THÂN THẾ SỰ NGHIỆP CỦA HẢI THƯỢNG –LÃN ÔNG
I. LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM,THÂN THẾ SỰ
NGHIỆP HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG.
1.1.VIỆT NAM CÓ ĐỊA SINH HỌC RIÊNG.
Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: mặt trời có khoảng 5 tỷ năm.
Thời đại cổ sinh cách đây 600 triệu năm.
Thời nguyên đại trung sinh cách đây 200 triệu năm, giải đất nước ta lúc
đầu như mầm xương sống hình chữ S đó là dãy núi Trường Sơn.
Thời đại tân sinh cách đây 50 triệu năm là thời kỳ tạo đất bồi đắp hợp
thành lục địa á châu có kết cấu địa chất địa tầng có sông, núi…
Cuối thời kỳ Đệ Tam đã có vượn cao cấp cách đây 10 – 20 triệu năm. Nhiều
nhà khảo cổ học Việt Nam đã chứng minh con người Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ Canh
Tân, cái nôi của loài người và cũng là cái nôi của các thuốc thảo mộc.
Do thời kỳ băng hà kéo dài Thuỷ Canh Tân đến Canh Tân. Nhưng ở nước
ta nói riêng và ở Đông nam á nói chung chỉ có mưa lớn. Sau băng hà nước biển trào
lên kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát
triển nguồn thức ăn của nhiều loại động vật trong đó có con người. Vượn ăn cỏ cây
động vật để sống đồng thời cũng chọn lọc tự nhiên những động vật và cây cỏ để ăn để
chữa bệnh. Vì vậy thuốc chữa bệnh được lưu truyền từ thời này sang thời khác, đời
này sang đời khác và tồn tại đến nay. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, y học cổ truyền
Việt Nam đã đúc kết được nhiều phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh bằng thuốc
và không dùng thuốc (châm cứu, day, bấm huyệt…) có hiệu quả. Đã phát hiện nhiều
vị thuốc quí: quả giun, gừng gió, ý dĩ, xương bồ, kỳ nam, sa nhân, đậu khấu, hương
phụ…được lưu truyền đến ngày nay.
1.2. VỀ XÃ HỘI CÓ LỊCH SỬ LÂU ĐỜI.
Nền văn minh Ai Cập cách đây 6000 năm, Trung Quốc có từ 4000 – 5000
năm trước công nguyên, Tây Tạng. ấn Độ có từ 3000 – 4000 năm (theo Hypocrat).
Việt Nam có nhà nước Văn Lang từ đời Hồng Bàng năm 2879 – 257 trước
công nguyên; thời đại các Vua Hùng, tổ tiên ta sớm sử dụng thuốc có nguồn gốc thực
nổi tiếng là “Hoạt nhân toát yếu” được sắc phong của Vua Lê Thánh Tông “Lương y
quốc, Thọ tư dân”. Hiện nay nhân dân lập đền thờ Hoàng Đôn Hoà tại quê ông thôn
Đa sĩ, xã Kiến Hưng, Thị xã Hà Đông, Tỉnh Hà Tây.
Đặc biệt trong thời kỳ này có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông
(1720 – 1791) quê Văn Xá Yên Mỹ Hải Hưng ông đã tóm được y lý y học cổ truyền
phương Đông, tổng kết những thành tựu y học cổ truyền Việt Nam từ trước đến thế kỷ
XVIII và đã vận dụng sáng tạo những tinh hoa y học cổ truyền vào điều kiện thời tiết
khí hậu liên quan đến đặc điểm phát bệnh ở nước ta. Tác phẩm “Hải Thượng Lãn Ông
y tâm lĩnh” là bộ sách đồ sộ gồm 28 tập, 66 quyển, đến nay vẫn được coi là bộ sách
bách khoa về y học cổ truyền. Ông đã tổng kết sáng tác hoàn chỉnh hệ thống hoá nền y
học truyền thống Việt Nam trên các lĩnh vực; nội khoa, ngoại khoa, sản phụ và nhi
khoa, ngũ quan khoa trên phương diện chẩn trị dự phòng từ lý pháp đến phương dược,
từ y đức đến y sử, y thuật đến các lĩnh vực thiên văn y học và thực trị học. Về dược
học Lãn Ông đã sưu tầm thêm 300 vị thuốc tổng hợp thành 2854 bài thuốc kinh
nghiệm. Nét độc đáo trong biện chứng luận trị y học cổ truyền của Lãn Ông đến nay
và mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động chẩn trị theo y lý cổ truyền của các thế
hệ thầy thuốc y học dân tộc Việt Nam.m lược nội dung chủ yếu của Nội kinh, kim quĩ
yếu lược, thương hàn luận và nạn kinh
1.Nội kinh.
