HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MINH HÀ
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MINH HÀ
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
Mã số
: 62 31 02 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS DƯƠNG TRUNG Ý
2. TS. CAO THANH VÂN
HÀ NỘI - 2016
những vấn đề luận án tập trung giải quyết
21
Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH HIỆN NAY - NHỮNG
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Tỉnh, tỉnh ủy, chính quyền tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay
25
25
2.2. Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền
tỉnh hiện nay - Khái niệm, nội dung, phương thức
44
Chương 3: TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH QUYỀN TỈNH
VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
55
3.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của các chính quyền tỉnh ở vùng
đồng bằng sông Hồng
55
3.2. Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền
163
PHỤ LỤC
178
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BCH
Ban Chấp hành
BCSĐ
Ban cán sự đảng
BTV
Ban thường vụ
CB, CC, VC
Cán bộ, công chức, viên chức
CCHCNN
Cải cách hành chính nhà nước
CNH, HĐH
PTLĐ
Phương thức lãnh đạo
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi trở thành đảng cầm quyền (năm 1945) đến nay, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn nỗ lực hoàn thành chức trách của đảng cầm quyền, bảo đảm tính chính
đáng cầm quyền. Với vai trò là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế
hóa, cụ thể hóa, hiện thực hóa cương lĩnh, đường lối của Đảng thành chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Năng lực cầm quyền của Đảng thể hiện chủ yếu, trước hết
ở năng lực lãnh đạo Nhà nước, trong đó có năng lực lãnh đạo của các cấp ủy địa
phương đối với chính quyền cùng cấp.
Cấp tỉnh giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội (CT - XH) ở
địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước. Để phát huy
tốt vai trò của cấp tỉnh, vừa phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tỉnh ủy, vừa phải xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền tỉnh (CQT) trong sạch,
vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đồng thời coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ
quốc (MTTQ) và các đoàn thể CT- XH. Muốn vậy, cần tăng cường sự lãnh đạo của
đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền tỉnh giai đoạn hiện nay” làm luận án
tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, nhằm góp phần giải
quyết những vấn đề cấp bách nêu trên.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các tỉnh ủy vùng ĐBSH
lãnh đạo CQT, luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường sự lãnh
đạo của các tỉnh ủy vùng ĐBSH đối với CQT đến năm 2025.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề
tài luận án, đánh giá khái quát kết quả cơ bản của các công trình đó và chỉ ra những
nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu;
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo
CQT giai đoạn hiện nay;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng các CQT ở vùng ĐBSH và thực trạng các
tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT từ năm 2005 đến nay, chỉ rõ nguyên nhân, khái
quát các kinh nghiệm lãnh đạo CQT của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH;
3
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các
tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
đối với CQT (HĐND tỉnh, UBND tỉnh) nhằm xây dựng CQT trong sạch, vững
mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH đối với
dạy, học tập ở các trường chính trị tỉnh, thành phố và ở Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 9 tiết, kết luận, danh mục công trình
khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong những năm gần đây, vấn đề đảng cầm quyền, vai trò của lãnh đạo của
Đảng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, đổi
mới sự lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền cùng cấp,… giành được sự quan
tâm của giới nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước với những phương diện, mức
độ và mục tiêu khác nhau. Trên cơ sở tham khảo cách tiếp cận, phương pháp nghiên
cứu và kết quả của các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề các tỉnh ủy ở
vùng ĐBSH lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay, tác giả xác định nội dung mà luận án
cần tập trung nghiên cứu.
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA VIỆT NAM
1.1.1. Các sách chuyên khảo và tham khảo
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ
mới, do Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa và Trần Khắc Việt đồng chủ biên [150].
Công trình này dành một phần bàn về đổi mới PTLĐ của Đảng. Các tác giả nhận
định: tiến bộ rõ rệt nhất trong đổi mới PTLĐ của Đảng là các tổ chức, cấp ủy đảng
giảm bớt sự can thiệp, áp đặt một cách không cần thiết, vụn vặt vào công việc của
cơ quan nhà nước, đoàn thể, lãnh đạo chuyên môn, thực hiện sự lãnh đạo theo đúng
công trình khoa học này chưa có điều kiện làm rõ nội dung, PTLĐ của tỉnh ủy đối
với CQT và chưa đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh
ủy đối với CQT.
- Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
điều kiện mới, do Đỗ Hoài Nam chủ biên [74]. Cuốn sách giới thiệu về đảng cầm
quyền trong HTCT ở một số nước tư bản chủ nghĩa và sự cầm quyền của Đảng
Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện cải cách, mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội
mang đặc sắc Trung Quốc. Cuốn sách tập trung luận giải những vấn đề về lý luận
và thực tiễn về vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế. Trên cơ
sở đó, các tác giả đề xuất một số quan điểm, nội dung và giải pháp nâng cao vị trí
cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến năm 2010 và tầm
7
nhìn đến năm 2020. Tập thể tác giả đề xuất giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng,
trong đó khâu mấu chốt, đột phá là đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, song
chưa đề cập đến giải pháp đổi mới PTLĐ của cấp ủy địa phương đối với chính
quyền cùng cấp.
- Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, do Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình
Bôn đồng chủ biên [82]. Cuốn sách cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới
quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT - XH ở nước ta hiện nay. Về mối
quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, công trình nghiên cứu này có những luận giải sắc
sảo, nhất là về nội dung và phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước. Các tác giả cho
rằng, nội dung lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng đối với Nhà nước là bảo
đảm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, một Nhà nước
trong sạch, dân chủ và hiện đại. Đảng lãnh đạo nhưng không phải làm thay Nhà
nước, Nhà nước phải có thực quyền.
- Thể chế Đảng cầm quyền: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, do Đặng
Đình Tân, Đặng Minh Tuấn chủ biên [111]. Cuốn sách này tập trung luận giải về
vấn đề thể chế đảng cầm quyền, thể chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà
nước trong quá trình đổi mới ở Việt Nam. Các tác giả đề xuất sáu định hướng, sáu
giải pháp chung và một số giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục đổi mới thể chế Đảng lãnh
đạo Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Công trình này tuy không trực tiếp nghiên
cứu về tỉnh ủy lãnh đạo CQT nhưng góp phần làm rõ hơn chức năng lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước, cung cấp cách tiếp cận và giải quyết vấn đề Đảng lãnh đạo
từ góc độ của thể chế.
- Thẩm quyền và trách nhiệm của đảng cầm quyền và nhà nước trong việc
thực hiện quyền lực của nhân dân, do Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn chủ biên [83].
Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao thẩm quyền, trách
nhiệm của đảng cầm quyền và nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân.
Các tác giả trình bày rõ tình trạng chồng chéo, lẫn lộn chức năng trong các quy định
hiện hành về quyền lãnh đạo của Đảng và quyền quản lý, điều hành của Nhà nước
trong quá trình thực hiện quyền lực của nhân dân. Sự phân định giữa chức năng lãnh
đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý điều hành của Nhà nước không rõ ràng
dẫn đến tình trạng suy giảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và suy giảm hiệu lực,
hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước. Các tác giả chỉ rõ năm nguyên nhân sâu xa
9
và sáu nguyên nhân trực tiếp. Trong đó, các tác giả tập trung phân tích hai nguyên
nhân cơ bản: (i) Chưa xác định rõ, đúng đắn và chính xác vị trí, chức năng và nhiệm
vụ của Đảng trong thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; (ii) Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống nhưng không bị xử lý nghiêm minh.
Các tác giả chỉ rõ sự khác nhau giữa chức năng lãnh đạo của Đảng cầm
quyền với chức năng quản lý của Nhà nước. Chức năng lãnh đạo của Đảng thể hiện
với hai nội dung chủ yếu là định hướng và kiểm tra. Đảng định hướng sự phát triển
đảng, chính quyền, đoàn thể của tỉnh và thông qua các ủy viên BCH để chỉ đạo thực
hiện. Đề tài xác định rõ những vấn đề phải đưa ra tập thể tỉnh ủy để thảo luận. Tuy
nhiên, đề tài chưa có điều kiện nghiên cứu về đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với
CQT, nhất là chưa bàn đến tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT.
- Những căn cứ lý luận cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Nguyễn Hữu Tri làm
Chủ nhiệm [148]. Liên quan đến vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước, đề tài này góp
phần làm sáng tỏ nhiều nội dung quan trọng, chỉ rõ những căn cứ lý luận cơ bản về
nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhiên, đề tài chưa nghiên cứu nội dung, PTLĐ của
tỉnh ủy đối với CQT.
