TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG y học cổ TRUYỀN hội CHỨNG TẠNG PHỦ THƯỜNG GẶP TRÊN lâm SÀNG - Pdf 41

HỘI CHỨNG TẠNG PHỦ THƯỜNG GẶP TRÊN LÂM SÀNG
(Inference and treatment of the popular zàng- fu syndromes in clinic).
MỤC TIÊU,YÊU CẦU
Nắm vững biện chứng tạng phủ, đề ra pháp chữa và phương thuốc.
Chức năng của mỗi tạng phủ có liên quan đến hiện tượng sinh lý bệnh
lý .
Trên lâm sàng phải dựa vào bản chất, phân tích đặc điểm chủ yếu tìm
ra mâu thuẫn nổi bật để chẩn đoán và điều trị chính xác.
1. Tâm và tiểu trường.
Chức năng chủ yếu của tâm.
Tâm chủ huyết mạch và chủ về thần chí , lâm sàng thường cũng biểu
hiện chủ yếu ở hai mặt “thần chí và huyết mạch”
Triệu chứng huyết mạch là: tâm dương hư, tâm âm hư và tâm huyết
ứ trệ
Triệu chứng của thần chí là: đam mê tâm khiếu và đàm hoả nội bế…
Triệu chứng ở tiêu trường là: “ tâm đa nhiệt vụ tiểu trường”: dẫn đến
nhiệt nhập tâm bào thuộc phạm vị bệnh “ôn nhiệt” (sẽ mô tả ở phần sau).
1.HC. Tâm dương bất túc.
Bao gồm: tâm khí hư, tâm dương hư, tâm dương hư thoát đều có triệu
chứng chủ yếu là: hồi hộp, đoản khí (khi gắng sức tăng lên), tự hãn, lưỡi nhợt,
rêu trắng.
Thiên về tâm khí hư kèm theo gầy gò vô lực,
sắc mặt trắng nhợt hay thở dài
lưỡi mềm, bệu, mạch hư.
Thiên về tâm dương hư: kèm theo tứ chi lạnh,
vùng tim đầy tức đau,
mạch tế nhược hoặc kết đại.
Tâm dương hư thoát:
ra mồ hôi nhiều,
tứ chi quyết lạnh,
miệng môi xanh tím,

- Tiểu tiện vàng đỏ
- Lưỡi đỏ, mạch sác
Phương pháp điều trị: thanh tâm lợi niệu
Các vị thuốc: hoàng liên, mộc thông, sa tiền tử
(Bài thuốc được dùng trong các chứng tâm thần; ảo giác, ảo thính, hoang
tưởng).
Hội chứngtâm hư:
- Hồi hôp, lo sợ, hay quên
- Ngủ không say, hay mê,, mê vui vẻ
- Di mộng tinh, đau vùng trước tim.
- Tự đổ mồ hôi, từ hãn hoặc ra mồ hôi trộm.(đạo hãn)
- Chất lưỡi nhợt nhạt
- Mạch tế nhược
Điều trị: ôn tâm dương; nhục quế, hắc phụ tử, phá cố chỉ…
3. Hội chứng tiểu trường.
Hư hàn: - Đau bụng dưới
- Thích xoa bóp
- Tiểu tiện trong dài
- Phân trắng
- Mạch tế nhược
- Rêu lưỡi trắng mỏng
Thực nhiệt: - Đau bụng dưới, đầy bụng.
- Tiểu tiện thường đỏ
- Hay đau tinh hoàn
- Rêu lưỡi vàng, chất đỏ
- Mạch hoạt sác
Trên thực tế lâm sàng ít thấy hội chứng tiểu trường riêng mà thường
nằm trong hội chứng tỳ vị hư hàn.



nhiều, đặc, vàng có phát sốt, lưỡi đỏ, rêu vàng mạch hoạt sác.
- Pháp điều trị: tả phế trục đàm
- Thường dùng bài thuốc: đình lịch đại táo tả phế thang hoặc bài thuốc
tam tử bình suyễn thang gia giảm, ngoài ra còn căn cứ vào triệu chứng có kiêm
hàn hay kiêm nhiệt mà gia giảm.
Liên hệ với y học hiện đại hay gặp trong.
- Khí phế thũng
- Viêm phế quản thể hen mãn tính
- Viêm màng phổi do lao
- Có tràn dịch màng phổi là đàm trọc trở phế.