Là sách viết về biện chứng luận trị các chứng và bệnh thuộc phạm
vi nội khoa bệnh học. Thông qua các phạm trù kinh điển của y học cổ truyền. VD: tý
chứng, tâm quí, tiêu khát, thoát thư, ngân tiết bệnh...Để liên hệ với các bệnh danh đã
được hiện đại hoá theo quan điểm y học hiện đại. Thế kỷ XIV đến TK XVIII các đại
danh y Việt Nam; Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông trên cơ sở thừa kế tiếp thu y học
phương Đông đã tóm lược trong “Nội kinh yếu chỉ” Lãn Ông chọn lọc những điểm
thiết yếu kinh điển thực tiễn của y học phương Đông làm cơ sở cho biện chứng một số
bệnh nội khoa học.
-Y già quan niệm: phân tích tổng hợp lý luận cơ bản học thuyết âm
-Hiệu phỏng tân phương (46): ghi chép 29 phương thuốc do Lãn
Ông sáng lập ra.
-Bách gia trân tăng (47,48,49): ghi chép 600 phương thuốc kinh
nghiệm thu lượm trong nhân dân và thừa kế Bùi Điện Đăng.
-Hành gian trân phụ (50,57): ghi chú 200 phương thuốc chọn loc
trong cac bản thảo đồi trứoc chủ đời trước chủ yếu là Nam Dược Thần Hiệu Tuệ Tĩnh
(TK XIV)
-Y phương án , Y ân án (59-60) chép 17 bệnh án chữa
khỏi ; 12 bệnh án tử vong
-Truyền tân bố chỉ (Châu ngọc cách ngôn (61) : điều cốt
yếu nhất trong nguyên tắc biện chứng luận trị
-Vệ sinh yếu quyết (62):Chuyên về vệ sinh ,dưỡng sinh
phòng bệnh
-Bảo thai thần biện toàn thư (63) con thất lạc
-Nữ công thắng lãm (64) :Cách nấu nướng -thực trị học
-Thượng kinh kí sự (65) :Kể lại hành trình của ông lên
Kinh Đô theo chiếu của nhà chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán ,1782
-Vận khí bí điển (66) : Qui luật chuyển dịch của ngũ
vận lục khí liên quan đến yếu tố bản tạng và trạng thái thiên thắng của cơ thể con
người .
1.3 NỘI KINH YẾU CHỈ : Lãn ông cho rằng “ Nhà y
có Nội Kinh
cũng như nhà nho co Ngũ Kinh ,đó là lời nói chí lý của thánh hiền , lý lẽ sâu xa về cơ
năng huyền bí đều thể hiện tất cả ở trong đó , lời giáo huấn ngày xưa còn để lại sáng
tỏ như mặt trời “ Theo quan điểm của Tuệ Tĩnh và Lãn Ông Nội Kinh “ Bộ sách cổ
“đề cập đến quan niện duy vật biện chứng cổ đại ,cơ thể con người lá một chính thể
giữa thiên nhiên ,cơ thể sống như một vũ trụ thu nhỏ “Nhân thân chi tiên thiên địa “.