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Phạm
Ngọc Quang làm Chủ nhiệm [94]. Đề tài chỉ ra những nhân tố quy định PTLĐ của
Đảng đối với Nhà nước, nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ. Nội
dung lãnh đạo đòi hỏi phải có PTLĐ phù hợp để tác động đến đối tượng nhằm thực
hiện tốt nội dung đó. Khi nội dung lãnh đạo thay đổi, PTLĐ cũng phải thay đổi
theo. Bên cạnh đó, PTLĐ còn phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan và khách quan
như: tổ chức bộ máy của Đảng và cơ chế vận hành, mối quan hệ, tác động qua lại
giữa các bộ phận trong tổ chức bộ máy của Đảng; tổ chức bộ máy của Nhà nước,
nguyên tắc phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước; cơ chế tổ
chức bộ máy và mối quan hệ qua lại giữa tổ chức, bộ máy của Đảng với các tổ chức
CT - XH; trình độ của cán bộ Đảng; đạo đức và phong cách của những người lãnh
đạo chủ chốt của Đảng; bối cảnh KT - XH trong nước và thế giới; nhận thức chính
trị của quần chúng; trình độ phát triển của khoa học - công nghệ và khả năng sử
11
dụng chúng để khoa học hóa, hiện đại hóa PTLĐ. Từ đó, các tác giả đi đến nhận
định: PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước tùy thuộc: đặc tính khách quan và chức
12
cấp ủy lãnh đạo HĐND thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát; cấp ủy giới thiệu
Bí thư hoặc Phó Bí thư cấp ủy ứng cử giữ chức Chủ tịch HĐND, phát huy vai trò
của Đảng đoàn HĐND cấp tỉnh trong lãnh đạo trực tiếp HĐND. Bên cạnh đó, việc
đổi mới PTLĐ của cấp ủy đối với HĐND có những hạn chế: tình trạng cấp ủy bao
biện, làm thay HĐND cùng cấp và tình trạng HĐND thụ động vẫn còn diễn ra khá
phổ biến; ở không ít địa phương, phần lớn các nghị quyết, chủ trương, biện pháp
của HĐND khi thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết, chương trình của cấp ủy, tình
trạng sao chép, lặp lại nghị quyết của cấp ủy vẫn diễn ra khá đậm nét và phổ biến;
cấp ủy lãnh đạo HĐND thực hiện chức năng giám sát vẫn là khâu yếu, dẫn đến tình
trạng nghị quyết chậm đi vào cuộc sống, hoặc dừng lại trên giấy; việc đôn đốc,
kiểm tra thực hiện các kiến nghị, đề xuất, các kết luận sau giám sát của HĐND còn
thiếu quyết liệt, thiếu liên tục, thiếu sâu sát; chưa thống nhất mô hình Bí thư hoặc
Phó Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND.
Về đổi mới PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với UBND địa phương, công
trình này khái quát năm thành tựu và năm hạn chế. Các thành tựu bao gồm: các cấp
ủy đã xác lập cơ chế lãnh đạo đối với UBND; tập trung lãnh đạo xây dựng và phát
huy vai trò bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; ban hành các văn bản
lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn phù hợp; tăng cường chế độ giao ban giữa thường trực
cấp ủy, thường trực UBND và thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; từng
bước cải tiến lề lối làm việc, phong cách công tác của cấp ủy. Bên cạnh đó, việc đổi
mới PTLĐ của cấp ủy đối với UBND vẫn có các hạn chế như: tồn tại sự “song
trùng” của hai cơ quan quyền lực (cấp ủy, chính quyền) cùng giải quyết các nội
dung của một số mục tiêu; chưa xác định rõ phạm vi chức trách, thẩm quyền của
cấp ủy địa phương trong quan hệ với UBND; nhiều cấp ủy bao biện, “lấn sân”
UBND, xem UBND chỉ đơn thuần là công cụ hợp thức hóa các quyết định của cấp
ủy; còn tình trạng cấp ủy gần như bỏ mất vai trò lãnh đạo, định hướng, dẫn dắt của
mình; chưa hình thành cơ chế huy động MTTQ và các tổ chức CT - XH phối hợp
với UBND trong triển khai nhiệm vụ và giám sát hoạt động của UBND.
