HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN HƯNG
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN HƯNG
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Mã số: 62 31 02 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ HUY TIẾP
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng và công bằng xã hội, thực hiện
công bằng xã hội
2.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội khái niệm, nội dung và phương thức
18
18
52
Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM
3.1. Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
3.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm
64
64
79
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2025
4.1. Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo
của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội
: Đồng bằng sông Hồng
HTCT
: Hệ thống chính trị
KTTT
: Kinh tế thị trường
MTTQ
: Mặt trận Tổ quốc
Nxb
: Nhà xuất bản
PTLĐ
: Phương thức lãnh đạo
QPAN
: Quốc phòng, an ninh
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và
nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ” [24, tr.101]. Những chủ trương, quan điểm và
2
quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về CBXH đã được các cấp uỷ, chính
quyền địa phương lãnh đạo thực hiện đạt nhiều thành tựu lớn.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng có vị trí, vai trò rất quan trọng về
chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với những tiềm năng, thế mạnh về phát
triển kinh tế và thực hiện CBXH. Trong 30 năm qua, các tỉnh uỷ trong vùng đã coi
trọng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện
CBXH, đạt kết quả quan trọng. Ở các tỉnh vùng này, kinh tế tăng trưởng khá nhanh,
chính trị ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện và nâng
lên; CBXH trong giáo dục đào tạo được cải thiện; CBXH trong chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe, văn hóa, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện các quyền
của công dân... được cải thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, thực hiện CBXH nói
trên, tình trạng phân hóa giàu nghèo cũng đang diễn ra nhanh và có xu hướng mở
rộng ở các tỉnh ĐBSH. Sự phân hóa ấy càng gây bức xúc xã hội hơn khi một số
người giàu lên nhanh chóng do làm ăn phi pháp, tham nhũng, lãng phí và thu nhập
không chính đáng; trong khi, với nhiều gia đình trong diện chính sách và người
nghèo, Nhà nước đang thiếu nguồn lực để chăm sóc, hỗ trợ. Tình trạng thất nghiệp,
bất bình đẳng giới và sự xuống cấp của các dịch vụ y tế, giáo dục, sự gia tăng của
các tệ nạn xã hội và tai nạn đang đòi hỏi phải được giải quyết.
Trong lãnh đạo thực hiện CBXH, bên cạnh những ưu điểm và kết quả nêu
trên, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về CBXH còn
nhiều hạn chế. Ở một số nơi, cấp ủy lãnh đạo thực hiện CBXH chưa gắn chặt với
lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ, năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH
của nhiều cấp ủy và cán bộ chủ chốt các cấp còn nhiều bất cập. Một số ít cán bộ
tham nhũng cả nguồn kinh phí của Nhà nước về cứu trợ thiên tai, hỗ trợ gia đình
Luận án nghiên cứu: Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH giai
đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Luận án tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các
tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH từ năm 2006 đến nay.
- Phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2025.
4
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng ta về CBXH và Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời
sống xã hội.
- Cơ sở thực tiễn của luận án là các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo các tổ chức
trong hệ thống chính trị (HTCT), các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội thực hiện
CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin; đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành chủ yếu
như: phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng
kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái niệm:
Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ
trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản
ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa
thưởng và phạt của cá nhân (nhóm xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn
định, hài hòa, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người, vừa là khát
vọng của con người, vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội.
phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu về Xây dựng Đảng ở các trường chính trị
tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã
công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong thời kỳ đổi mới thực hiện kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN) CBXH và thực hiện CBXH là vấn đề đặc biệt quan trọng,
thu hút khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những góc độ, khía cạnh khác nhau,
đạt kết quả quan trọng. Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đã được công bố
trên sách, báo, tạp chí, tham luận hội thảo khoa học, tổng quan các đề tài khoa học,
luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Các công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề
tài luận án, gồm:
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Công trình của các nhà khoa học Trung Quốc
- Cát Chí Hoa, Từ nông thôn mới đến đất nước, con người [39]. Cuốn sách tập
hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong
công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, khái quát những vấn đề lý luận,
nguồn gốc hình thành và những đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc.
- Dang Guoying, Agriculture, rural areas and farmers in China (Nông
nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc) [11]. Cuốn sách khái quát về nông
nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc; phân tích tình hình kinh
các giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong phát triển
kinh tế - xã hội nông thôn ở Lào. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà
nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn là một giải pháp quan trọng thực
hiện CBXH. Công trình này là tài liệu tham khảo tốt để luận án đề xuất giải pháp.