Thuyết “Thien nhân tương ứng “trong vũ trụ bao la có bao nhiêu tinh tú thì cơ thể con
cách chữa chứng đầy bụng) chậm khó tiêu khi ăn và viêm màng não tình hoàn (sán
khí) bệnh thuộc can kinh; phong hàn tích tụ ở ngũ tạng, bệnh cảm phải gió lạnh
không theo lục kinh; trực trúng tạng phủ nào thì có trịêu chứng tạng phủ đó. Biện
chứng về đàm ẩm khái thấu, biện chứng bệnh tiêu khát (đái tháo đường), bệnh lâm
viêm nhiễm đường tiết niệu. Thực chất là thuỷ thũng, phù do nước không hoá thành
khí mà đọng lại. Thuỷ khí được chia ra; phong thuỷ, bi thuỷ, chính thuỷ, thạch thuỷ và
hoàng hản (mồ hôi có màu vàng); tên gọi này dựa vào nước đọng ở đâu để đặt, tuỳ
theo vị trí mà biện chứng dùng thuốc.
Mạch chứng và cách chữa hoàng đản; da vàng, mắtvàng, nước tiểu
vàng biện chứng về thấp nhiệt phạm tỳ ảnh hưởng đến vận hoá chuyển hoá tạng can
đởm thận vị. Mạch tạng tượng ứng với một số bệnh về tiêu hoá sinh dục, tiết niệu
nguyên do là thấp nhiệt.
Mạch chứng và cách chữa: kinh quí, thổ lục, hạ huyết, ngực đầy, ứ
huyết. Nghĩa là biện chứng về nhịp tim, hồi hộp, đánh trống ngực, nôn ra máu, bệnh
chảy máu cam và đại tiện ra máu. Suy từ kinh mạch để chẩn trị về huyết chứng.
Mạch chứng và cách chữa bệnh ẩu thổ, uế trọc, hạ lợi, biện chứng
về sóng mạch, hình mạch tương ứng để chẩn trị chứng nôn mửa nôn khan và ỉa chảy.
Tập kinh quí yếu lược là tóm lược những tài liệu quí giá như kho
vàng thời Hán được Trương Trọng Cảnh (2-3 sau công nguyên) tổng kết trong
thương hàn tạp bệnh luận hay tạp bệnh luận những bệnh lý hay gặp ngoài thương hàn.
Điểm đáng chú ý hầu hết những bài thuốc ở đây đều dùng rất ít vị
và dùng liều rất cao đúng là “quí hồ tinh bất quí hồ đa”
VD: Bài thuốc bạch đầu ông thang chữa chứng thấp nhiệt rót xuống
hạ tiêu.
Bạch đầu ông 120g, hoàng liên 120g, hoàng bá 120g, tân bì
120g.
4 vị thuốc trên, nước 7 thăng sắc còn 2 thăng, lọc bỏ bã uống ấm
một thang.
về y học lâm sàng cổ đại, cùng với lý luận y học cổ đại, tác phẩm được đánh giá tương
đương với “Nội kinh”. Đó là một cống hiến to lớn của Trong Cảnh đương thời, cùng
với Trọng Cảnh là đại danh y Hoa Đà, ông có trình độ tinh thông về nội, ngoại khoa,
phụ nhi khoa và châm cứu. Đặc biệt là trong điều trị ngoại khoa ông đạt nhiều thành
tựu rất ưu việt. Theo tài liệu Hậu Hán thì Hoa Đà là người đầu tiên đề xuất với thế
giới ứng dụng phương pháp vô cảm để phẫu thuật cacs phần bụng. Ông viết; nếu bệnh
tật phát hết ở trong châm và thuốc đều không có chuyển, biến chọn rượu mạnh uống
cho giảm đau, rạch phần bụng và lưng, cắt bỏ tích tụ hoặc trường vị có tật, cần phải
loại bỏ tận gốc. Ra đời trong hoàn cảnh như vậy “Thương hàn luận “ là mực thuốc về
phép biện chứng các bệnh thuộc ôn bệnh lệ dịch, bệnh truyền nhiễm cấp tính chủ yếu
là do lạnh (phong hàn). Các giai đoạn, các diễn biến theo lục kinh được mô tả đầy đủ,
các triệu chứng và phép tắc điều trị. Liên hệ ngày nay là hầu hết các bệnh thuộc
chuyên ngành truyền nhiễm, nội khoa bệnh học. Người xưa cho rằng: “Học y mà
không đọc sách Trọng Cảnh cũng như học nho mà không đọc sách Khổng Tử.