Giãn phế quản cũng thuộc đàm trọc trở phế có thể dùng đình lịch đại táo
tả phế thang gia
thêm tang bạch bì, bách bộ, bách cập, qua lâu, tử uyển…
2. Phế hàn khái suyễn.
Triệu chứng:
Ho kịch liệt, khó thở, đờm dính trắng nhiều hoặc đờm lỏng khó khạc, nặng ho
tức ngực khó nằm yên hoặc kèm theo phát sốt, sợ lạnh, rêu trắng nhuận, mạch
khẩn hoặc phù khẩn.
Pháp điều trị:
Ôn phế trừ hàn, trục đàm
“Tiếu thanh long thang gia vị”,
Y học hiện đại, bao gồm: viêm phế quản cấp mãn tính, viêm phế quản thể hen,
hen phế quản.
Nếu do khí phế thũng phải dùng thuốc”linh quế truật thảo thang gia giảm”.
Nếu khó thở phải dùng bài thuốc” tiểu thanh long thang hoặc bài thuốc tam ảo
thang” gia địa long, bán hạ để trừ đàm định suyễn.
3. Phế nhiệt khái suyễn.
Triệu chứng:

- Khái thấu khí đoản nặng, khó thở
- Đàm nhiều xanh lỏng, mệt mỏi, nói nhỏ yếu
- Sợ lạnh, tự hãn, sắc mặt trắng sáng
Lưỡi nhợt mềm, bệu mạch hư hoặc nhược
Nếu kèm theo đau ngực, hai bên lưỡi có ban điểm ứ huyết là khí hư huyết ứ.
Phế khí hư:
Khí bất túc làm ho khí đoản, âm thanh nhỏ nhẹ, yếu, khí hư tất sinh đàm, đàm
nhiều trong lỏng.
Phế khí bất túc bì mao sơ hở mà có sợ lạnh, tự hãn, chất lưỡi nhợt mềm, bệu,
mạch nhược là triệu chứng của hư, sắc mặt trắng sáng là phế khí bất túc.
Pháp điều trị:
Ich phế trừ đàm thường dùng các thuốc: hoàng kỳ, ngũ vị tử, bán hạ, quất hồng, đẳng sâm, tử uyển, hải nhũ thạch, trích thảo…Nếu phế khí hư
kèm theo huyết ứ phải dùng thêm thuốc hoạt huyết tiêu ứ như tam lăng, nga
truật.
Nếu trong đàm có máu gia thêm bách thảo sương hoặc huyết dư cháy để chỉ
huyết.
Liên hệ với y học hiện đại:
phế khí hư hay gặp trong viêm phế quản mãn tính, lao phổi, khí phế thũng nếu
bệnh nhân hen phế quản phải dùng thêm thuốc bổ khí kiện tỳ ích phế bổ thận
5. Phế âm hư (âm hư phế táo)
Triệu chứng:
- Khái thấu vô đàm
- Đàm ít mà dính, có khi có máu
- Triều nhiệt, đạo hãn, tự hãn
- Thủ túc tâm nhiệt (lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng)
- Gò má đỏ, mất ngủ, miệng khô, họng ráo
- Nói nhỏ, yếu, lưỡi mềm bệu, chất hồng
- Rêu ít, mạch tế sác
Phế âm hư: tân dịch không đầy đủ dẫn đến khái thấu vô đàm hoặc đàm ít mà
dính.

dẫn đến hai tạng đều suy nên xuất hiện chứng bệnh của hai tạng.
Ví dụ: phế tỳ khí hư, ho lâu ngày, đàm nhiều, xanh lỏng, phế hư. Còn gầy gò, mệt
mỏi, ăn uống kém, bụng chướng, tiện lỏng…là tỳ hư.
Phế thận lưỡng hư phần nhiều thuộc âm hư. Ngoài triệu chứng phế âm hư còn có
triệu chứng thận âm hư. Miệng khô, lưng đau, gối mỏi, di tinh.
Phải điều trị: bổ tỳ ích phế dùng bài thuốc hương sa lục quân gia giảm, nếu là
phế thận lưỡng hư phải tư bổ phế thận phải dùng bài thuốc lục vị địa hoàng hoàn gia
thêm thiên hoa phấn, mạch môn đông, sa sâm.
7. Đại trường thấp nhiệt
Triệu chứng: - Đau bụng, tiết tả “lỵ cấp hậu trọng”
- Đại tiện có niêm dịch, nục huyết (dây máu theo phân)
- Trĩ hậu môn
- Rêu trắng dày, hoặc vàng nhờn, lưỡi đỏ hồng
- Mạch trầm sác
Thấp nhiệt tụ ở đại trường là tà chính tương tranh làm cho đau bụng tiết tả,
thấp nhiệt thiên thịnh làm thương tổn đến khí huyết, trọc khí hạ hãm làm cho "lỵ cấp
hậu trọng”, tà thực (tà khí thực), phạm vào mạch làm cho mục huyết thấp nhiệt trệ ở
huyết mạch làm cho trĩ hậu môn và tiện huyết.
Pháp điều trị: thanh lợi thấp nhiệt.
Nếu như thấp biểu tiết tả dùng bài thuốc “cát căn cầm liên thang” hoặc thấp biểu lỵ
tật, trĩ dùng bài thuốc “bạch đầu ông thang”.


