Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông cửu long lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay (tt) - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ QUỐC KHỞI

CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 31 23 01

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trương Thị Thông
2. PGS.TS. Dương Trung Ý

Phản biện 1: ...........................................................
...........................................................

Phản biện 2: ...........................................................
...........................................................

Phản biện 3: ...........................................................
...........................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án

hóa và tổ chức thực hiện kịp thời.
Việc triển khai các nghị quyết của Trung ương và sự vận dụng vào điều kiện
cụ thể của các tỉnh chưa tốt; vai trò của đảng viên thiếu tiên phong trong lãnh đạo
xây dựng NTM trên địa bàn; sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ và sự quan tâm của chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị đối với xây dựng
NTM chưa được thường xuyên, đúng mức; việc tổ chức lại sản xuất ở nông thôn
chưa tốt; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa đáp ứng yêu
cầu; trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng, của các tỉnh
uỷ về xây dựng NTM có nơi, có lúc chưa nghiêm minh, xây dựng NTM ở mỗi địa


2

phương và trên địa bàn các tỉnh còn nhiều khuyết điểm, yếu kém; có nơi, có lúc
phương thức, quy trình lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với xây dựng NTM chưa xác
định rõ, nhiều nghị quyết thực hiện chưa đảm bảo quy trình, nhất là nội dung trong
các bước chuẩn bị chưa tốt; do đó, chất lượng một số nghị quyết chưa cao, dẫn đến
kết quả thực hiện Nghị quyết hạn chế.
Chính vì vậy, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông
Cửu Long lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” làm đề
tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, đánh
giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSCL đối với sự nghiệp xây
dựng NTM trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án;
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về các tỉnh uỷ ở ĐBSCL lãnh

- Luận giải, làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy
ở ĐBSCL đối với xây dựng NTM.
- Rút ra những kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở
ĐBSCL từ 2008 đến nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm tăng cường sự lãnh
đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSCL trong việc xây dựng NTM đến năm 2025.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các cấp uỷ đảng ở ĐBSCL vận
dụng vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo xây dựng NTM.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu về xây
dựng Đảng ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị
tỉnh, thành phố.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả liên
quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu
thành 4 chương, 8 tiết.


4

Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.1.1. Sách
Phạm Xuân Nam (chủ biên)(1997): Phát triển nông thôn, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội; Nguyễn Văn Trung (Chủ biên), (1998): Phát triển nguồn nhân lực trẻ
ở nông thôn, để công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp nước ta,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott

Cộng sản Việt Nam của Phạm Công Khâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội; “Xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân trong kinh tế thị
trường ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long” (2000) Luận án tiến sĩ của
Nguyễn Văn Chiển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; “Xây dựng đội
ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay”
(2005). Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam của Bùi Văn Khoa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội; “Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi quyền lực của nhân
dân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long” (2007). Luận án tiến sĩ khoa học
chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Lê Tấn Lập,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996 - 2006)” Luận
án Tiến sĩ (2011) của Đặng Kim Oanh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh; “Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn hiện nay”
(2012). Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam của Nguyễn Thị Tố Uyên, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
1.1.3. Các bài báo khoa học
“Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới - Những kết quả
bước đầu và một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn” (2012) của đồng chí Trương
Tấn Sang - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng Ban chỉ đạo Chương
trình xây dựng nông thôn mới, tạp chí Tuyên giáo điện tử ngày 20-3; “Phát huy
vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông
thôn mới” (2014) của Hoàng Phó Dân, Tạp chí Cộng sản chuyên đề cơ sở, số 94
(tháng 10), tr.15-19; “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc


6


nội; “Về nhất thể hóa thành thị và nông thôn” (2011), Viện Khoa học Xã hội
Trung Quốc.