Theo nghĩa hẹp thương hàn là cảm phải khí hàn lãnh mà sinh ra
bệnh.
Theo nghĩa rộng bao gồm cảm phải các khí phong hàn, thư thấp
nghĩa là một bệnh do ngoại cảm gây ra. Ngoài ra theo nạn kinh thương hàn có 5 cách:
thử và trúng phong, thương hàn, thấp ôn, nhiệt bệnh và ôn bệnh mùa xuân, thư bệnh
mùa hạ, bệnh ngược (là sốt rét) , bệnh lỵ mùa thu, hàn khí là bệnh do mùa đông đều
thuộc phạm trù “thương hàn”. Như vậy “Thương hàn luận” không phải trị biến chứng
một loại cảm hàn mà còn biện chứng hàng trăm thứ bệnh từ đó mà ra...
Nội dung của “Thương hàn luận” bao gồm hai giai đoạn lớn.
-Giai đoạn 1: “Dương chứng chính khí tồn nội tà bất khả can”. Nếu
phát bệnh tà khí mạnh mẽ, chính khí đầy đủ. Giao tranh giữa tà khí và chính khí; giữa
tác nhân gây bệnh và sức đề kháng cơ thể được mô tả về bệnh chứng. Lâm sàng theo
ba mức độ.
+Thái dương bệnh
Túc quyết âm can kinh
Có thể liên hệ: bệnh lý hội chứng thái dương bệnh, là phản ứng
chính khí với tà khí ở phần bì phu niêm mạc; thái dương là phản ứng chính khí với tà
khí ở phần ngực và sườn; dương minh bệnh ở phần dạ dày, ruột, thái âm bệnh là phản
ứng chính tà ở phần tiêu hoá, mật, tuỵ, can, đởm. Thiếu âm bệnh là biểu hiện ở hệ
tuần hoàn; bệnh quyết âm là hệ thống thần kinh là thể dịch.
Trong biện chứng lục kinh có 397 phép và 113 phương tuỳ bệnh
chứng biến hoá và sức đề kháng của cơ thể mà “xem mạch chứng biết tà khí phạm vào
đâu, rồi tuỳ chứng mà chữa”
Biện chứng “Thương hàn luận” càng đọc càng hiểu thêm sâu kinh
phương biến hoá tựa rồng sử dụng cảm thấy linh thông thần kỳ.
Liên hệ với YHHĐ ngoài bệnh cảm mạo các thời kỳ của các bệnh
truyền nhiễm trong bao gồm: giai đoạn ủ bệnh (thời kỳ viêm họng khởi phát), giai
đoạn toàn phát triệu chứng rầm rộ hàn nhiệt vãng lai biểu lý đồng bệnh nếu không
được điều trị chuyển vào lý thực hàn hoặc lý thực nhiệt. Giai đoạn hồi phục nếu được
điều trị kịp thời bệnh qua khỏi; nếu không được điều trị, sức đề kháng cơ thể giảm sút
sẽ xuất hiện các biến chứng có thể có thoát dương, vong dương hoặc âm hư dẫn đến
vong âm. Thoát dương, vong dương là choáng, truỵ mạch, âm hư sinh nội nhiệt, vong
âm là rối loạn nước điện giải. Theo Hải Thượng Lãn Ông chứng bệnh sẽ hiện lên
lung tung kỳ hình quái dạng khó mà mệnh danh cần phải nắm vững cha của khí là
dương, mẹ của huyết là âm; chữa khí, chữa huyết không qua khỏi phải chữa vào âm
vào dương, biết vu âm trung cứu dương, bổ dương tiếp âm, bổ âm tiếp dương, bổ hoả
trong thuỷ. Liên hệ YHHĐ là điều chỉnh chức năng nội tiết trong đó có tuyến yên và
thượng thận để duy trì nước điện giải, hoạt động bình thường của tim mạch hô hấp
“âm bình dương bế tinh thần nại trị”. Đa số bài thuốc được dùng trong thương hàn
luận là tính giảm, ít vị, liều lượng vừa phải.
