1
Chƣơng I
Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam thời gian
qua và định hướng phát triển chăn nuôi
đến năm 2010
1.1. Vai trò và vị trí của ngành chăn nuôi trong nền kinh tế quốc
dân
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong nền nông
nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt). Ðặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa rất
quan trọng đối với nƣớc ta khi có tới hơn 80% dân cƣ sống dựa vào nông
nghiệp. Chăn nuôi đóng vai trò chủ yếu sau:
Chăn nuôi là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dƣỡng cao (thịt,
trứng, sữa) cho đời sống con ngƣời.
Khi kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của con ngƣời ngày càng
đƣợc nâng lên. Trong điều kiện lao động của nền kinh tế và trình độ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cao đòi hỏi cƣờng độ lao động và lao động trí óc
ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm từ sản phẩm động vật sẽ ngày càng
chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của ngƣời dân. Chăn nuôi sẽ đáp
ứng đƣợc yêu cầu đó. Một lợn nái một năm đẻ trung bình 2 lứa, mỗi lứa
10 lợn con cai sữa, nếu đƣa vào nuôi thịt sau 6 tháng sẽ cho ra 2000 kg thịt
lợn. Một con gà mái đàn bố, mẹ trung bình một năm đẻ 250 trứng, ấp nở
ra 170-180 gà con một ngày tuổi, đƣa vào nuôi thịt sau 8 tuần thu đƣợc
370-400 kg thịt gà. Một con bê nuôi thịt sau 10-12 tháng cho 250-300 kg
thịt hơi. Một bò sữa chuyên dụng mỗi năm cho 5000-6000 lít sữa... là
nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con ngƣời. Các sản phẩm chăn
nuôi đều là các sản phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao, hàm lƣợng protein cao
và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực
vật vì vậy thực phẩm từ chăn nuôi luôn là các sản phẩm quý trong dinh
dƣỡng con ngƣời.
Bảng 1.1. Thành phần và số lượng phân nguyên chất của
một số loại vật nuôi
Loại
phân
Trâu
Bò
Lợn
Gà
Vịt
Nƣớc
(%)
82
73,8
83
16
17
N (%)
P (%)
K (%)
0,313
0,380
0,537
2,461
2190
36,59
700
17,17
-
(*) Trâu, bò chỉ tính lượng phân nhận được trong chuồng; Lợn tính
cho một đời lợn thịt.
- Chăn nuôi là một mắt xích quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo.
3
Ðể đạt đƣợc một nền sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần cho
xoá đói giảm nghèo thì chăn nuôi luôn có vị trí quan trọng. Với lợi thế thời
gian cho sản phẩm nhanh: Lợn thịt 6 tháng/ lứa, gà thịt 8 tuần/ lứa, khả
năng sinh sản cao: Lợn nái 10-12 con/ lứa, 2 lứa/ năm; gà trứng cho 280300 quả/ năm; sử dụng các phụ phẩm từ trồng trọt, chế biến giá trị dinh
dƣỡng thấp để tạo ra những sản phẩn có giá trị dinh dƣỡng cao: thịt, trứng,
sữa ... Vì vậy các đối tƣợng vật nuôi đƣợc xem là đối tƣợng quan tâm phát
triển đáp ứng yêu cầu quay vòng vốn vay xoá đói, giảm nghèo. Chăn nuôi
tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, thuỷ sản tạo nên hệ sinh thái nông
nghiệp V.A.C (vƣờn, ao, chuồng) hoặc V.A.C.R (vƣờn, ao, chuồng, rừng)
có hiệu quả kinh tế và bảo vệ đƣợc môi trƣờng sống. Tận dụng nguồn lao
động ở các vùng nông thôn, tham gia vào quá trình sản xuất chăn nuôi, tạo
thêm sản phẩm cho xã hội, tăng nguồn thu và mức sông cho mỗi gia đình.
Với vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi và sự quan tâm đúng
mức của Đảng, Nhà nƣớc nên giá trị ngành chăn nuôi và tỷ trọng ngành
chăn nuôi trong nông nghiệp ngày càng tăng (bảng 1.2).