- Khăm-Bay Ma-La-Sinh, Thực trạng đói, nghèo trong các hộ gia đình ở
nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [49]. Luận văn đã
hệ thống hóa, đường lối, quan điểm về chính sách xã hội của Đảng Nhà nước Lào;
đánh giá thực trạng đói, nghèo ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, chỉ rõ quy mô, mức
độ đói nghèo của các hộ gia đình; nêu một số kiến nghị về chính sách và các giải
pháp xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. Luận văn cung cấp một số điểm để xác định
nguyên nhân và giải pháp của luận án.
8
- Xỉn-Xỏn Phun-Bun-Sỉ, Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân
Lào thời kỳ đổi mới [145]. Luận án làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
kinh tế nông thôn Lào thời kỳ đổi mới; phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông
thôn; đề xuất sáu giải pháp phát triển kinh tế nông thôn Lào hiện nay. Trong đó,
phát triển kinh tế nông thôn là một giải pháp quan trọng của thực hiện CBXH, có
giá trị tham khảo tốt đối với luận án.
- Bun-Thoong Chit-Ma-Ni, Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [7]. Luận án nêu quan niệm về nông
thôn mới và chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của nông thôn mới ở Lào; khái niệm
Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, nội dung,
phương thức, quy trình Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Tác giả khái quát
thực trạng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, đề
xuất phương hướng và sáu giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
- Lê Văn Sang, Kim Ngọc (đồng chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “đổi mới” [83].
Theo các tác giả sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản
nhanh chóng phục hồi và có bước phát triển nhảy vọt, do nhiều nguyên nhân, đặc
biệt đã tạo được môi trường thuận lợi cho các công ty hoạt động nhờ tạo dựng cơ
chế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế hợp lý; ý thức trách nhiệm của mỗi người dân,
mỗi công ty...
Trên cơ sở kinh nghiệm của Nhật Bản các tác giả khảo sát thực trạng tăng
trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta sau 10 năm đổi mới, đánh giá các biện pháp,
chương trình quốc gia thực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH. Đồng thời, luận
giải một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và CBXH.
- Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [135]. Các tác giả bàn đến
nhiều nội dung như quan niệm mới về phát triển và phương hướng phát triển kinh tế
- xã hội ở nước ta (GS.TS Đỗ Thế Tùng); mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và
thực hiện CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam (GS.TS Nguyễn
10
Ngọc Long); hậu quả xã hội của quá trình tăng trưởng kinh tế qua thực tiễn đổi mới
ở Việt Nam và Trung Quốc (TS Hoàng Thị Thành); những vấn đề xã hội cần giải
quyết để phục vụ trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế (TS Nguyễn Hữu Dũng); về phân
tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (TS
Phạm Hảo); sự lựa chọn và thực hiện chính sách xã hội bảo đảm kết hợp tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH trong điều kiện phát triển KTTT theo định hướng
XHCN ở nước ta (TS Nguyễn Thanh Tuấn). Kỷ yếu cũng cung cấp cho luận án
nhiều điểm quan trọng để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của luận án.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Vấn đề phân phối và phân hóa
lãnh đạo chính trị, quản lý của Nhà nước và nhân dân.
Từ tư tưởng của các nhà triết học phương Tây tác giả cuốn sách nêu những
đề xuất đối với nước ta. Theo tác giả, đối với nước ta CBXH chỉ có thể thành hiện
thực khi có sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước. Trong đó, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là cơ sở vững chắc để biến khả năng
CBXH thành hiện thực.
- Nguyễn Duy Quý Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa [80]. Tác giả đã phân tích tư tưởng của C.Mác về CBXH và
nguyên tắc phân phối theo lao động để thực hiện CBXH; việc thực hiện CBXH ở
nước ta trước và trong thời kỳ đổi mới, khẳng định: không nhất thiết phải giàu có
mới thực hiện CBXH; Việt Nam coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển xã hội; không chờ tới khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH,
mà ngay từ khi bắt đầu đổi mới phải kết hợp nhiệm vụ kinh tế với các nhiệm vụ xã
hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới chính
sách xã hội, đó là một phương thức để thực hiện CBXH hiệu quả. Tác giả đề xuất
các giải pháp về nâng cao nhận thức; chính sách; huy động nguồn lực; gắn phát
triển kinh tế với văn hóa.