7

1.2.2. Các công trình nghiên cứu ở Lào
“Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong phát triển
KT-XH nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” (2005), Luận án tiến sĩ
kinh tế của Phêngphavăn Đaophoncharơn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội; “Quá trình phát triển KT-XHở nông thôn Lào từ 1975 đến
2000” (2007), Luận án tiến sĩ lịch sử của Kenglao Bliayao, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa
Dân chủ nhân dân Lào thời kỳ đổi mới” (2010), luận án tiến sĩ kinh tế của
Xỉnxỏn Phunbunsỉ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội; “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn Lào hiện nay” (2011),
Luận án tiến sĩ Chính trị học của Lachay Sinhsuvan (2011), Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Bun-Thoong Chít-ma-ni (2011):
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai
đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
Văn na lết Bút Ta Vông (2009): Thành quả và những vấn đề quan tâm
trong công tác xây dựng cơ sở chính trị-phát triển nông thôn, Tạp chí Alun
may; Tha nu con Xu Ly Nha Seng (2009): Xây dựng bản và cụm bản ở Cộng
hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tạp chí lý luận Chính trị - Hành chính; Xay phon
Thôm Pa Đít (2009): Một số thành quả trong việc xây dựng cơ sở chính trị và
phát triển cụm bản Na Lâu Chom Ong, Huyện Xay, tỉnh UĐôm Xay, Tạp chí
Xây dựng Đảng; Sỷ Lay Phỉu Tha Son tháng (2009): Một năm trong việc xây
dựng bản và cụm bản phát triển, Huyện Bèng, tỉnh U Đôm Xay, Tạp chí Xây
dựng Đảng; Các công trình này cũng góp phần cung cấp thêm những cơ sở lý
luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

Những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận của các nhà khoa học đi trước
đã công bố có những giá trị nhất định góp phần đổi mới và hoàn thiện sự lãnh
của các đảng đối với nông nghiệp, nông dân nói chung và xây dựng NTM nói
riêng. Đây cũng là những cơ sở lý luận quan trọng được nghiên cứu sinh kế
thừa, tiếp thu có chọn lọc để xây dựng, luận giải những vấn đề lý luận, đề
xuất giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL đối với
xây dựng NTM.


9

Chương 2
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
2.1. NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỨU LONG HIỆN NAY

2.1.1. Khái quát về nông thôn đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông, gồm
12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An
Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau và thành phố Cần
Thơ. ĐBSCL nằm giữa khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với thành
phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích gần 40 nghìn
km2, dân số khoảng 18 triệu người, có hơn 340 km đường biên giới trên bộ giáp
Campuchia, là khu vực duy nhất của cả nước tiếp giáp Biển Đông và Biển Tây với
bờ biển dài 750 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng
biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo. ĐBSCL có vị trí như một
bán đảo với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển Biển Đông và vịnh Thái Lan.
Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực rất quan trọng trong giao lưu
quốc tế, có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế giữa Nam Á, Đông

trong những thị trường rộng lớn, tiềm năng trong tương lai; Thứ tư: nông thôn
ĐBSCL là một địa bàn có thế mạnh trong việc giữ gìn và tô điểm cho môi trường
sinh thái; Thứ năm: nông thôn ĐBSCL là địa bàn có vị trí chiến lược về an ninh,
quốc phòng; Thứ sáu: nông thôn ĐBSCL còn đóng vai trò trong việc bảo tồn các
giá trị văn hoá truyền thống (vật thể và phi vật thể) của dân tộc.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông
Cửu Long
* Chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long
Chức năng của tỉnh uỷ là lãnh đạo các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên của
đảng bộ tỉnh; lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), các tổ chức
kinh tế, xã hội; lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn. Sự lãnh đạo
của tỉnh uỷ đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức và các lĩnh vực của đời sống
xã hội trên địa bàn phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của tỉnh uỷ, thành uỷ; góp phần
thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách ấy, mà trước hết là thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh và các nghị quyết của tỉnh uỷ.


11

* Nhiệm vụ của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long
Một là, lãnh đạo trực tiếp và toàn diện mọi hoạt động của tỉnh nhằm thực
hiện thắng lợi nghị quyết của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh. Quyết định những vấn đề
chiến lược, các chương trình, đề án, kế hoạch, chủ trương, biện pháp quan trọng
trong các lĩnh vực công tác của tỉnh;
Hai là, chỉ đạo và thông qua phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu phát triển
KT-XH, bảo đảm an ninh quốc phòng 6 tháng, hàng năm và kế hoạch 5 năm
của tỉnh;
Ba là, lãnh đạo công tác tài chính đảng, thảo luận và quyết định các báo