VD: bài ma hoàng thang điều trị chứng “thái dương trúng thương
-Tạng phủ phối tượng 6 nạn
-Tạng phủ độ số 10 nạn
-Hư thực tà chính 5 nạn
Tạng phủ truyền bệnh 2 nạn
Tạng phủ tích tụ 2 nạn
Ngũ tiết thương hàn 4 nạn
Thần thánh công sảo 1 nạn
Tạng phủ tịnh du 7 nạn
Dung châm bổ tả 13 nạn
Thực chất là giải thích rõ ràng những vấn đề cơ bản trong hệ thống
biện chứng luận trị của y học truyền thống phương Đông bào gồm:
Biện chứng luận trị về mạch học
Biện chứng luận trị về ngũ tạng lục phủ
Biện chứng luận trị về bệnh tật
Biện chứng luận trị kinh lạc
Biện chứng luận trị du huyệt và biện chứng luận trị về các phương pháp
châm cứu.
VD: Nan thần thánh công sảo: giải thích về 4 bước khám bệnh gọi là tứ
chẩn.
Vọng nhi tri chi vị chi thần nghĩa là nhìn người; thần sắc, hình thể, rêu lưỡi
mắt mà biết được bệnh là bậc thần.
Văn nhi tri chi vị chi thánh; nghe tiếng nói hơi thở, tiếng ho, ợ nấc, âm sắc,
đi cầu mà biết được bệnh là bậc thánh hiền.
Vấn nhi tri chi vị chi công: hỏi về quá trình phát bệnh, yếu tố ảnh hưởng và
quá trình chữa trịu; ăn ngủ, đại tiểu tiện, hỏi về mồ hôi kinh nguyệt mà biết được bệnh
là bậc thổ công, cái thiết nhi tri chi vị chi vị chi sảo là sờ nắn, khám mạch mà biết
được bệnh là bậc kỹ năng kỹ sảo. Cách giải thích này cũng không thống nhất nhưquan
điểm Hải Thượng Lãn Ông (TK - XVIII) (về mạch học), mạch là gợn sóng của khí
liệu về biện chứng luận trị trên các lĩnh vực nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, sản phụ
khoa, bì phu bệnh và ngũ quan bệnh. Điểm nổi bật trong các tài liệu này là sự kết hợp
chặt chẽ logic giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền Trung Hoa.
Trên cơ sở tóm lược những thành tựu của các ngành khoa học hiện đại kết
hợp với những tinh hoa của nền Y học cổ truyền Việt Nam thông qua một số thư tịch
y dược học cổ truyền Việt Nam bằng chữ Hán chữ Nôm mà Bộ môn còn lưu giữ: Nam
dược thần hiệu và Hồng nghĩa giác tư y thư ( Tuệ Tĩnh, TK XIV ).
Hoạt nhân toát yếu ( Hoàng Đôn Hoà, TK XVI ), Hải Thượng Lãn ông y
tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển nay còn 55 quyển ( Lê Hữu Trác, TK XVIII ).
Nét độc đáo về lý luận Y học cổ truyền Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm
trước hết ta nói về Tuệ Tĩnh trong “ Nam dược thần hiệu” ông đã tiếp thu y lý Y
học cổ truyền phương Đông và Y học cổ truyền Trung Hoa kết hợp với tổng kết
kinh nghiệm dân gian sắp đặt nguồn gốc để phân loại thuốc cổ truyền mang bản
sắc riêng Việt Nam.