Nếu trĩ hoặc đại tiện ra máu có thể dùng thêm: quỉ hoa, địa du, kim ngân hoa, đông
qua nhân, trắc bá diệp, kinh giới sao, chỉ sác…
- Phế chủ giáng khí, phế khí đại hư phải kiện tỳ thăng đề, phế đại trường
tương quan biểu lý, phế thực biểu phải tả đại tràng, có lợi cho sự hoá giáng của
phế khí, còn như tâm khí bất túc mà dẫn đến tiện bế, không thông phải dùng tả
pháp mà phải bổ phế khí để nhuận. tràng
3. Thận và bàng quang

- Sắc mặt ảm đạm
- Phát dễ thoát lạc (tóc dễ rụng)
- Sợ lạnh
- Tai ù, tai điếc

- Tay chân không ấm
- Đoản khí, suyễn
- Tinh thần ủ rũ
- Răng lung lay


- Lưng gối đau mỏi
- Tiểu tiện ít
- Phù thũng hoặc tiểu tiện về đêm nhiều.
- Đại tiện lỏng nát, tự hãn
- Chất lưỡi bệu mềm, rêu trắng nhuận
- Mạch hư phù hoặc trầm trì vô lực
Nếu mệnh môn hỏa suy có thể xuất hiện.
- Dương nuy, hoạt tinh, ỉa chảy mãn tính
- Tứ chi lạnh hoặc đoản khí, khí suyễn vã mồ hôi, mạch ở lưỡng
xích nhược hoặc vi tế trầm trì, trường hợp tiểu tiện nhiều, đái són, đái
nhiều về đêm, sau khi đái nước tiểu còn sót lại, hoạt tinh tảo tiết, lưỡi
mềm, rêu trắng, mạch hư, trì nhược là:”thận khí bất cố”.

Giải thích bệnh lý:
Thận khai khiếu ra tai, kỳ hoa tại phát (vẻ đẹp của râu tóc, móng tay chân)
thận khí bất túc làm cho tai ù, tai điếc, tóc râu dễ rụng.
Thận chủ cốt, thận dương bất túc làm cho lưng gối đau mỏi, răng lung lay
“thận hư bất năng nạp khí quy thận” gây nên đoản khí mà suyễn.
Thận dương hư khiến toàn thân dương khí đều hư nên chỉ thể

còn phải kết hợp châm cứu; thận du – tam âm giao
3. Thận âm dương lưỡng hư.
Triệu chứng chủ yếu:
- Sắc mặt ảm đạm
- Rụng tóc, răng đau
- Khô miệng
- Chi lạnh, di tinh
- Dạ đa tiểu tiện (đái đêm nhiều)

- Tâm phiền
- Tự hãn
- Sợ lạnh
- Lưỡi nhợt, co ngắn
- Rêu mỏng
- Mạch trầm tế nhược
Bệnh lý: do âm dương hỗ căn, âm hư lâu ngày dẫn đến dương hư, trái
lại dương hư cũng dẫn đến âm hư, nếu thận âm dương đều hư tất nhiên sẽ dẫn
đến hai loại chứng hậu.
Khi biện chứng cụ thể cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể, chẳng
những phân biệt là âm hư nặng hay nhẹ mà còn là dương hư nặng hay nhẹ để
chọn dùng thuốc điều trị cho phù hợp.
Pháp chữa: phải âm dương cùng bổ. Phải dùng hợp phương bài thuốc;
hữu qui ẩm, tả qui ẩm gia giảm. Nếu dương hư nặng hơn thêm hai loại: ba
kích, nhục quế, còn âm hư nặng hơn gia qui bản, miết giáp, đan bì…
4. Tâm thận bất giao:
Triệu chứng chủ yếu.
- Tâm quí
- Đầu choáng
- Tâm phiền
- Mất ngủ, hay quên

mao căn, tía châu thảo…
Liên hệ y học hiện đại:
viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, viêm tiền liệt tuyến đều thuộc về thấp nhiệt
ở bàng quang nên có thể dùng bài thuốc bát chính tán vùng thận và bàng
quang.
Nếu lâu ngày thận khí hư phải dùng kim quĩ thận khí hoàn gia: ngưu tất, sa
tiền tử.
Đặc điểm biện chứng luận trị của thận và bàng quang.
+ Bệnh thận ít thực chứng không có biểu chứng, thận hàn là do dương
hư mà dẫn đến, thận hỏa vượng là do âm hư.
Vấn đề căn bản trong điều trị là phải bổ thận dương, tư thận âm.
+ Thận chủ tàng tinh: phép bổ dương thường trên cơ sở bổ âm mà gia
thêm thuốc.
Ví dụ: tên phương thuốc bổ thận dương “kim quĩ thận khí hoàn” tức là trên cơ
sở bài lục vị địa hoàng hoàn của phép bổ – tư thận âm.
Thêm chế phụ tử, nhục quế để ôn thận dương còn như dương hư quá nặng
cũng có thể chuyển hướng phù dương để phối âm nhưng chỉ tạm thời không
nên dùng lâu sẽ chuyển sang âm hư.
+ Bàng quang và thận tương quan biểu lý, vì vậy chứng bàng quang hư
phải bổ thận dương để trị bản, còn trị bàng quang thấp nhiệt có thể trực tiếp
thanh lợi ở bàng quang.