Bảng 1.2. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (tỷ đồng)(*)
22944.4
Gia súc
6568.2
6481.8
7344.0
7854.0
8499.2
8848.5
9301.2
9922.6
10467.0
11181.9
11919.7
12298,3
13319.1
14422.2
Gia cầm
1980.1
1988.0
2229.7
2281.2
2304.2
2384.8
2506.5
2690.5
2835.0
3092.2
3295.7
2. Đồng bằng sông Hồng
3. Khu 4 cũ
4. Duyên hải miền trung
5. Tây Nguyên
6. Đông Nam Bộ
7. Đồng bằng sông Cửu Long
Diện tích (%)
100
32,0
3,6
15,4
13,5
16,5
7,0
12,0
Dân số (%)
100
17,0
19,7
13,4
10,4
4,5
13,2
21,8
Đất nông nghiệp khoảng 7,4 triệu ha, trong đó đất trồng cây hàng
năm là 5,5 triệu ha (riêng lúa chiếm 4,2 triệu ha); đất trồng cỏ chăn nuôi
0,3 triệu ha; đất mặt nƣớc dùng cho sản xuất nông nghiệp chỉ có 0,27 triệu
dịch tích cực. Cơ cấu tổng thu từ ngành trồng trọt chiếm 68,5%, thu từ
ngành chăn nuôi chiếm 29,5%, thu từ các hoạt động dịch vụ nông nghiệp
chỉ 2%. Trong ngành trồng trọt, tỉ lệ thu từ cây hàng năm chiếm 77,8%,
thu từ cây lâu năm 19,7%.
1.2.2.Tình hình phát triển chăn nuôi
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, ngành
chăn nuôi đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể.
1.2.2.1.Số lƣợng vật nuôi
Thống kê đàn gia súc, gia cầm cả nƣớc trong thời gian qua (Bảng 1.4)
Bảng 1.4. Số lượng gia súc, gia cầm cả nước qua các năm
Năm
Trâu
(1000
con)
TS.Bò
(1000
con)
Bò sữa
(con)
1980
1981
1982
2313,0
2380,3
Dê
(con)
173900
196500
224900
6
1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2979,1
3126,6
3201,7
3120,8
3151,0
3193,8
3333,0
3466,7
3638,7
3800,3
3904,8
3984,2
4063,5
4127,9
3899,1
4062,9
4397,3
4910,0
5800
11000
12100
13080
15000
16500
18700
22563
24501
26645
79165
85857
87803
96129
95424
94063
100962
103820
105259
117876
126399
131669
140004
151406
160550
167890
179323
198046
216010
233290
254060
218150
60721,5
63472,2
64816,7
69861,8
69098,4
72385,4
77064,7
51498
514810
516000
543860
569152
621013
780331
1020200
Số liệu trên bảng cho thấy: Năm 1980, đàn trâu có hơn 2,3 triệu con;
đàn bò gần 1,7 triệu con trong đó bò sữa 4.843 con; đàn lợn hơn 10 triệu
con; đàn dê 173.900 con. Tổng đàn gia cầm 61,5 triệu con, trong đó đàn
gà là 48,4 triệu con. Năm 1990, đàn trâu 2,85 triệu con; đàn bò 3,12 triệu
con (bò sữa 11.000 con); đàn lợn 12,26 triệu con; đàn dê 372.800 con;
tổng đàn gia cầm 183,8 triệu con. Năm 1999, đàn trâu 2,95 triệu con; bò
9,06 triệu con (bò sữa 29.400 con); lợn hơn 18,88 triệu con; gia cầm
179,32 triệu con; đàn dê 516.000 con. Năm 2003, đàn trâu có xu hƣớng
giảm chỉ còn hơn 2,8 triệu con; các đối tƣợng gia súc, gia cầm khác tiếp
tục tăng: đàn bò đạt 4,4 triệu con (bò sữa: 80.000 con); đàn lợn 25,5 triệu
con; gia cầm 254 triệu con. Năm 2004, đàn gia súc các loại đều tăng, riêng
đàn gia cầm giảm do ảnh hƣởng của dịch cúm vào cƣôi năm 2003 đầu
năm 2004 và còn ảnh hƣởng đến các năm sau.
Tốc độ tăng đàn gia súc, gia cầm trong 10 năm qua tính trung bình 3,06,0%, trong đó đàn lợn tăng 6,77%; bò tăng 4,1% (bò sữa tăng mạnh
48,06%); gia cầm tăng 6-9%/năm; riêng đàn trâu không tăng và ở một số
vùng có xu hƣớng giảm (-0,04%).