làm việc: Phần lớn các tỉnh uỷ viên, BTV các tỉnh uỷ vùng ĐBSCL là người địa
phương, một số ít tỉnh uỷ viên đã được tôi luyện và trưởng thành trong thời
chiến; có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo sản xuất nông nghiệp trong điều
kiện thực hiện cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, song chưa có nhiều kinh
nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trên địa bàn vùng, còn chịu những tác động về tâm lý, cách tư duy,
phong cách, lề lối làm việc của nông dân vùng kinh tế nông nghiệp đặc trưng
của nước ta. Cách nghĩ, tầm nhìn, phong cách làm việc đó, khí chất “hào
sảng” vẫn còn ảnh hưởng nhất định đến một số đồng chí tỉnh uỷ viên;
Thứ hai: đặc điểm về bộ máy cán bộ: Luôn được đổi mới, kiện toàn, trẻ
hoá, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn của các tỉnh uỷ viên được nâng
lên qua các kỳ đại hội và nhất là qua đại hội nhiệm kỳ 2010 - 2015 vừa qua. Cụ
thể, độ tuổi trung bình của đội ngũ tỉnh uỷ viên nhiệm kỳ 2010 - 2015 của một
số tỉnh vùng ĐBSCL từ 46- 49 tuổi; trình độ cao cấp lý luận chính trị, chuyên
môn của đội ngũ tỉnh uỷ viên cũng được nâng lên khá cao. Kết quả tổ chức đại
hội đảng bộ ở các tỉnh, thành phố trong vùng đã bầu 678 ủy viên ban chấp hành.
BTV có từ 13 đến 16 đồng chí. Cán bộ nữ trúng cử vào cấp ủy đạt tỷ lệ bình
quân 12,24% (cao nhất là tỉnh Kiên Giang 25%, thấp nhất là tỉnh Long An
3,7%). Cán bộ trẻ (dưới 40 tuổi) trúng cử cấp ủy bình quân đạt 5,9% (trừ Trà
Vinh). Tổng số ủy viên BTV được bầu là 198 đồng chí; trong đó, nữ là 18 đồng
chí, chiếm 9,09%. Có 01 đồng chí là nữ (tỉnh An Giang). Tổng số phó bí thư
được bầu là 30 đồng chí; trong đó, có 03 đồng chí nữ. Độ tuổi bình quân của
các đồng chí trong BCH đầu nhiệm kỳ 48,7 tuổi; trình độ học vấn 100% là
12/12; trình độ chuyên môn: tiến sỹ 16 đồng chí, chiếm 2,04%, thạc sỹ 48 đồng
chí chiếm 16,32%, còn lại là trình độ đại học; trình độ lý luận chính trị: 110
đồng chí có trình độ cử nhân, còn lại là cao cấp chính trị;


13


bao quanh các thành phố, thị xã, thị trấn trong vùng ĐBSCL, bao gồm những cư
dân nông thôn sinh sống chủ yếu bằng các nghề liên quan đến nông nghiệp.


14

Nông thôn mới là nông thôn được quy hoạch lại, có hệ thống cơ sở hạ tầng
đồng bộ, hiện đại; sản xuất, dịch vụ, giáo dục phát triển; đời sống vật chất của
nhân dân no ấm, đời sống văn hóa, tinh thần phát triển phong phú giàu bản sắc dân
tộc; an ninh trật tự ổn định; môi trường trong sạch, tươi đẹp.
Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả
HTCT. NTM không chỉ là vấn đề KT-XH, mà là vấn đề kinh tế - chính trị - xã
hội tổng hợp. Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực,
chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân
chủ, văn minh.
Mục tiêu xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay, thực chất là phát triển con
người ở nông thôn, hướng dẫn nông dân tổ chức lại sản xuất, làm cho nhân dân ở
vùng nông thôn biết làm ăn một cách tiến bộ và có hiệu quả, đảm bảo cho mọi
người dân nông thôn được sinh sống, ấm no, hạnh phúc, tự do bình đẳng, có trình
độ về khoa học kỹ thuật, vận dụng vào tự phát triển làm giàu hộ gia đình và làng
xóm của mình, nâng cao được đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.
Xây dựng NTM ở ĐBSCL là tổng thể các hoạt động, các mặt công tác của cả
HTCT và toàn thể nhân dân, trước hết là các tầng lớp nhân dân ở nông thôn, dưới
sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSCL để cải tạo toàn diện nông thôn; tiến hành
quy hoạch, xây dựng, phát triển, hoàn thiện đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng,
HTCT cơ sở nông thôn; thúc đẩy phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã
hội, an ninh, quốc phòng; nâng cao thu nhập, đời sống mọi mặt cho cư dân nông
thôn, làm thay đổi nông thôn hiện nay thành nông thôn XHCN năng động, phát
triển mạnh mẽ, giàu có, văn minh, hiện đại.
2.2.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng nông

Phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL là hệ thống
các hình thức, phương pháp, biện pháp, quy trình... mà tỉnh uỷ sử dụng để tác
động vào các cơ quan tổ chức ở địa bàn nông thôn và lĩnh vực kinh tế nông nghiệp
nhằm thực hiện tốt những nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh uỷ trong
từng thời kỳ.
Cụ thể bao gồm: Một là, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSCL lãnh đạo xây dựng NTM
bằng chủ trương, nghị quyết, phương hướng, mục tiêu, giải pháp, chương trình
tổng thể phát triển KT-XH, xây dựng NTM của các tỉnh; Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo
xây dựng NTM thông qua công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; bằng
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và các tổ chức khác trong
hệ thống chính trị; Ba là, các tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM thông qua Ban chỉ


16

đạo chương trình xây dựng NTM và các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp
trong tỉnh; Bốn là, các tỉnh ủy lãnh đạo thông qua xây dựng các mô hình thí điểm,
các điển hình NTM, sơ kết, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến; Năm là, các
tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM thông qua công tác cán bộ, thông qua hành động
tiền phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên.
Tiểu kết chương 2
Với điều kiện tự nhiên của mình, việc xây dựng NTM là vấn đề có ý nghĩa
quan trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, đảm bảo cho đất nước phát
triển nhanh và bền vững. Xây dựng NTM ở ĐBSCL gồm các hoạt động để cải
tạo toàn diện nông thôn. Lãnh đạo xây dựng NTM là hoạt động của các tỉnh ủy
ra nghị quyết; tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Để tiếp thực hiện thắng
lợi Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM, các tỉnh ủy ở ĐBSCL
cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và xác định rõ nội dung,
phương thức đễ lãnh đạo.
Chương 3

3.2. THỰC TRẠNG CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

3.2.1. Ưu điểm và nguyên nhân
3.2.1.1. Ưu điểm
* Về nội dung lãnh đạo
Thứ nhất, về lãnh đạo quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Thứ hai, về lãnh đạo phát huy các nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới
Thứ ba, về lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu, kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao
thu nhập
Thứ tư, về lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, an
sinh xã hội, nước sạch, bảo vệ môi trường sinh thái ở nông thôn.
Thứ năm, về lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn vững
mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn.
* Về phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới
Thứ nhất, về lãnh đạo xây dựng nông thôn mới bằng việc xây dựng và ban
hành các nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương, giải pháp xây dựng nông
thôn mới.
Thứ hai, về lãnh đạo bằng công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền, vận
động, thuyết phục của tổ chức đảng và các tổ chức khác trong HTCT.


18

Thứ ba: về lãnh đạo thông qua hệ thống tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ,
đảng viên
Thứ tư, về lãnh đạo thông qua xây dựng các mô hình thí điểm, các điển hình
NTM, sơ kết, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến.
Thứ năm, về lãnh đạo thông qua Ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM
và các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp trong tỉnh, nhất là thông qua