4 can và đởm.
Chức năng sinh lý của can chủ yếu sơ tiết và tàng huyết,


Khi bệnh lý chủ yếu biểu hiện triệu chứng của sơ tiết thất thường .
- Can uất, can hoả vượng.
- Can dương thượng nghịch (khang), can âm bất túc.
Can mất khả năng sơ tiết hoặc can hoả thịnh đều ảnh hưởng đến

khương, bạc hà.
2. Can dương thượng cang ( can dương quá thịnh)
Chủ chứng: -đau đầu huyễn vựng,
-dễ cáu gắt, đau sườn,
-nhìn sự vật không rõ mắt mờ,
-đắng miệng, hai bên lưỡi hồng, rêu trắng,


- mạch huyền.
Nếu như thấy đau đầu dữ dội, huyễn vựng, tai ù, tai điếc, mắt đỏ, đau
hai bên đầu, giận dữ, lưỡi hồng, rêu vàng hoặc vàng dày mà khô, mạch huyền
sác hữu lực đó là can hoả thịnh.
Can dương quá vượng dẫn đến can phong nội động tức là dẫn đến trúng
phong (chảy máu não). Xuất hiện triệu chứng: thất ngôn, mồm méo, mắt xếch
hoặc hôn mê, co giật, bán thân bất toại. Nếu do nhiệt cực (sốt cao) mà dẫn
đến can phong nội động trong bệnh ôn nhiệt (bệnh truyền nhiễm) nằm
trong phương pháp điều trị bệnh ôn nhiệt.
Bệnh lý: do can dương thăng phát thái quá, dương thiên thịnh ở mắt,
ở đầu nên thấy đầu choáng mắt hoa, huyễn vựng (huyết áp cao) miệng
đắng, sườn đau, hai bên rìa lưỡi hồng, mạnh huyền là triệu chứng thường
thấy ở kinh can đởm.
Còn can hoả thịnh (can hoả tích thịnh, kinh can thực hoả) ngoài triệu
chứng của can dương khang thịnh còn thấy triệu chứng của hoả nhiệt.
Ví dụ: hoả vượng ở trên làm cho đầu đau dữ dội kèm theo mắt đỏ, tai ù, do
can hoả thịnh ảnh hưởng đến chức năng tàng huyết “nhiệt bức huyết vong
hành” xuất hiện nôn máu, máu cam…
Can hoả thượng cang dẫn đến đau một bên đầu, đầu lưỡi và rìa lưỡi hồng
đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là triệu chứng của hoả nhiệt.
Cả hai thể bệnh trên đều có thể xuất hiện triệu chứng của can phong nội
động dẫn đến triệu chứng trúng phong.

Chủ chứng: huyễn vựng, đau đầu, tai ù, tai điếc, quáng gà, mất ngủ hay
mơ hoặc tay chân tê dại, lưỡi hồng ít tân (khô) rêu ít hoặc không rêu, mạch
huyền tế hoặc tế sác.
Bệnh lý: can dựa vào sự tư dưỡng của thận thủy, can âm bất túc thường do
thận âm bất túc “tinh bất hóa huyết, huyết bất dưỡng can” mà dẫn đến can âm
bất túc, cũng có thể dẫn đến can dương thiên vượng,nhưng đây là hư
chứng không phải can dương thiên vượng do thận âm bất túc đó là thực
chứng chú ý phân biệt còn can hoả thịnh thuộc chứng hoả nhiệt càng không
giống nhau.
Tuy nhiên các hội chứng trên đều có đau đầu, huyễn vựng, tai ù, tai điếc…
Nhưng đau đầu không thành cơn mà triền miên không ngừng, huyễn vựng mà
không muốn nhắm mắt, can hoả, tai ù đột nhiên xuất hiện, tay chân tê dại do
thận âm bất túc,không đủ để dưỡng can mà dẫn đến.
Phương pháp chữa: phải tư thận dưỡng can bài: kỷ cúc địa hoàng hoàn lục
vị thêm kỷ tử, cúc hoa. Cao huyết áp thuộc can âm bất túc có thể dùng lục
vị địa hoàng hoàn gia qui bản hoặc miết giáp, mẫu lệ, ngọc mễ tu.
Trong viêm võng mạc trung tâm thuộc chứng can âm bất túc, có thể dùng kỷ
cúc địa hoàng hoàn để dục âm tiềm dương.
Trong viêm gan mãn tính hoặc viêm gan kéo dài, ấn các gian sườn thấy đau
âm ỉ vùng mạn sườn, lưỡi hồng không rêu hoặc ít rêu, ít tân, mạch tế hoặc tế
sác là can âm bất túc có thể dùng nhất quán tiễn để dưỡng can âm hay tư âm
dưỡng huyết sơ can.
Sa sâm 12g
Quy thân 12g
Câu kỷ tử 12g
Sinh địa 12
Mạch môn đông 12g
Xuyên luyện tử 6g
4. Đởm nhiệt (can đởm thấp nhiệt)
Chủ chứng:

Khi tỳ bị bệnh phần nhiều là hư thấp (dương hư).
Bệnh ở vị đa phần là thực nhiệt; hư chứng hay gặp là vị âm hư. “Tỳ vị
vi hậu thiên chi bản”, tỳ vị hư sẽ ảnh hưởng đến ngũ tạng đặc biệt là với tâm
phế thận Hội chứng thường gặp trên lâm sàng. là phế tỳ lưỡng hư
1. Tỳ dương hư (tỳ vị hư hàn, tỳ dương bất túc)
Chủ chứng: - Sắc mặt vàng nhợt
- Phần bụng hoặc vị quản chướng đau.
- Đau mà thích nóng thích ấm
- Miệng ứa nước trong (khẩu phiếm thanh thủy)
- Ăn uống kém, không ngon
- Đại tiện lỏng, bạc màu. ỉa chảy hoặc lỵ tật kéo dài
,
-Chi thể gầy gò, vô lực, tứ chi không ấm, cơ nhục teo
mềm
-Tiểu tiện trong dài hoặc đái ít, phù thũng, ,
-lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận, mạch hoãn hoặc
nhược.
Giải thích bệnh lý: tỳ dương hư (hư hàn). Vận hoá giảm yếu, mặt
vàng, kém nhuận, ăn kém, không ngon…là do tỳ chủ cơ nhục tỳ dương bất
túc, làm cho tứ chi không ấm mà gầy gò vô lực, cơ nhục teo mềm tỳ dương hư


vận hóa thủy thấp rối loạn, tiểu tiện trong dài hoặc niệu ít mà sinh phù thũng.
Nếu có lưỡi nhợt mềm, rêu trắng nhuận, mạch hoãn hoặc nhược là chứng
dương hư.
Pháp điều trị: ôn trung kiện tỳ, thường dùng bài thuốc phụ quế lý
trung thang gia giảm. Liên hệ với y học hiện đại: tỳ dương hư, thường bao
gồm: viêm dạ dày mãn tính, rối loạn chức năng thần kinh, dạ dày, ruột, rối
loạn chức năng vị trường, viêm ruột mãn tính, lỵ tật mãn tính, rối loạn dinh
dưỡng đều dùng bài thuốc phụ tử lý trung thang gia giảm để điều trị. Viêm

Nếu can vị bất hòa phải sơ can kiện tỳ dùng bài thuốc dùng bài thuốc gia vị
dao tán.


Trong bệnh loét ruột, tỳ vị hư nhược dùng “ tứ quân tử thang” gia sài hồ,
hải phiêu tiêu hoặc hoàng kỳ kiến trung thang,
Nếu trung khí hạ hãm dùng dùng bổ trung ích khí, phải kết hợp thêm châm
cứu,nếu chảy máu dùng “quy tỳ hoàn” gia các thuốc chỉ huyết.
Nếu can bị bất hòa trong viêm gan mãn tính, có rối loạn chức năng thần
kinh, rối loạn chức năng đại tràng có thể dùng bài thuốc tiêu dao tán thêm
đẳng sâm.
Một số trường hợp có sốt rõ, biện chứng có tỳ vị hư nhược thiên về khí hư
dùng bổ trung ích khí thang,
Nếu khí huyết đều hư phải dùng quy tỳ thang, phương pháp đó gọi là “cam
ôn trừ nhiệt” pháp (phương pháp dùng vị thuốc ngọt và ấm để trừ chứng
bệnh sốt cao).
3. Tỳ vị thấp khốn (tỳ hư thổ khốn, thấp khốn tỳ dương)
Chủ chứng:
-Ăn uống giảm yếu, bụng đầy chướng, thậm chí
buồn nôn, nôn khan, thích uống nóng, nặng đầu,
Chỉ thể gầy yếu, mệt mỏi không muốn hoạt động hoặc phù thũng, tiết tả ỉa
lỏng,
Nữ giới thường có khí hư, bạch đới nhiều, rêu lưỡi dày, chất lưỡi nhợt,
mạch hoãn.
Gải thích bệnh lý: tỳ vị thấp khốn, tức là thấp trọc trở ngại đến chức
năng chuyển hoá của tỳ nên xuất hiện triệu chứng ăn kém, bụng chướng
đầy, nôn hoặc nôn khan. Tỳ chủ tứ chỉ nên khi tỳ hư thấy chi thể mệt mỏi,
gầy yếu, thấp trở ở trong, chất thanh dương bất thăng làm cho đầu nặng
như cùm. Thấp tụ ở dưới làm cho đau bụng ỉa lỏng, bạch đới nhiều, miệng
nhạt hoặc dính, rêu lưỡi dày nhờn, mạch hoãn là chứng thấp nặng. Nếu