7
1.2.2.2. Sản phẩm chăn nuôi
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
448400
510900
643400
691900
715500
748600
833195
890328
886125
956984
1007900
1015200
1078866
1171538
1235933
1322097
1408320
1515004
1608476
1795400
Thịt
gia
cầm
Thịt trâu
bò
147246
153767
77357
79512
167900
146380
154435
169878
186411
197084
212954
226100
250100
261808
286513
322602
338400
372720
2269086
2346910
2672108
2825025
3083777
3168646
3226666
3442863
3708605
4161844
4530000
4854000
Sữa
3200
4216
4342
9000
9300
9352
13043
15073
16234
20925
27856
30768
32000
39692
%
Kg
%
17,746
100
19,589
100
22,4
100
13,51
76,1
2,64
14,8
1,58
8,9
37,9
280,8
15,04
76,8
2,95
Cơ cấu giống lợn hiện đang nuôi chủ yếu vẫn là các giống lợn nội. Ở phía
Bắc đàn lợn nái gần 1,5 triệu con trong đó nái Móng Cái chiếm 40-45%,
lợn nái lai 32-35%, các giống địa phƣơng khác 10-15%, lợn nái ngoại
hoặc nái lai nhiều máu ngoại chỉ 1-2%. Ở phía Nam 0,73 triệu con lợn nái
thì lợn nái lai nhiều máu ngoại và lợn Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu chiếm tỷ lệ
cao (70-80%), lợn nái ngoại chiếm 10-15%, còn lại là các giống địa
phƣơng khác. Trong đàn lợn nuôi thịt, tỉ lệ lợn lai 50% máu ngoại ( con lai
F1) là 67%, lợn nội 30%, lợn ngoại và nhiều máu ngoại mới chiếm 3%.
9
1.2.2.4. Tình hình chăn nuôi gia cầm
Gia cầm là loài vật nuôi có khả năng sinh sản nhanh nhất, vòng đời
ngắn nhất, vốn đầu tƣ ít và quy mô chăn nuôi linh hoạt, vì vậy trong
những năm gần đây gia cầm là đốI tƣợng nuôi quan trọng trong các
chƣơng trình xoá đói giảm nghèo. Gia cầm đƣợc nuôi ở tất cả các vùng
sinh thái nông nghiệp. Đàn gà 75% tập trung ở các tỉnh phía Bắc (từ khu 4
cũ trở ra), trong khi đàn vịt lạI phân bố tập trung nhiều ở đồng bằng sông
Cửu Long (hơn 50% tổng đàn vịt cả nƣớc). Phần lớn gia cầm (70-80%)
đƣợc nuôi theo phƣơng thức quảng canh, bán thâm canh trong các nông
hộ, mỗi hộ 20-30 con, một số ít nuôi thâm canh (công nghiệp) trong các
trang trại với quy mô 1000-2000 con. Thịt gia cầm sản xuất ra chiếm 15%
lƣợng thịt các loại, chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nƣớc. Trứng gia cầm
sản xuất ngày càng tăng nhƣng còn ở mức độ thấp (dƣới 50
quả/ngƣời/năm). Các giống gia cầm nuôi chủ yếu vẫn là các giống địa
phƣơng (80%) năng suất thấp, các giống cao sản nhập nội năng suất cao
hãy còn ít (20%). Những năm gần đây xu hƣớng chăn nuôi các giống gà
thả vƣờn, lông màu đang đƣợc quan tâm và phát triển với tốc độ nhanh.
1.2.2.5. Tình hình chăn nuôi trâu bò
đƣợc triển khai thực hiện nhƣ: bò sữa cao sản từ Úc; lợn có tỷ lệ nạc cao
từ Bỉ, Nhật; gà lông màu từ Trung Quốc; vịt cao sản thịt, trứng từ Anh,
Thái lan; ngan Pháp; bồ câu Pháp…đã tạo nên sự đa dạng trong sản phẩm
chăn nuôi ở nƣớc ta, đang góp phần tích cực trong các chƣơng trình xoá
đói giảm nghèo vƣơn lên làm giàu từ chăn nuôi và đã mở ra bƣớc phát
triển mới của ngành chăn nuôi.
1.3. Định hƣớng phát triển chăn nuôi đến năm 2010
1.3.1. Mục tiêu sản xuất chăn nuôi đến năm 2010
+ Mục tiêu chung của phát triển chăn nuôi là:
- Đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nƣớc và sản
xuất đƣợc thực phẩm có chất lƣợng cao để xuất khẩu.
- Cung cấp phân bón cho cây trồng và nguyên liệu khác cho công
nghiệp.
- Tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và điều kiện sống
cho các vùng nông thôn. Khai thác hiệu quả diện tích bãi chăn và phụ
phẩm nông-công nghiệp.