Tuy đề tài đề xuất những giải pháp tiếp tục đổi mới PTLĐ của cấp ủy đối với
cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng HĐND cấp tỉnh từ
năm 1999 đến nay, tác giả đề xuất nhóm giải pháp bảo đảm bên trong HĐND cấp
tỉnh và nhóm giải pháp bảo đảm bên ngoài HĐND cấp tỉnh nhằm bảo đảm chất
lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
14
XHCN Việt Nam. Trong đó, tác giả đề xuất giải pháp đổi mới PTLĐ của cấp ủy
đảng đối với HĐND tỉnh: (i) Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ; (ii) Nhận thức đúng
về vị trí, vai trò của HĐND cấp tỉnh; (iii) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
tổ chức kỳ họp và hoạt động giám sát của HĐND; (iv) Nâng cao chất lượng nghị
quyết của cấp ủy đảng lãnh đạo HĐND; (v) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
đối với hoạt động của HĐND và tăng cường công tác phổ biến pháp luật về vị trí,
vai trò của HĐND cho cán bộ, đảng viên.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quyền huyện
ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay của Trần Quang Cảnh [13]. Luận án
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính
quyền huyện; thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra về đổi
mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
phương hướng và những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối
với chính quyền huyện ở ĐBSH đến năm 2020, trong đó, nhấn mạnh đổi mới, kiện
toàn tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ chính quyền huyện, đẩy mạnh cải cách hành
chính; nâng cao chất lượng các ban tham mưu của huyện ủy, có chính sách thu hút
nhân tài và tổ chức thi tuyển công khai để chọn cán bộ có đức, có tài về làm việc
trong các ban tham mưu của huyện ủy.
- Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách hành chính nhà
nước trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Hữu Nhân [78]. Tác giả trình bày
tường minh khái niệm, chín nội dung và bảy phương thức Thành ủy thành phố Hồ
Chí Minh lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước (CCHCNN). Tác giả đánh giá
thực trạng CCHCNN ở thành phố Hồ Chí Minh và thực trạng Thành ủy thành phố
từng nhiệm kỳ; bảo đảm thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ”; không bao biện làm thay đồng thời không buông lỏng sự lãnh đạo
của Đảng. Từ đó, các tác giả đề xuất ba giải pháp tiếp tục đổi mới PTLĐ của Tỉnh
ủy Tiền Giang đối với UBND tỉnh.
- Đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh của
Nguyễn Văn Biết [9]. Tác giả chỉ rõ thực trạng các cấp ủy thường có xu hướng can
thiệp sâu vào công việc quản lý nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước kém năng
động và khó thích ứng điều kiện mới. Từ đó, chỉ rõ tính cấp thiết phải đổi mới
PTLĐ của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cụ thể là: đổi mới việc ra nghị
quyết; đổi mới công tác cán bộ, phát huy vai trò của người đứng đầu và đổi mới,
kiện toàn các cơ quan tham mưu của tỉnh ủy.
16
- Quá trình phát triển nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Trần Khắc Việt [163]. Tác giả trình bày
khái quát quá trình phát triển nhận thức của Đảng về đổi mới PTLĐ của Đảng đối
với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan
lãnh đạo của Đảng, nhất là cấp Trung ương, đối với hoạt động của các cơ quan nhà
nước, định hướng PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với chính quyền địa phương ngày
càng cụ thể. Bài viết chưa có điều kiện đề cập đến vấn đề phát triển nhận thức của
Đảng về PTLĐ của các cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo Đảng lãnh đạo Nhà nước đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta của Nguyễn Hữu
Đổng [47]. Tác giả làm rõ một số bất cập của mô hình Đảng lãnh đạo Nhà nước:
khó phân định chức năng lãnh đạo và chức năng cầm quyền của Đảng trong điều
kiện chỉ có một đảng lãnh đạo và cầm quyền; cơ chế song trùng- Đảng và Nhà nước
cùng thực hiện vai trò cầm quyền; dẫn đến tha hóa quyền lực trong Đảng… Trên cơ
sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để thực hiện mô hình Đảng cầm quyền ở
nước ta: đổi mới mô hình ủy ban kiểm tra của Đảng do cấp ủy bầu thành ủy ban
Đảng Cộng sản Trung Quốc như: tăng cường xây dựng tư tưởng, chính trị, kiện toàn
chế độ tập trung dân chủ; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ và
về vấn đề quản lý chỉnh đốn tác phong Đảng.
- Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng của Lưu Chấn
Hoa [50]. Xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng là một chủ đề mang tính trường
tồn, là một công trình có tính hệ thống (nội dung cầm quyền, thể chế cầm quyền,
chủ thể cầm quyền). Nâng cao ý thức lãnh đạo của Đảng đồng thời củng cố vững
chắc nền tảng cầm quyền, bao gồm: quần chúng, chính trị, tổ chức, vật chất, lý luận,
giai cấp. Trong khi bàn luận về phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả đề cập
đến việc chuẩn hóa quan hệ giữa Đảng với hệ thống chính quyền. Cần vạch rõ chức
năng, nhiệm vụ của các cấp ủy đảng với đại hội đại biểu nhân dân, UBND, chính
hiệp (mặt trận thống nhất) và các tổ chức quần chúng; các cấp ủy đảng phải thông
qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể quần chúng
để thực hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo; tiếp tục chuẩn hóa về mặt chế độ, cơ chế đối
với mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với đại hội đại biểu nhân dân, UBND, chính hiệp
và các đoàn thể quần chúng. Tác giả nêu yêu cầu Đảng phải nâng cao nhận thức về
quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản đồng thời nhấn mạnh Đảng phải cầm quyền
một cách khoa học, dân chủ và theo hiến pháp, pháp luật.
18
- Cầm quyền khoa học của Hoàng Văn Hổ [61]. Bàn về vấn đề cầm quyền
khoa học của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả làm rõ quan điểm cầm quyền, ý
nghĩa quan trọng, bản chất của cầm quyền khoa học, mối quan hệ tương hỗ giữa cầm
quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật, kinh nghiệm vận
dụng cầm quyền khoa học... Các yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cầm quyền khoa học
gồm: năng lực học tập đổi mới, năng lực điều tiết lợi ích, năng lực tích hợp tài
nguyên, năng lực cầm quyền theo pháp luật, năng lực tự thanh lọc. Phương pháp nâng
cao năng lực cầm quyền khoa học là tăng cường trang bị lý luận, hoàn thiện cơ chế
tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, tăng cường đào tạo cán bộ.
cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện mới, không ngừng đổi
mới PTLĐ, phương thức cầm quyền theo hướng phù hợp với những yêu cầu của
thời đại, cầm quyền vừa mang tính khoa học vừa bảo đảm dân chủ và tuân theo quy
định của pháp luật.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu của Lào
- Đổi mới hệ thống chính trị cấp tỉnh ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sĩ Chính trị học của Sổm Lít Pước Kẹo [66].
Liên quan đến đề tài luận án, tác giả tập trung làm rõ vị trí và thực trạng của HTCT,
nêu các quan điểm cơ bản, phương hướng và giải pháp đổi mới HTCT cấp tỉnh
(trong đó CQT là một thành tố quan trọng của HTCT tỉnh) ở Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay. Trong hệ thống giải pháp, tác giả nhấn
mạnh việc xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu thành HTCT cấp tỉnh ở Lào.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo nhà nước ở nước Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào hiện nay, luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học của Xổm
Nức Xổm Vi Chít [167]. Tác giả trình bày khái quát cơ sở lý luận về đổi mới
PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, phân tích thực trạng đổi mới phương thức
Đảng lãnh đạo Nhà nước ở Lào. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp đổi
mới PTLĐ đối với Nhà nước góp phần đổi mới chính trị nói chung và đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào nói riêng.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu của một số nước khác
- Legitimacy and politics - A contribution to the study of political right and
political responsibility (Tính chính đáng chính trị - Đóng góp cho sự nghiên cứu về
20
tính đúng đắn chính trị và trách nhiệm chính trị) của Jean-Marc Coicaud [178]. Tác
giả đã nêu định nghĩa tính chính đáng chính trị, chỉ rõ những đặc trưng của nó, trình
bày sự tranh luận chung quanh tính hợp pháp chính trị, mối quan hệ giữa hiện thực
chính trị và tính hợp pháp, lý thuyết hợp pháp và khoa học chính trị, tính hiện đại, hợp
lý của khoa học xã hội và tính hợp pháp, kinh nghiệm của cộng đồng về tính chính