình trong quá trình lịch sử; văn hóa tạo ra động lực giúp con
người tồn tại gắn với mục đích cuộc sống; xây dựng văn hóa dân tộc phải toàn
diện, đặt xây dựng "tinh thần độc lập tự cường" lên hàng đầu.
Nguốn gốc của văn hoá là do con người sáng tạo ra, “tự nhiên thứ hai”
(tính nhân văn – xã hội). Văn hoá tạo ra động lực: giúp con người tồn tại gắn
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.431
16
với mục đích cuộc sống. Cấu trúc: Chỉ chung tất cả mọi phương diện sinh
hoạt của con người (bao gồm giá trị vật chất và tinh thần), từ cái tinh vi, hiện
đại đến lối sống, sinh hoạt hàng ngày. Quan điểm trên có tính kế thừa, có
trước khi UNESCO ra đời (24/10/1945).
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngưới
sáng tạo ra. Quan niệm trên của Hồ Chí Minh về văn hoá đã khắc phục được
tính phiến diện trong quan niệm lâu nay của một số người về văn hoá:
- Văn hoá chỉ là một hiện tượng tinh thần tách rời đời sống vất chất mà
bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Văn hoá không chỉ thu hẹp trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, mà
bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Văn hoá không chỉ thu hẹp trong lĩnh vực giáo dục, không chỉ phản
ánh trình độ học vấn của một người, mà là thước đo trình độ phát triển của
toàn xã hội về sản xuất, khoa học kỹ thuật, chính trị, tôn giáo, văn học - nghệ
thuật, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán v.v..
Hiện nay, định nghĩa và cách hiểu văn hoá cũng như nhận thức tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá tuy còn có chỗ khác nhau, nhưng các nhà
nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hoá thế giới.
Hồ Chí Minh đã xây dựng được một nền chính trị - đạo đức. Tức là
những tư tưởng chính trị như “dân làm gốc”, “trung với nước, hiếu với dân”,
“nước được độc lập, dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành” v.v… được nâng lên thành tư tưởng đạo đức. Tư tưởng
đạo đức cũng là phục vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng
xã hội, giải phóng con người. Cũng có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là tư
tưởng chính trị, định hướng chính trị, song mang đặc thù dễ phân biệt với các
tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn
1
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, HN 2003, tr
294,295.
18
hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức
mạnh văn hoá, sức mạnh hợp nhất giữa lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết
phục bằng cảm hoá.
Tư tưởng nhân văn, đạo đức là những nhân tố quan trọng, là nền tảng
tinh thần của nền văn hoá mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Đạo đức của con
người thể hiện trong phẩm chất, hành vi và phong độ, gộp lại thành “chất
người”. Văn hoá là sự kết tinh nhưng giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của con
người, của đời sống một dân tộc, một xã hội. Có thể nói, văn hoá nói chung là
trình độ “người”, trình độ “người” của những quan hệ xã hội.
Giữa văn hoá, đạo đức, nhân văn và chính trị trong tư tưởng Hồ Chí
Minh đều có chung cội nguồn là những truyền thống tư tưởng văn hoá của
dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại; trong đó đỉnh cao là học thuyết Mác –
Lênin, một học thuyết mang bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn cao
triển. Người nói: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng
ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây
dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh”1.
Mặt khác, nói văn hoá ở trong kinh tế và chính trị nghĩa là kinh tế và
chính trị cũng phải có văn hoá. Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định: “Kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến”.
Ngày nay, đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng đòi hỏi văn hoá
phải thấm sâu vào kinh tế và chính trị. Hiện nay, chúng ta đang nói đến văn
hoá kinh doanh, văn hoá tiếp thị, văn hoá chính trị, văn hoá lãnh đạo, v.v… là
đều theo nghĩa ấy.
Tuy "kinh tế có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được", nhưng điều
đó không có nghĩa là văn hóa "thụ động" chờ cho kinh tế phát triển xong rồi
mới đến lượt mình phát triển. Văn hóa có tính tích cực chủ động, đóng vai trò
to lớn thúc đẩy kinh tế và chính trị phát triển như một động lực. "Văn hóa ở
trong chính trị" tức văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia
cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh nêu rõ:
"Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa", hoặc đường lối kháng
chiến toàn diện, thi đua trên mọi lĩnh vực,... là với ý nghĩa như vậy. Theo đó,
một phong trào văn hóa cách mạng, văn hóa kháng chiến đã diễn ra rất sôi
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập.8, Nxb CTQG, H 2002, tr .281.