- Góp phần xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo
tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng trên cơ sở công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ngành chăn nuôi.
- Tăng dần giá trị ngành chăn nuôi so với tổng giá trị nông nghiệp
lên 30% vào năm 2010, đƣa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính
trong nông nghiệp.
+ Mục tiêu cụ thể
Năm 2010 Việt Nam đặt mục tiêu tổng đàn lợn 30 triệu con, đàn
trâu 3,5 triệu con, đàn bò 4,6 triệu con, đàn gia cầm 350 triệu con. Sản
phẩm chăn nuôi tính theo đầu ngƣời (tính cho 90 triệu dân): thịt 42 kg,
trứng 77 quả, sữa 2500ml. Trong quá trình phát triển chăn nuôi coi trong
năng suất, chất lƣợng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, an toàn (thực phẩm
sạch) và khả năng cạnh tranh.
3.2.2.Chăn nuôi gia cầm
+ Hướng phát triển
Phát triển chăn nuôi gà thả vƣờn, gà có chất lƣợng cao để tiêu thụ
trong nƣớc và xuất khẩu, đồng thời coi trọng phát triển chăn nuôi gà công
nghiệp chuyên dụng thịt, trứng cung cấp cho nhu cầu trong nƣớc. Lƣu ý
phát triển chăn nuôi gà ở vùng trung du, đồng bằng và ven đô thị.
Phát triển chăn nuôi vịt tập trung ở đồng bằng sông Hồng, đồng
bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải để cung cấp thịt, trứng, lông
cho thị trƣờng trong và ngoài nƣớc.
+Biện pháp
- Cải tiến phƣơng thức chăn nuôi truyền thống ở các nông hộ, đồng
thời xây dựng các cơ sở chăn nuôi gia cầm công nghiệp.
12
- Gây tạo giống gà thả vƣờn, gà chất lƣợng cao về thịt, trứng. Tiếp
tục nhập nội các giống gà công nghiệp có năng suất thịt, trứng cao.
3.2.3. Chăn nuôi trâu bò
+ Hướng phát triển
Phát triển chăn nuôi trâu bò ở miền núi vùng Đông Bắc, Tây Bắc
và các tỉnh Bắc Trung Bộ để lấy thịt, sức kéo và cung cấp phân bón cho
trồng trọt. Chọn lọc nhân thuần đàn trâu nội.
Phát triển chăn nuôi bò thịt ở các vùng có đồng cỏ và nhiều phụ
phẩm nông-công nghiệp, đặc biệt vùng Trung Bộ và Tây Nguyên. Thịt bò
phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc là chính nhƣng cần tìm kiếm thị
trƣờng cho xuất khẩu.
Phát triển chăn nuôi bò sữa ven các thành phố lớn và khu công
nghiệp (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…) và ở 2 cao nguyên Mộc Châu
và Lâm Đồng để có thể tự túc 25% nhu cầu về sữa tiêu thụ trong nƣớc.
con vật có dấu vết của quá trình lao động sáng tạo đó.
2.1.1. Nguồn gốc vật nuôi
Tất cả vật nuôi ngày này đều bắt nguồn từ thú hoang dã đã đƣợc thuần
hóa nhờ sức lao động và trí thông minh sáng tạo của con ngƣời.
Ngƣời ta cho rằng chó là con vật đƣợc thuần hóa đầu tiên, nhƣng ý
kiến này chƣa thực xác đáng. Gần đây ngƣời ta cho rằng dê, cừu là những
gia súc đƣợc thuần hóa sớm nhất mà nguồn gốc chúng là dê rừng.
Bò nhà hiện nay có 2 nhóm: nhóm không có u có nguồn gốc từ bò
rừng “Tua”, sống ở rừng châu Âu, châu Á, Bắc Phi. Các địa điểm thuần
hóa bò này là Trung Á, Ấn Ðộ, Malaysia, Bắc Phi và Nam châu Âu.
Nhóm bò có u hiện nay đang phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, á nhiệt
đới, nguồn gốc của nó có thể là một dạng đặc biệt hoặc do đột biến di
truyền của bò rừng Tua. Bò rừng có lông mềm, dài, thẳng, trán có xoáy ốc,
sắc lông đen hoặc nâu xám có sọc vàng dọc sống lƣng, sừng dài, đen, cong
nhƣ cánh cung, bò rừng rất khỏe và nhanh nhẹn, khá dữ tợn, con cái cao
150-170 cm, con đực cao 175-200 cm.
Trâu nhà hiện nay có nguồn gốc từ trâu rừng Ấn Ðộ, từ đó trâu đƣợc
thuần hóa lan theo 2 hƣớng: hƣớng Ðông Nam Á và hƣớng châu Phi,
Trung cận đông, Nam châu Âu. Có thể chia trâu làm 2 nhóm: nhóm sừng
ngắn, thƣờng gặp ở Nhật, Bắc Trung Quốc, Ai Cập, Ý, Nam Liên Xô (cũ),
nhóm sừng dài thƣờng gặp ở Miến Ðiện, Nam Trung Quốc, Việt Nam.
Lợn nhà có nguồn gốc từ lợn rừng châu Âu và lợn rừng châu Á,
chúng đƣợc thuần hóa ở nhiều địa điểm khác nhau: Ấn Ðộ, Ban tích,
Siberi, Anpơ, Ðông Nam Á trong đó có Việt Nam. Lợn rừng thƣờng có da
14
dày, lông cứng, màu xám đen hoặc sọc nâu sẫm, chân khỏe, chạy nhanh,
mõm dài, khỏe, con đực có răng nanh dài.
phù hợp với bản năng sống hoang dã của chúng, khỏe mạnh, hung tợn, di
động nhanh, thích ứng cao với ngoại cảnh. Trong khi đó, gia súc ngay sau
khi thuần hóa tầm vóc nhỏ đi, tính tình hiền lành, dễ sai khiến, đi đông
chậm, thích ứng với điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng của con ngƣời. Về
sau, do điều kiện nuôi dƣỡng của con ngƣời ngày càng hoàn thiện, do tác
động của chọn lọc mà tầm vóc của gia súc đƣợc tăng lên hoặc tầm vóc
lớn, nhỏ theo định hƣớng chọn tạo giống của con ngƣời
15
-Thay đổi về hình dáng, cấu tạo và chức năng các bộ phận: thú hoang
thƣờng có da dày, lông cứng, xƣơng lớn nhƣng gia súc thƣờng có da
mỏng, lông mịn, xƣơng nhỏ hơn. Những bộ phận trực tiếp tạo nên sản
phẩm càng có những biến đổi rõ rệt hơn. Chẳng hạn, bầu vú bò rừng kém
phát triển, lƣợng sữa của chúng chỉ đủ nuôi con, trong khi bầu vú bò sữa
rất lớn, có thể cho sữa gấp 5-6 lần nhu cầu của bê con. Vì vậy, hình dáng
bò sữa thƣờng có hình “nêm” do bầu vú rất phát triển, cơ thể phát triển
mạnh ở phần sau. Lợn rừng có đầu và vai phát triển ngƣợc lại lợn nhà,
phần lƣng, mông, đùi là phần thịt có giá trị nhất lại phát triển mạnh nhất.
-Thay đổi về khả năng sản xuất: đây chính là mục tiêu và cũng là biểu
hiện rõ rệt nhất của sự thuần hóa. So với thú hoang, sức sản xuất của gia
súc tăng hơn rất nhiều: gà rừng đẻ 20-30 trứng/năm trong khi gà nhà đẻ
200-300 trứng/năm, lợn rừng đẻ 5-6 con/năm trong khi lợn nhà đẻ 10-12
con/lứa, một năm 1,8-2,5 lứa.
- Hình thành nên các phẩm giống gia súc, gia cầm theo các hƣớng sản
xuất khác nhau. Cho tới nay, từ 15 loài động vật có vú, 10 loài chim khởi
đầu, con ngƣời đã thuần hóa, gây chọn đƣợc hàng nghìn phẩm giống mới
rất đa dạng. Về bò: các loại bò sữa (Holstein Friesian, Jersey, Brown
Swiss…), bò thịt (Aberdin Angus, Santa Gertrudis, Hereford...), bò kiêm
Những tính trạng của giống có thể chia làm 2 loại:
- Tính trạng chất lƣợng: gồm các tính trạng mà biểu hiện bên ngoài
của chúng có thể phân biệt đƣợc với nhau rõ ràng, dƣt khoát, có thể xác
định bằng một tính từ nhƣ: màu sắc lông trắng (đen, vàng,...), hình dáng
mào gà (mào cờ, mào sít...), tai lợn (cụp, đứng,...). các tính trạng này chịu
ảnh hƣởng sâu sắc bởi tính di truyền. Môi trƣờng sống cũng ảnh hƣởng tới
tính trạng chất lƣợng nhƣng không rõ nét bằng tính di truyền.