- Phạm Xuân Nam, Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [64]. Tác giả đã điểm qua một số
mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới xét từ góc độ giải quyết mối quan hệ giữa
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện CBXH; phân tích việc kết hợp tăng
trưởng kinh tế và CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20
năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu và những vấn đề đặt ra. Đáng chú ý hơn là, tác
12
giả đã kiến nghị một số hướng giải pháp về thực hiện CBXH trong nền KTTT định
hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm
túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng
- Nguyễn Minh Hoàn, Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [41]. Cuốn
sách có giá trị tham khảo đối với luận án về một số điểm: một số quan điểm tiêu
biểu về CBXH thời kỳ trước C.Mác; một số quan điểm hiện đại về CBXH của các
học giả phương Tây; quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguyên tắc phân
phối đảm bảo CBXH; tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH và bình đẳng xã hội. Đáng
chú ý là tác giả đã nêu một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta
hiện nay, gồm: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hoá giàu
nghèo và bất bình đẳng hiện nay; vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối tư liệu
sản xuất; vấn đề CBXH trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân; trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
1.2.2. Luận án, luận văn và các bài đăng trên tạp chí
1.2.2.1. Luận án, luận văn
- Nguyễn Hữu Đổng, Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh
nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam [36]. Luận văn
phân tích những đặc điểm, nội dung chủ yếu, thực trạng phân phối hình thành thu
nhập cá nhân thực hiện CBXH trong các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình
chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN; đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện phân phối hình thành thu nhập cá nhân thực hiện CBXH trong các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
- Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong
giai đoạn hiện nay [67]. Luận văn đã xây dựng quan niệm về Đảng bộ tỉnh Kon
Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo; tổng kết được những kinh nghiệm về Đảng bộ
tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong những năm qua. Luận văn đã đề
xuất được các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với xoá đói,
giảm nghèo.
- Nguyễn Văn Kính, Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội ở Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay [51]. Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và CBXH trong lịch sử; phân tích một số mâu thuẫn giữa KTTT và
thực hiện CBXH ở Hải Phòng, đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp có hiệu quả
phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với phát triển văn hóa, khảo sát, đánh giá
thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ ven biển
tỉnh Thanh Hoá đối với phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay. Đáng chú ý là
15
giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của huyện uỷ đối với phát
triển văn hoá.
- Lê Văn Diến, Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông thôn
mới giai đoạn hiện nay [12]. Luận văn đã xây dựng khái niệm, xác định nội dung và
phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với xây dựng nông thôn mới, khảo sát,
đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ
đối với xây dựng nông thôn mới. Giải pháp có giá trị tham khảo đối với luận án là,
đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của các huyện uỷ.
1.2.2.2. Các bài đăng trên tạp chí
Nguyễn Trần Quế, Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
[74]; Phạm Tất Dong, Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội
dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [14]; Phùng Văn Hùng,
Vai trò của Nhà nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam [45];
Nguyễn Văn Huyên, Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn [48];
Lương Việt Hải, công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay [38]; Phương Ngọc Thạch, Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã
hội [88]; Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công bằng xã hội
và xóa đói, giảm nghèo [86]; Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối
cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng [89]. Các bài báo này đã tập trung nghiên
cứu từng mặt, từng khía cạnh của CBXH trong điều kiện hiện nay, cung cấp cho
luận án một số điểm để xây dựng khái niệm, nội dung CBXH.
- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh
Bắc Giang (2008-2013) [71]. Bài báo đã đánh gia thực trạng thực hiện xóa đói,
giảm nghèo bền vững trong những năm qua; đề xuất các giải pháp xóa đói, giảm
trình đã luận bàn về vai trò và một số đặc tính của CBXH.
Hai là, về thực hiện CBXH: Hầu hết các công trình ở những mức độ khác
nhau đều bàn về thực hiện CBXH. Một số công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về thực
hiện có hiệu quả CBXH ở một số nước tư bản và khái quát về chủ trương giải pháp
cụ thể về thực hiện CBXH đạt hiệu quả ở một số nước. Đối với Việt Nam, hầu hết
các công trình ở những mức độ khác nhau đều đề xuất các giải pháp thực hiện có
kết quả CBXH hoặc ở phương pháp luận, đề xuất quan điểm, hoặc các giải pháp cụ
thể ở các địa phương và trong cả nước. Những đề xuất này rất đa dạng, phong phú.