cao việc lãnh đạo những nội dung trọng yếu có tính đột phá, thúc đẩy nhanh quá
trình xây dựng NTM; Sáu là, thực tế tổ chức thực hiện, nhiều Nghị quyết thực
hiện chưa đảm bảo quy trình, nhất là nội dung trong các bước chuẩn bị chưa tốt;
do đó, chất lượng một số Nghị quyết chưa cao, dẫn đến kết quả thực hiện Nghị
quyết hạn chế.
3.2.2.2. Nguyên nhân
Một là, xuất phát điểm của nông thôn ĐBSCL thấp; đầu tư, quản lý của
nhà nước cho nông nghiệp lại chưa thỏa đáng; chất lượng nguồn nhân lực còn
hạn chế; quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn nhiều bất cập chưa
phục vụ sát thực cho xây dựng NTM. Điều kiện tự nhiên của ĐBSCL khó
khăn, có khí hậu thời tiết khắc nghiệt, thiên tai lũ lụt, hạn hán thường xuyên
xảy ra; Hai là, chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các Tỉnh uỷ, nhất
là quy chế về phối hợp làm việc và mối quan hệ giữa Ban Thường vụ (BTV)
Tỉnh uỷ với đảng đoàn HĐND, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh với các ngành,
các cấp trong tỉnh; Ba là, tư duy kinh tế nông nghiệp của các Tỉnh uỷ, BTV
Tỉnh uỷ còn một số hạn chế chưa đáp ứng thật tốt yêu cầu công cuộc đổi mới
phát triển và hội nhập; Bốn là, một số cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông
thôn ban hành chưa hiệu quả, thiếu tính khả thi, chậm được sửa đổi; thiếu cơ
chế, chính sách đủ mạnh để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, nhất là
doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; Năm là, nhận thức của cấp
uỷ đảng, chính quyền và một bộ phận nhân dân ở một số nơi về xây dựng
NTM chưa đầy đủ; Sáu là, tổ chức bộ máy, chất lượng công tác quản lý nhà
nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn nhiều bất cập; sự phối hợp
giữa các bộ, ban, ngành chức năng thiếu chặt chẽ. Năng lực của đội ngũ cán
bộ chưa đáp ứng tốt yêu cầu; Bảy là, Hội nông dân các cấp chưa làm tốt vai
trò trong tham gia xây dựng NTM.
3.2.3. Những kinh nghiệm
Một là, sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy đảng là nhân tố quan trọng
hàng; Hai là, huy động cả HTCT vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM; Ba
là, có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng sẽ tác động to lớn đến việc lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới ở ĐBSCL
- Các phong tục, tập quán, truyền thống, tâm lý, tích cực tốt đẹp của cư dân
nông thôn ĐBSCL


21

- Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, của cách mạng khoa học và
công nghệ
- Học tập được kinh nghiệm của nhiều nơi, cả trong và ngoài nước
4.1.1.2. Khó khăn, thách thức
- Nhận thức và tư tưởng của một số cán bộ lãnh đạo, đảng viên các tỉnh ủy về
xây dựng NTM trong bối cảnh mới còn bất cập.
- Tốc độ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa sẽ được tiếp tục đẩy
nhanh, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho nhân dân, nhưng cũng tranh chấp
tài nguyên đất, nước, vốn,… với nông nghiệp, nông thôn.
- Quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu trong tương lai ngay trong thời gian gần
sẽ tăng mức độ nghiêm trọng của các biến động thiên tai, thời tiết.
- HTCT xã cũng còn nhiều yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo quản lý.
- Những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, nhiều tập quán, phong tục,
thói quen, tâm lý, tính cách xấu còn tồn tại.
- Nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL là địa bàn tiềm ẩn những yếu tố bất ổn
định về kinh tế và xã hội.
4.1.2. Mục tiêu, phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở
đồng bằng sông Cửu Long đối với việc xây dựng nông thôn mới
* Mục tiêu
Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ; gắn xây dựng NTM với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông

khí hậu.
- Về đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội: xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc; củng cố quốc phòng - an ninh
kết hợp với phát triển KT-XH.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LĂNH ĐẠO CỦA
CÁC TỈNH ỦY VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025

Một là: Lãnh đạo đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm
của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội
và nhân dân, nhất là nông dân về xây dựng nông thôn mới
Hai là: Tăng cường lãnh đạo công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây
dựng nông thôn mới


23

Ba là: Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của
các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long
Bốn là: Lãnh đạo đẩy mạnh khai thác, huy động các nguồn lực, tăng cường
đầu tư cho xây dựng nông thôn mới
Năm là: Đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của đảng, quản lý của chính quyền,
phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở ở nông thôn
Sáu là: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo giúp đỡ của Trung ương

KẾT LUẬN
1. Từ lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM càng khẳng định rằng xây dựng
NTM là rất cần thiết và hợp lòng dân nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nông dân, là nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo ổn định chính trị, xã hội.
2. Thời gian qua, các tỉnh ủy ĐBSCL đã lãnh đạo HTCT từ tỉnh đến cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status