Ông thu lượm 533 vị thuốc và chia thành 23 loại; loại cỏ mọc hoang
( Nguyễn Thảo bộ thư thảo bộ ) 62 vị, loại cỏ dây leo ( đằng thảo bộ ) 17 vị, loại cỏ
mọc ở nước ( thuỷ thảo bộ ) 6 vị, loại quả ( quả bộ ) 47 vị, loại cây ( mộc bộ ) 42 vị,
loài sâu bọ ( trùng bộ ) 32 vị, loại có vảy ( lân bộ ) 40 vị, loại cá ( ngư bộ ) 34 vị, loại
có mai ( giáp bộ ) 6 vị, loại không vảy ( giới bộ ) 13 vị, loài chim ( cầm loại ) 39 vị,
loài chim nước ( thuỷ điểu ) 12 vị, loại gia súc ( lục súc ) 26 vị, loại thú rừng ( sơn thú
bộ ) 36 vị, các thứ nước ( thuỷ bộ ) 9 vị, các thứ đất ( thổ bộ ) 14 vị, loại ngũ kim
( kim bộ ) 11vị, loại đá ( thạch bộ ) 7 vị, loại chất mặn ( lỗ bộ ) 4 vị, loại thuốc về
người ( nhân bộ ) 6 vị và 35 vị thuốc lượm lặt thêm. Hiện nay tuy nhiên chúng tôi
phân loại thuốc ( dược vật ) y học cổ truyền dựa theo nguồn gốc: động vật, nguồn gốc
thực vật, nguồn gốc khoáng vật và chủ yếu là phân loại theo biện chứng luận trị nhưng
trong diễn giải khi giảng dạy vẫn dùng cách phân loại độc đáo mang bản sắc Việt
Nam của Tuệ Tĩnh đã tham khảo.
Phương pháp luận trong chẩn trị đều có những nét riêng dễ hiểu “ Quan
thận vi tiên thiên chi bản, “ tỳ vị là kho lương, kho lương ấy mà cạn thì muôn quân tan
rã, nhưng tỳ vị lại là nồi cơm trên bếp lửa của thận hoả, thận chủ mệnh môn tướng
hoả. Nét độc đáo của Lãn Ông là hình tượng hoá hoạt động sống của cơ thể con người
tựa hồ như đèn kéo quân quanh ngọn lửa ( lửa là mệnh môn hoả, thận hoả ). Trong “
Đạo lưu dư vận” Lãn Ông đã truyền lại cho hậu thế phong cách lý luận y học cổ
truyền Việt Nam “ chữa bệnh nhẹ, người trẻ phải trọng dụng khí huyết, chữa trọng
bệnh tuổi già phải trọng dụng thuốc âm dương, bởi cha của khí là dương, mẹ của
huyết là âm, phải biết bổ âm tiếp dương, bổ dương tiếp âm, hoặc âm dương cùng
bổ” biết được lẽ này chữa bệnh nghìn người không sai một, đổi chết lấy sống dễ
dàng như trở bàn tay không biết được lẽ này chữa bệnh khác nào như leo cây
tìm cá vậy. Nhiều bệnh nặng phàm là các triệu chứng giả hiện lên lung tung, kì hình
quái dạng khó mà mệnh danh, nếu biết bổ âm tiếp dương ( vụ âm trung cứu dương )
thì các triệu chứng giả biến đi như tuyết tan ngói vỡ, các chứng thực của bệnh hiện lên
không tìm mà tự thấy.
KẾT LUẬN
Một số dẫn liệu thông qua thư tịch chữ Hán chữ Nôm của các y gia tiền bối
nhất là của Hải Thương Lãn Ông trong lĩnh vực y lý, biện chứng luận trị y dược học
cổ truyền Việt nam đã được Ông Việt hoá rất độc đáo, đặc sắc và sáng tạo đến bất
ngờ trong y giới xưa, nay và mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi phương diện khám
bệnh, chẩn trị và dự phòng bằng phương pháp luận YHCT bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng.