MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CPTT
HVBT
AAMR
BGH
Chậm phát triển trí tuê
Hành vi bất thường
American Assosiation of Mental Rotardation
Ban giám hiêu
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thông tin chung về trẻ CPTTT
Bảng 2: Thông tin chung về giáo viên
Bảng 3. Đặc điểm của trẻ
Bảng 4. Bảng tổng hợp HVBT của học sinh CPTTT
Bảng 5. Hiểu biết của giáo viên về HVBT của trẻ
CPTTT
Biểu đồ 1. Nhận định của giáo viên về ảnh hưởng của
TRANG
31
32
34
36
hưởng tới hiêu quả của các biên pháp quản lí HVBT cho
học sinh CPTTT
Bảng10. Thái độ của trẻ CPTTT khi giáo viên sử dụng
48
các biên pháp quản lí hành vi bất thường
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chậm phát triển trí tuê (CPTTT) là một dạng tật khá phổ biến
trong số trẻ khuyết tật, với một số lượng khá cao (30%). Trẻ bị CPTTT
gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, đó là những thiêt thòi lớn cho
chính bản thân đứa trẻ, gia đình và cả xã hội. Trẻ CPTTT cũng như bao
trẻ em khác, chúng cũng có những nhu cầu và khả năng riêng. Chính vì
vậy trẻ cũng cần được quan tâm, chăm sóc, được hưởng mọi quyền lợi
như những đứa trẻ khác.
Giáo dục hòa nhập ra đời với mục đích là tạo ra cơ hội cho trẻ
khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng có cơ hội đến trường, được
học tập, được vui chơi, được tiếp thu kiến thức, nâng cao mức độ thích
ứng hành vi để có thể hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Trong số các trẻ theo học hình thức giáo dục hòa nhập thì trẻ
CPTTT chiếm một số lượng đông nhất. Theo số liêu của Viên chiến lược
và Chương trình giáo dục năm 2005 thì có đến 40% trong tổng số trẻ
CPTTT có những hành vi bất thường (HVBT). Các hành vi này gây ra
rất nhiều khó khăn cho giáo viên và học sinh xung quanh.
Vì vậy, trong công tác giáo dục trẻ CPTTT thì một yêu cầu cấp
thiết đặt ra đó phải quản lí HVBT cho trẻ CPTTT. Viêc quản lí HVBT
cho trẻ CPTTT có ý nghĩa vô cùng quan trọng: giúp trẻ hạn chế và khắc
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình chăm sóc, giáo dục cho học sinh
CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân - thành phố Đà Nẵng.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lí HVBT cho học sinh
CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân - thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
Hiên nay, viêc quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hòa nhập tại
trường Tiểu học Hải Vân về cơ bản đã được thực hiên. Tuy nhiên, còn
gặp nhiều khó khăn, hạn chế, trẻ còn có những hành vi làm mất trật tự và
ảnh hưởng đến hiêu quả giáo dục và các học sinh khác. Nếu đánh giá
đúng thực trạng và áp dụng các phương pháp quản lí HVBT có hiêu quả
sẽ giảm thiểu được một số HVBT, không mong muốn, giúp các em học
tập tốt hơn và không làm ảnh hưởng đến hiêu quả giáo dục.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về quản lí HVBT của học sinh CPTTT
- Nghiên cứu thực trạng quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hòa
nhập tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó
đề xuất một số biên pháp để quản lí HVBT cho học sinh CPTTT.
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng quản lí HVBT cho 14 học sinh CPTTT học
hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Phân tích và tổng hợp lí thuyết
- Phân loại và hê thống hóa lí thuyết
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học, năm
2006), các tác giả đã đề cập đến khái niêm HVBT, đặc điểm HVBT và
phân loại HVBT của trẻ CPTTT và trình bày một số biên pháp quản lí
HVBT của trẻ CPTTT trong lớp học hòa nhập [3;10].
- Trong cuốn sách “Giáo dục hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ bậc
Tiểu học” của Viên chiến lược và chương trình giáo dục (2006), các tác
giả đã trình bày khái niêm HVBT của trẻ CPTTT, nguyên nhân gây nên
HVBT và mô tả một số hướng giáo dục khắc phục HVBT [3;10].
- Trong cuốn sách “Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ CPTTT” của tác
giả Th.s Trần Lê Thu đã đưa ra một số biên pháp quản lí HVBT của trẻ
CPTTT trong lớp học hòa nhập và giới thiêu các bảng kiểm tra hành vi
của trẻ CPTTT [3;10].