- Tính trạng số lƣợng: gồm các đặc điểm mà biểu hiện ra bên ngoài
không phân biệt với nhau đƣợc một cách rõ ràng, dứt khoát, thƣờng phải
biểu hiện ra qua nhiều trạng thái trung gian cho nên không thể dùng một
tính từ để xác định mà phải dùng thống kê qua số liệu đƣợc cân, đong, đo,
đếm và dùng phƣơng pháp thống kê phân tích độ chính xác của số liệu.
Các tính trạng số lƣợng bao gồm: khối lƣợng, chiều cao, chiều dài, sản
lƣợng thịt, sữa, trứng, tốc độ sinh trƣởng...
Giữa tính trạng số lƣợng và điều kiện sống có mối quan hệ chặt
chẽ mặc dầu biến dị của các tính trạng này có cơ sở di truyền nhƣng điều
kiện sống giữ một vai trò hết sức quan trọng. Ranh giới giữa hai loại tính
trạng số và chất lƣợng không thật rõ ràng, trong nhiều trƣờng hợp chúng
còn có mối liên quan với nhau một cách chặt chẽ. Trong chăn nuôi, phần
lớn các tính trạng số lƣợng đều mang giá trị kinh tế của con giống.
Ngoài ra tập tính (habit) và trạng thái thần kinh cũng là những đặc
điểm của giống.
2.1.3.2. Phân loại giống
Dựa vào mức độ tác động của con ngƣời trong quá trình thuần
dƣỡng gia súc, ngƣời ta phân chia giống thành 3 nhóm.
3.2.1. Giống nguyên thủy
Nhóm giống này có các đặc điểm chính sau:
- Tầm vóc nói chung nhỏ
- Sức sản xuất thấp, thƣờng mang tính kiêm dụng
- Thành thục muộn
chú ý đến ngoại hình. Trƣớc công nguyên, ngƣời La mã cho rằng gia súc
có lông sẫm thì khỏe, sức chịu đựng cao hơn gia súc có màu lông nhạt.
Khoảng thế kỷ thứ III, Bá Lạc (Trung Quốc), viết sách Tƣơng Mã Kinh
nói về ngoại hình của ngựa. Nhân dân ta từ xƣa đã có nhiều cao dao, tục
ngữ lƣu truyền kinh nghiệm chọn giống thông qua đặc điểm ngoại hình:
“Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua”
“Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy” (đối với gà)
Ðối với trâu cày: “Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi”
“Miệng gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn”; chọn con chân thon, móng
tròn quản thắt, gân mặt, gối eo, thân mình trƣờng nhiều, tiền treo hậu hạ,
sừng cong cánh ná …
Lê Quý Ðôn trong “Vân Ðài Luân Ngữ” cũng viết:
“Bạch xỉ, xơ mao, đoản vi, hồng bì” tức là: “ Răng trắng, lông thƣa,
đuôi ngắn, da hồng” là ngoại hình đẹp của lợn.
18
Chúng ta có thể định nghĩa ngoại hình nhƣ sau:
“Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức
khỏe, hoạt động của các bộ phận trong cơ thể cũng nhƣ khả năng sản xuất
và nó là hình dạng đặc trƣng của một giống cho phép ta phân biệt dễ dàng
giữa giống này với giống khác”. Con vật khỏe mạnh thì biểu hiện bên
ngoài là: da, lông bóng mƣợt, mềm, đàn hồi, hồng hào, mắt tinh nhanh.
Sức khỏe liên quan chặt chẽ tới thể chất, tới tính thích ứng với điều kiện
bên ngoài, tới sự hoạt động bình thƣờng của các cơ quan bộ phận trong cơ
thể. Khả năng sản xuất của con vật có thể đƣợc đánh giá thông qua sức
khỏe và một số bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là các bộ phận có liên quan
trực tiếp đến sản phẩm nhƣ: bầu vú của bò sữa; mông, vai, lƣờn của lợn
thịt... Mặt khác, đặc trƣng của ngoại hình là đặc điểm dễ nhận biết, đặc
- Thân hình chữ nhật, toàn thân đầy
đặn, sâu, rông.
- đầu ngắn, cổ ngắn vai nở, ngực
sâu rộng; lƣng, hông thân rộng, đầy
thịt, đùi ngắn, nở, chân thấp.
- Lớp mỡ dƣới da dày, lông thƣa,
mịn. Bầu vú không phát triển.
--------------------------------------------
Ngoại hình Lợn hƣớng nạc
- Thân dài, hẹp, phần mông đùi phát
triển lớn.