Vô lực, ăn kém, bụng chướng, đại tiện lỏng nát,
Rêu lưỡi trắng nhuận, mạch tế nhược.
Nếu là tỳ thận dương hư thì tinh thần mệt mỏi, khí nhược, loạn ngôn,
khí suyễn, tứ chi vô lực, chi lạnh, đại tiện lỏng nát, (ngũ canh tả), ỉa lỏng
vào lúc sáng sớm, lưng lạnh, sợ lạnh. Toàn thân phù thũng hoặc cổ
chướng, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch tế nhược.
Giải thích bệnh lý: do tỳ hư sinh đàm, thận chủ nạp khí nên thận hư
khí suyễn. Thận chủ thủy, tỳ có chức năng vận hóa thủy thấp nên tỳ thận
dương hư sẽ sinh ra chứng phù (phù thũng, bụng có nước). Đặc trưng của
dương hư lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch hư nhược.ngũ canh tả
Pháp điều trị:
+ Bổ ích tâm tỳ “qui tỳ thang” gia vị, tỳ thận đều hư phải ôn bổ tỳ
thận dùng bài thuốc “ chân vũ thang gia vị”
+ Tâm phế mãn tính có khí suyễn đàm nhiều, phù thũng “chân vũ
thang” gia bán hạ, ma hoàng, nhục quế tâm.
+ Nếu phù tim hoặc xơ gan cổ chướng là tỳ thận dương hư dùng hợp
phương chân vũ thang + ngũ linh tán. Nếu viêm ruột lỵ tật mãn tính phải
dùng phụ tử lý trung thang hợp phương với bài thuốc tứ thần hoàn gia
giảm.
6. Vị hoả thịnh, vị âm hư.
Triệu chứng:
Phát sốt, phiền táo không yên, , răng đau, chân răng chảy máu, máu cam, nôn
máu, miệng khô, miệng đắng, tiện bế, lưỡi hồng, rêu vàng, mạch sác.
Vị âm hư ăn uống kém thậm chí không ăn được.
Nếu nhiệt, cực nhiệt, tiện bế, lưỡi đỏ, có ít rêu hoặc không rêu, mạch tế hoặc
tế sác đó là vị hoả thịnh.
Vị hoả thịnh (dương thịnh tắc nhiệt) vì vậy nên có triệu chứng trên.


Vị hoả thịnh theo kinh mạch dương minh thượng xung xuất hiện triệu chứng ở

Vệ, khí, doanh, huyết là một bộ phận cấu tạo nên cơ thể;
sau khi cơ thể cảm nhiễm chứng ôn nhiệt sẽ làm thay đổi chức năng của vệ,
khí, doanh, huyết.


Sự ảnh hưởng thường theo qui luật nhất định, qui luật của bốn giai đoạn hay
bốn thời kỳ; nông, sâu, nặng, nhẹ thoái lui.
Mọi nguyên tắc điều trị bệnh ôn nhiệt đều phải dựa theo bốn thời kỳ phát
bệnh. Trước hết biện chứng luận trị phải chú ý một số đặc điểm.
+ Phân biệt vị trí phát bệnh: phần vệ của bệnh ôn nhiệt tương ứng
với biểu chứng của bát cương,
Phần khí, doanh, huyết tương ứng với lý chứng của chẩn đoán bát cương.
Bệnh tà ở phần khí thường có triệu chứng phế, tỳ, đại trường, vị và đởm.
Bệnh tà ở phần doanh thường có triệu chứng của tâm và can.
Bệnh tà ở phần huyết thường có triệu chứng của tâm, can và thận.
+ Đặc trưng của các giai đoạn.
- Triệu chứng đặc trưng của vệ khí: phát sốt, sợ rét, đau đầu, rêu lưỡi
trắng mỏng, mạch phù hoặc phù sác.
- Triệu chứng đặc trưng của phần khí: sốt cao không sợ lạnh, vã mồ hôi
(phát hãn), miệng khát, thích uống, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch hồng sác
hoặc trầm thực.
- Triệu chứng đặc trưng của phần doanh: phát sốt càng giữa đêm sốt
càng cao phiền táo, thần chí không minh mẫn, mê sảng, loạn ngôn, miệng
không khát, có thể thấy xuất huyết mờ ở dưới da, lưỡi ráng đỏ, rêu ít hoặc
không có rêu, mạch tế sác.
- Triệu chứng đặc trưng ở phần huyết: cũng như triệu chứng của doanh
phận thần chí bất thanh (bán hôn mê), táo quá phát cuồng, xuất huyết rõ, nặng
có thể thấy nôn ra máu, đái máu hoặc đại tiện có máu, chất lưỡi ráng đỏ hoặc
tía mà khô, không có rêu, mạch trầm tế sác.
1.3. Quy luật chuyển biến của bệnh.