17
Ba là, về Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện CBXH: Tuy đã có một vài công
trình đề cập đến vấn đề rất quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và các
cấp uỷ đảng nói riêng lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện cơ chế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta, song mới chủ yếu dừng lại ở nêu vấn đề,
việc luận giải chưa được chú ý. Như vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào
luận bàn và làm sáng tỏ vấn đề này; chưa có công trình nào đề cập và làm sâu sắc
các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện CBXH.
1.3.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Thứ nhất, về CBXH: Xây dựng khái niệm CBXH; chỉ ra và phân tích nội
dung, đặc tính của CBXH, khái quát và phân tích, làm rõ vai trò của CBXH nói
chung, từ đó làm rõ vai trò ấy đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay nói riêng.
Phân tích những đặc tính cơ bản của CBXH.
Thứ hai, về thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm thực hiện CBXH, xác
định và phân tích làm rõ nội dung của thực hiện CBXH; chỉ ra và phân tích những
nhân tố chủ yếu chi phối việc thực hiện CBXH.
Thứ ba, về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm,
xác định nội dung và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong
điều kiện hiện nay làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng lãnh đạo thực
hiện CBXH của các tỉnh ủy, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm và
phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống đường quốc lộ được nâng cấp khá hiện đại,
cùng với đường sắt, đường hàng không tạo thuận lợi lớn cho các tỉnh phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm QPAN, phát triển bền vững.
19
Các tỉnh ở ĐBSH có nguồn tài nguyên đất nông nghiệp khá lớn, với tổng số
11.280,6 km2 [Phụ lục 1]. Một số tỉnh có bờ biển dài và thềm lục địa rất thuận tiện
cho phát triển kinh tế biển và du lịch. Ở nhiều tỉnh có nguồn tài nguyên, khoáng sản
đa dạng, trữ lượng lớn, như: đất sét, than nâu, đá vôi và các tài nguyên khác có giá
trị lớn đối với phát triển công nghiệp.
* Đặc điểm kinh tế: Qua 30 năm đổi mới, kinh tế ở các tỉnh phát triển khá
mạnh. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị kinh tế
nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong
GDP. Kinh tế nông nghiệp phát triển khá mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng
sản lượng và chất lượng sản phẩm, nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao.
Số lượng lao động nông nghiệp giảm mạnh, chuyển sang ngành công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ. Tỷ trọng giá trị công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong tổng
GDP của các tỉnh ngày càng tăng, nhất là các tỉnh gần Tam giác kinh tế trọng điểm
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Ở các tỉnh đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, nhiều tỉnh có các khu
công nghiệp lớn, như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương thu hút ngày càng lớn
lượng vốn đầu tư và nhiều doanh nghiệp có uy tín của nước ngoài. Tam giác kinh tế
trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được hình thành, phát triển hoạt động
có hiệu quả, có vai trò, tác dụng lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh: tăng
trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình 8,2% (năm 2013), 7,83% (năm 2014); tỉnh Bắc
Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh có số liệu tương ứng: 10,2% và 16,2%; 9,2% và
7,7%; 7,1% và 8,8% [Phụ lục 2].
Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm có
giá trị không chỉ nổi tiếng trong nước, mà còn được nhiều nước trên thế giới biết và
mọi khó khăn, luôn vươn lên nâng cao trình độ trí tuệ. Hệ thống giáo dục đào tạo
phát triển khá (tỉnh Vĩnh Phúc có 183 trường mầm non, 173 trường tiểu học, 146
trường trung học cơ sở, 37 trường trung học phổ thông; các tỉnh Thái Bình, Nam
Định, Hải Dương có số liệu tương ứng: 301, 295, 271, 39; 266, 293, 242, 57; 109,
281, 272, 54 [Phụ lục 6]) tạo thuận lợi cho việc học tập người dân và phổ cập giáo
dục tiểu học, trung học cơ sở. Nơi đây, tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên
cứu khoa học lớn, nổi tiếng của nước ta là thuận lợi lớn để cư dân học tập để có
trình độ cao nên nhìn chung, trình độ dân trí ở các tỉnh vào loại cao nhất nước.