- Đầu nhỏ, mặt gọn, mắt tinh, vai,
lƣng, hông đầy đặn, chắc, chân cao,
bụng gọn.
Ngoại hình Lợn hƣớng mỡ
- Thân ngắn, sâu rộng, toàn thân
đầy đặn.
- Đầu to, má sệ, mắt kém tinh
nhanh, vai, lƣng, hông đầy đặn, hơi
chảy sệ, chân thấp, bụng sệ.
Ngoại hình Gà hƣớng trứng
- Thân hình thon mảnh
- Đầu nhỏ, bụng to, chân thấp
- Đầu to, ức, lƣờn, lƣng, đùi phát
triển, chân cao, vạm vỡ.
- Nhanh nhẹn, ƣa vận đ ộng
Xuất phát từ những cơ sở khác nhau trong việc xác định bản chất của
thể chất mà ngƣời ta có những phân loại thể chất khác nhau. Những phân
loại có giá trị trong thực tiễn chọn lọc nhân giống gia súc hiện nay gồm có
các hƣớng sau:
2.2.2.1. Phân loại dựa trên quan hệ giữa các phần trong cơ thể
(Culexop)
Dựa trên những thực nghiệm khảo sát tỷ lệ các bộ phận: thịt, da,
xƣơng, phủ tạng trong cơ thể, Culexop chia thể chất ra làm 4 loại sau:
- Thể chất thô: là các gia súc có da, xƣơng, cơ phát triển mạnh, ít mỡ.
Chúng thƣờng dùng để cày kéo, lấy lông thô…
- Thể chất thanh: là các gia súc có da mỏng, xƣơng, chân nhỏ, đầu
nhẹ, chúng thƣờng là bò sữa cao sản, ngựa chạy.
- Thể chất săn: là các gia súc có da thịt săn, rắn chắc, lớp mỡ ít phát
triển, chúng thƣờng là bò sữa không phải cao sản, ngựa cƣỡi.
- Thể chất sổi: là các gia súc có lớp mỡ dày, da thịt nhão, xƣơng to
nhƣng không chắc, chúng thƣờng là bò nuôi vỗ béo lấy thịt, lợn hƣớng
mỡ.
Trong thực tế, thể chất gia súc thƣờng mang tính chất kết hợp thanh
săn, thanh sổi, thô săn, thô sổi.
- Thanh săn: là loại gia súc xƣơng nhỏ nhƣng chắc chắn, lớp mỡ dƣới
da mỏng, da đàn hồi, lông dày mƣợt, đầu thanh, chân đùi cứng cáp, mông
nở, sức sống dồi dào, thần kinh nhạy cảm, tính tình linh hoạt. Ngựa cƣỡi,
bò sữa thuộc loại hình này.
- Thanh sổi: là loại gia súc có lớp cơ mỡ rất phát triển, da mỏng, mịn
nhƣng nhão, lông mềm, đầu nhẹ. Thần kinh không nhạy cảm lắm, tính tình
trầm tĩnh, dễ vỗ béo. Bò thịt, lợn hƣớng nạc thuộc loại thể chất này.
- Thô săn: là loại gia súc có bộ xƣơng to, to và chắc. Ðầu, chân to,
dáng nặng nề, bắp cơ săn, rắn, dày, lông thô cứng, khả năng làm việc
khỏe. Ngựa kéo nặng, trâu bò cày kéo thuộc nhóm này.
- Thô sổi: là loại gia súc có bộ xƣơng thô, to nhƣng không chắc
Tốc độ chuyển
dịch
Yếu
Mạnh
Không thăng bằng
Thăng bằng
Nhanh
Chậm
Loại thể chất
Buồn bã
Nóng nảy
Linh hoạt
Bình thản
Một điều đáng chú ý là thể chất luôn gắn liền với sức khỏe, gia súc có
thể chất tốt sẽ có tính thích ứng cao, trái lại, thể chất xấu, tính thích ứng
kém, khả năng sản xuất dễ bị giảm sút khi điều kiện môi trƣờng thay đổi.
Trong chăn nuôi công nghiệp hiện nay, chọn lọc thể thất có ý nghĩa quan
trọng làm giảm thấp tỷ lệ loại thải do cách chăm sóc nuôi dƣỡng theo từng
đàn lớn.