20
động, góp phần đắc lực vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
"Văn hóa ở trong kinh tế" tức là văn hóa phải phục vụ, thúc đẩy việc xây
dựng và phát triển kinh tế. "Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị" cũng có
nhưng lại mất mùa về văn hoá nên đã gây ra những khủng hoảng xã hội
nghiêm trọng.
Năm 1988, mở đầu “Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá”, Tổng giám
đốc UNESCO đã phát biểu: Văn hoá và phát triển là hai mặt gắn liền với
nhau… Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển mà tách rời môi
trường văn hoá thì nhất định sẽ xẩy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về
mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu
nhiều.
Câu 7: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của văn hoá?
Trả lời:
Hồ Chí Minh khẳng định văn hoá đóng vai trò là động lực, là mục tiêu
của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, văn hoá nói chung, chủ nghĩa Mác Lênin nói riêng giữ vị trí quan trọng tạo bước nhảy vọt trong tư duy, hành
động của con người và của các dân tộc bị áp bức, bị tha hoá đến vương
quốc của con người phát triển tự do, toàn diện.
Hồ Chí Minh từng nói đến "văn hoá soi đường cho quốc dân đi"; "Phải
đem văn hoá lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ".
Phải xúc tiến văn hoá để tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc
kháng chiến kiến quốc. Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có 4 vấn đề
cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã
hội, văn hoá.
Vai trò của văn hóa trong kinh tế, chính trị, xã hội là tạo thành bốn vấn
đề chủ yếu của đời sống xã hội.
Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội.
Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng.
Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.
22
Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn
23
Người chỉ ra rằng, "Xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hoá của ta vì thế
không thể nảy sinh được","dân tộc bị nô lệ thì văn nghệ cũng mất tự do".
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, quan điểm về vai trò văn hoá của Hồ Chí Minh
đã được thực tế chứng minh là đúng. Đảng ta cũng đã khẳng định văn hoá là
“Nền tảng tinh thần của xã hội”1, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, xã hội.
Câu 8: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất của nền văn hóa mới?
Trả lời:
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (1945), Hồ Chí Minh
và Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là
phải xây dựng một nền văn hoá mới trong đó xác định rõ tính chất của nền
văn hóa.
Khi đặt vấn đề xây dựng nền văn hoá mới của nước Việt Nam độc lập,
Hồ Chí Minh nói: "Cái nền văn hoá mới này cần phải có tính khoa học, tính
đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại. Nay nước
ta có được độc lập, tinh thần được giải phóng, cần phải có một nền văn hoá
hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của nhân dân" 2. Tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Xây dựng một nền
văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng.
Theo Hồ Chí Minh, ba tính chất đó có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là
một nền văn hoá phải làm cho mỗi người dân Việt Nam hiểu biết được cội
nguồn lịch sử hình thành phát triển dân tộc; biết giữ gìn, phát huy những giá
trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc trong dựng nước và giữ nước.
Nền văn hoá mới phải phản ánh được đời sống hiện thực của cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc theo đúng quy luật khách quan, đảm bảo tính chân thực;
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG,
HN.2006, tr 213.
dựng chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh đề cập ở nhiều bài viết, bài nói ở
nhiều hội nghị quan trọng. Hồ Chí Minh xác định "... để phục vụ sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hoá phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc
25
về hình thức"1. Như vậy, Người chỉ ra tính chất của nền văn hoá mà chúng ta
xây dựng là có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc.
Nội dung xã hội chủ nghĩa có nghĩa là tiên tiến, khoa học, hiện đại. Tính
dân tộc không chỉ là ở hình thức thể hiện mà còn biết kế thừa, phát huy những
giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá của dân tộc cho phù hợp với những
điều kiện lịch sử của đất nước. Hơn thế nữa theo Hồ Chí Minh, chúng ta còn
phải biết giới thiệu những giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc ra thế giới để
thế giới hiểu biết thêm về đất nước, con người Việt Nam.
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn
hóa dân chủ mới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến. Nền văn hóa đó có ba
tính chất: dân tộc - khoa học - đại chúng.
Tóm lại, ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng hợp lại thành một
chỉnh thể thống nhất, ngày càng thấm sâu vào ý thức sáng tạo của các nhà văn
hóa nước ta, giúp họ sáng tạo nên những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn hóa
mới. Dù sau này tính chất của nền văn hóa mới có sự thay đổi nhất định về
cách diễn đạt, nhưng tinh thần cốt lõi của nó cũng không đi ra ngoài ba tính
chất đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nên lên từ những ngày đầu dựng
nước.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta xác định xây dựng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hai tính chất tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tiên tiến là khoa học, hiện đại, là
xã hội chủ nghĩa. Đậm đà bản sắc dân tộc là biết kế thừa, phát huy, phát triển
những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc trong điều kiện mới. Đây chính là thực