nếu sợ lạnh dùng liều thấp kinh giới, đạm đậu xị, nếu sốt cao tăng liều kim
ngân hoa, liên kiều.
Nếu miệng khát gia thiên hoa phấn, khái thấu gia hạnh nhân hoặc thay bài
“tang cúc ẩm”, Nếu khái huyết gia bạch mao căn, sơn chi tử, tây thảo căn, bỏ
kinh giới, đậu xị,
Nếu đau họng hầu, đau xưng trước tai thêm huyền sâm, bản lam căn, tức ngực,
chướng bụng thêm hoắc hương, uất kim, nếu xuất huyết ngoài da, sốt tăng bỏ
kinh giới, đạm đậu xị, bạc hà thêm đan bì, sinh địa, đại thanh diệp.
Chỉ định điều trị: sốt truyền nhiễm, cảm mạo, viêm kết mạc cấp, viêm
amyđan cấp, viêm phế quản cấp tính, quai bị (viêm tuyến nước bọt), viêm não,
màng não cấp tính thời kỳ đầu (biểu hiện phong ôn biểu chứng)
Biểu chứng thử ôn:
Triệu chứng: có triệu chứng đặc trưng của phần vệ, mình nặng, tức thượng vị ,
không có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, rêu lưỡi trắng nhờn, chất lưỡi hồng nhợt,
mạch nhu sác.
Đa phần bệnh phát sinh vào mùa hạ vì ngày nắng hạ thường bị thương thử
(cảm nắng) lại bị nhiễm lạnh hoặc ngâm nước lạnh thành chứng hàn thử
thấp.
Hàn uất ở cơ biểu tất sẽ sợ lạnh vô hãn, thử là hoả tà, vì vậy phát sốt,
mạch sác, thử làm tổn thương tân dịch, vì vậy mà chất lưỡi thon hồng,
thử nhiều kiêm thấp nên toàn thân tâm quản nặng nề, đau tức, mạch nhu.
Pháp điều trị: giải biểu thanh thử thường dùng “hương nhu ẩm”. Chỉ định
trong các bệnh truyền nhiễm, cảm mạo, viêm não thời kỳ đầu.
Ôn thấp biểu chứng có triệu chứng đặc trưng bệnh ở vệ khí, đầu nặng, đầu
choáng, chi thể nặng nề, các khớp đau mỏi, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch nhu
hoãn, bệnh thường phát vào tiết vũ thủy do thấp nhiệt tà xâm phạm phần biểu
mà phát bệnh, đặc tính của thấp là nê trệ nên có triệu chứng trên.


Pháp điều trị: giải biểu hoá thấp thường dùng “tam nhân thang” gia phong

2.2. Bệnh ở phần khí.
Bệnh ở phần khí là giai đoạn thứ hai của bệnh ôn nhiệt, triệu chứng đặc
trưng là; phát sốt tương đối cao, không sợ lạnh, miệng khát, lưỡi đỏ, rêu vàng,
mạch sác.
Bệnh tà xâm phạm vào phần khí, tà khí thịnh còn chính khí cũng thịnh, khí
hữu dư thành hoả vì vậy phần khí nóng.
Ngoài ra, ôn thấp từ phần vệ chuyển vào phần khí đều biến thành chứng nhiệt
ở khí phận. Trên lâm sàng có thể không phân biệt riêng lẻ phong, hàn, lương,
táo…thường gặp các hội chứng sau.
+ Khí phận nhiệt thịnh (nhiệt ở phần khí)


Triệu chứng đặc trưng là:, sốt rất cao, khát nhiều, vã mồ hôi, mạch hồng
đại, rêu lưỡi vàng mà khô đỏ, có thể có co giật, nói mê sảng, do khí phận nhiệt
thịnh, vì vậy có sốt cao, mặt đỏ.
Lý nhiệt hại tân bức tân dịch nên vã mồ hôi (đại hàn), sốt rất cao kết hợp
với đại hãn làm tổn thương tân dịch nên sinh khát nước nhiều, nhiệt vào
tâm thần nên nói loạn ngôn, mê sảng, co giật, đó là nhiệt cực sinh phong.
Pháp điều trị: phải thanh nhiệt sinh tân, thường dùng bạch hổ thang,
nếu có tức ngực, nặng mình mẩy, khát không uống nhiều, rêu lưỡi nhờn
là có thấp trọc kèm theo phải trọng dụng các vị thuốc phương hương hóa
thấp như phong lan, hoắc hương, có nói sảng phải gia thêm liên kiều,
mạch đông, trúc diệp, nếu co giật phải thêm địa long, câu đằng, nếu nhiệt
tà quá thịnh, vã mồ hôi nhiều, khát nhiều, mạch hồng đại, vô lực là nhiệt
làm tổn thương tân khí phải thêm thuốc ích khí sinh tân tây dương sâm
hoặc dùng “vương thị thanh thử ích khí thang”
+ Đàm nhiệt tụ phế (đàm nhiệt trở phế)
Triệu chứng đặc trưng có bệnh ở phần khí: ho tức ngực, nhiều đờm,
màu rêu vàng dính, khí suyễn, mạch hoạt sác. Do nhiệt tà thương phế thiêu đốt
tân dịch mà thành đàm vàng, đàm nhiệt trở phế, phế không tuyên giáng được

hạt vừng, do thấp nhiệt nội uẩn, hàn xuất không hết mà sinh ra đa số xuất hiện
ở cổ, trán, mặt và bụng, ngực, mụn mọng nước, căng, sáng bóng là thuận, khô
dính xám là nghịch, thần hôn loạn ngôn mà lưỡi đỏ, rêu vàng trắng, dầy nhờn
là thấp nhiệt kiêm đàm tụ che lấp tâm khiếu khác với nhiệt nhập tâm bào mà
sinh hôn mê.
Điều trị: phải thanh khí hóa thấp thường dùng bài thuốc “cam lộ tiêu
độc ẩm”, nếu như có sốt cao, miệng khát, phiền nhiều có thể thêm thạch cao,
tri mẫu, nếu sốt không cao, miệng không khát là thấp nhiều, nhiệt ít thêm
phong lan.
Nếu có hoàng đản thêm nhân trần, kê cốt thảo, điền có hoàng, nếu lỵ tật phải
dùng bài cát cầm liên thang, nếu thần hôn loạn ngôn phải dùng xương bồ uất
kim thang (thạch xương bồ, uất kim, chế sơn chi, liên kiều, cúc hoa, hoạt
thạch, đan bì, đạm trúc diệp, ngưu bàng tử, trúc lịch, nước gừng sống, ) để
thanh nhiệt hóa thấp, giáng đàm khai khiếu, quá trình bệnh thấp ôn tương đối
dài, bệnh tình phức tạp, đàm nhiều thấp là âm tà, tính nó dính trệ dễ tổn
thương đến dương khí khi điều trị không nên dùng thuốc quá hàm lượng hoặc
dùng thuốc tư nhờn nhiều. Trường vị có hàn đều có thể ngưng thành lịch hay
gặp trong bệnh viêm gan truyền nhiễm hoặc lỵ cấp tính.
- Khí-Vệ đồng bệnh.
Triệu chứng: đặc trưng của phần vệ là toàn thân đau mỏi, lạnh và sợ
lạnh.
Sở dĩ gọi biểu lý đồng bệnh vì biểu tà chưa được giải hết lại tiếp tục
chuyển vào phần lý. Y nghĩa quan trọng của chẩn đoán biểu chứng là sợ
lạnh.
Khi khí- vệ đồng bệnh dùng pháp thanh khí giải biểu.
Ví dụ bệnh thân cảm nhiễm biểu hiện lâm sàng có biểu nhiệt và lý nhiệt, có
thể dùng hợp phương bạch hổ thang và ngân kiều tán,
Nếu như bệnh nhân có triệu chứng biểu hàn và lý nhiệt có thể dùng bài thuốc
sài cát giải cơ thang (sài hồ, cát căn, khương hoạt, bạch chỉ, hoàng cầm, bạch
thược, cát cánh, cam thảo, thạch cao, sinh khương, đại táo), các phương pháp

Do nhiệt tà vào phần doanh mà âm doanh bị tổn thương vì thế nên phát sốt
cao về đêm, lưỡi ráng đỏ, không có rêu, mạch tế sác. Nhiệt trưng âm doanh
thăng lên, vì vậy nên không khát nhiều. Nhiệt nhập tâm thần nên phiền táo
không yên hoặc loạn ngôn, nhiệt nhập mạch lạc nên ban chẩn lờ mờ.
Pháp điều trị: thanh doanh tiết nhiệt thường dùng bài thuốc thanh
doanh thang. Chỉ định dùng trong viêm não, viêm não màng não và các
bệnh truyền nhiễm có triệu chứng ở phần doanh.
Doanh-Vệ đồng bệnh (doanh nhiệt kèm theo biểu chứng): bệnh phần
doanh kèm theo đau đầu, đau mình, sợ lạnh gọi là vệ doanh đồng bệnh,
khi điều trị dùng thanh doanh tiết nhiệt kết hợp với tân lương giải biểu.
Ví dụ dùng bài thuốc thanh doanh thang và ngân kiều tán kết hợp.
Khí-Doanh đồng bệnh: bệnh có triệu chứng của phần doanh kèm theo có triệu
chứng của phần khí có rêu lưỡi trắng vàng, chất lưỡi ráng là doanh khí đồng
bệnh.
Khi điều trị phải thanh khí lương doanh có thể dùng bài thuốc bạch hổ thang
cộng thanh doanh thang gia giảm.
Nhiệt nhập tâm bào.
Triệu chứng chính: rối loạn ý thức ở mức độ khác nhau,
Nói khó, phản ứng chậm, có ảo thính, ảo giác, thần hôn loạn ngôn,
Nếu nặng thì hôn mê, đại tiểu tiện không tự chủ,


Chất lưỡi ráng, mạch hoạt tế sác, có thể có bệnh nhân co giật.
Do nhiệt nhập tâm bào gây bế trở tâm khiếu gọi là “bế chứng”.
Phương pháp điều trị: thanh doanh tiết nhiệt, thanh tâm khai khiếu,
Thường dùng thanh doanh thang gia thêm tử tuyết đan hoặc dùng an cung
ngưu hoàng hoặc dùng chỉ ngọc đan, nếu có co giật thì thêm địa long, câu
đằng…
Ba bài thuốc an cung ngưu hoàng hoàn, tử tuyết đan, chỉ ngọc đan đều có tác
dụng thanh tâm khai khiếu.

phong ,co giật do huyết nhiệt tích thịnh (sốt cao).
Phương pháp điều trị: lương huyết thanh nhiệt giải độc, thường dùng
bài thuốc tê giác địa hoàng thang (tê giác hiếm có thể dùng nước mài của
sừng trâu từ 1 – 2 lượng để thay thế),



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status