2.2.3. Giám định ngoại hình thể chất của vật nuôi
Giám định ngoại hình thể chất của vật nuôi là phƣơng pháp đánh giá,
chọn lọc hàng loạt, cần tiến hành thƣờng kỳ hằng năm nhằm loại thải
những gia súc xấu nâng cao phẩm chất của đàn về mặt kiểu hình. Có 3
phƣơng pháp giám định sau đây:
điều kiện cân gia súc.
Ðể có thể nhận xét, so sánh sự phát triển bộ xƣơng thể chất con vật,
sau khi đo xong ta có thể tính thành các chỉ số.
Các chỉ số quan trọng bao gồm:
- Chỉ số cao chân:
(cao vây - sâu ngực) x 100
Chỉ số cao chân = -----------------------------------Cao vây
Gia súc non có chỉ số này cao, càng lớn càng giảm. Ngựa cƣỡi, bò
sữa có chỉ số này cao hơn bò thịt, ngựa kéo.
- Chỉ số dài thân:
Dài thân chéo x 100
Chỉ số dài thân =
Cao vây
Chỉ số này tăng theo tuổi, trâu bò cày kéo cao hơn trâu bò sinh sản.
23
Chỉ số sau cao:
Cao khum x 100
Cao hông x100
Sau cao =
hoặc =
Cao vây
Cao vây
Gia súc non cao hơn gia súc trƣởng thành.
- Chỉ số tròn mình:
Vòng ngực x 100
Tròn mình =
Dài thân chéo
Bò Việt Nam.
KL(kg) = 89,8 x VN2 x DTC (m)
2.2.3.3. Giám định bằng phƣơng pháp cho điểm
Là phƣơng pháp đối chiếu ngoại hình con vật cần đánh giá với một
con vật mẫu (có ngoại hình thể chất lý tƣởng của giống), tiến hành cho
điểm từng bộ phận theo một thang điểm nhất định. Tuỳ theo tính chất
quan trọng đối với hƣớng sản xuất mà thang điểm hoặc hệ số nhân điểm
24
các bộ phận đó khác nhau. Cuối cùng căn cứ vào tổng số điểm phân cấp
ngoại hình gia súc đã giám định. Ví dụ tiêu chuẩn giám định ngoại hình
trâu bò cày kéo (bảng 2.1)
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn giám định ngoại hình trâu bò cày kéo
Các bộ
Đặc điểm mô tả
Cái
Ðực
phận
Ðầu và
cổ
Ngực
Vai,
lƣng,
hông
Bụng
Mông
Ðùi
5
1
5
5
1
5
5
5
3
3
15
15
5
5
3
3
15
15
5
10
10
5
2
10
5
1
5
5
1
5
5
2
10
5
áp dụng trong tuyển chọn gia súc thông qua ngoại hình.
2.3. SINH TRƢỞNG PHÁT DỤC
Sinh trƣởng phát dục là chỉ tiêu thứ hai đánh giá, chọn lọc gi ống vật
nuôi. Ðánh giá sinh trƣởng phát dục cho phép ta nhận định đầy đủ hơn về
ngoại hình thể chất, đánh giá đƣợc sự phát triển của cơ thể, từ đó có nhận
định về tác động nuôi dƣỡng, chăm sóc của con ngƣời trong những điều
kiện cụ thể.
25
2.3.1 Khái niệm
2.3.1.1. Sinh trƣởng
Cơ sở chủ yếu của sự sinh trƣởng của cơ thể là sự sinh trƣởng của các mô
bào, sự sinh trƣởng gồm hai quá trình chính là sinh sản và phát triển, có
nghĩa là tế bào phân chia và các tế bào nhỏ lớn dần lên có kích thƣớc và
thể vóc giống tế bào mẹ dẫn tới sự tăng thể khối của toàn cơ thể hay của
từng bộ phận của cơ thể.
Sự sinh trƣởng là một quá trình tích lũy các chất dinh dƣỡng, là sự
tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lƣợng của các bộ phận và toàn cơ
thể trên cơ sở tính di truyền và chịu tác động bởi yếu tố ngoại cảnh.
2.3.1.2. Phát dục
Sự phát triển của cơ thể không phải chỉ ở việc tăng chiều cao, chiều
dài, bề ngang, khối lƣợng mà còn ở chỗ hoàn thiện, tăng chức năng, tính
cách hoạt động của từng bộ phận trong cơ thể.
Phát dục là một quá trình thay đổi chất lƣợng, tức là sự tăng thêm,
hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể vật
nuôi.
Sinh trƣởng, phát dục là hai quá trình của sự phát triển, giữa chúng
có mối liên quan chặt chẽ với nhau cùng tiến hành song song, hỗ trợ và