- Một số sinh viên ngành tâm lí học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã đi sâu tìm hiểu hành vi của trẻ CPTTT ở bậc Tiểu học trong phạm vi
các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội nhưng mới chỉ dừng
lại ở mức độ khảo sát thực trạng rối nhiễu hành vi của trẻ CPTTT mà
chưa đưa ra biên pháp quản lí [3;10].
- Trong luận văn tốt nghiêp “Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để
quản lí hành vi bất thường của trẻ CPTTT ở khối lớp 5 trường Tiểu học
hải Vân – quận Liên Chiểu – thành phố Đà Nẵng” của tác giả Cao Thị
Thúy Hằng đã đề cập đến vấn đề HVBT cho trẻ CPTTT và đi sâu vào
viêc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để quản lí HVBT cho trẻ
CPTTT.
Nhìn chung ở Viêt Nam đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề
HVBT của trẻ CPTTT và đưa ra một số biên pháp khắc phục, tuy nhiên
chưa có nhiều tài liêu đề cập đến các biên pháp quản lí HVBT. Ở trường
Tiểu học Hải Vân đã có những nghiên cứu về các biên pháp quản lí
HVBT. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ
1.2.2.1. Trước khi sinh
- Di truyền: bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể di truyền
sang các thế hê sau.
- Do sự đột biến nhiễm sắc thể làm cho cấu trúc gen bị sai lêch dẫn đến
một số hiên tượng như: bênh Tơcnơ (nữ), Claiphentơ (nam), Đao (ba
nhiễm sắc thể ở cặp thứ 21)…
- Người mẹ bị mắc một số bênh trong thời gian mang thai như: cúm, sởi
Rubela,…
- Thai nhi suy dinh dưỡng hoặc thiếu iốt,…
- Yếu tố môi trường độc hại: thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/mẹ bị
nhiễm phóng xạ, các chất gây nghiên (do hút thuốc, uống rượu bia, sử
dụng ma túy…)
- Sự căng thẳng, mêt mỏi của người mẹ (stress),…
1.2.2.2. Trong khi sinh
Rủi ro trong quá trình sinh đẻ: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt…, có
can thiêp y tế nhưng không đảm bảo dẫn đến tổn thương thực thể não bộ.
1.2.2.3. Sau khi sinh
- Trẻ bị mắc các bênh về não như: viêm não, viêm màng não để lại di
chứng, chấn thương sọ não do tai nạn,…
- Do biến chứng từ các bênh: sởi, đậu mùa,…
- Do rối loạn tuyến nội tiết ảnh hưởng đến viêc thừa hoặc thiếu hoóc
môn
- Dùng thuốc không theo chỉ định.
- Suy dinh dưỡng, thiếu iốt.
- Trẻ sống cách li cuộc sống xã hội trong thời gian dài,…
1.2.3. Đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ
1.2.3.1. Đặc điểm cảm giác, tri giác
Cảm giác, tri giác trẻ CPTTT thường có 3 biểu hiên sau:
trẻ.
- Ghi nhớ dấu hiêu bên ngoài của sự vật tốt hơn bên trong, khó nhớ
những gì có tính khái quát, trừu tượng, quan hê lôgíc.
- Có khả năng ghi nhớ máy móc, khó ghi nhớ ý nghĩa. Trẻ có thể nhắc lại
từng từ, từng câu riêng biêt trong một đoạn/câu chuyên nhưng khó có thể
tóm tắt ý chính của đoạn/cốt truyên.
1.2.3.4. Đặc điểm chú ý
- Khó có thể tập trung trong một thời gian dài, dễ bị phân tán
- Khó tập trung cao vào các chi tiết
- Kém bền vững, thường xuyên chuyển từ hoạt động chưa hoàn thành
sang hoạt động khác.
- Luôn bị phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó kiên nhẫn đợi đến
lượt, khó kiềm chế phản ứng.
1.2.3.5. Đặc điểm ngôn ngữ
Phát triển chậm so với trẻ bình thường cùng độ tuổi như:
- Vốn từ: ít, nghèo nàn, từ tích cực ít, từ thụ động nhiều.
- Phát âm: thường sai, phân biêt âm kém.
- Ngữ pháp: + Nói sai ngữ pháp nhiều, ít sử dụng tính từ, động từ...
+ Thường sử dụng câu đơn
+ Không nắm được quy tắc ngữ pháp
- Những biểu hiên khác:
+ Trẻ nói được nhưng không hiểu nói cái gì
+ Khó khăn trong viêc hiểu lời nói người khác.
+ Nghe được nhưng không hiểu
+ Nhớ từ mới lâu, chậm.
+ Đa số trẻ chậm biết nói
+ Một số trẻ có hiên tượng nghe câu được câu chăng, chỉ nghe
được một số từ, nghe lơ mơ, có khi không nghe được gì.
mà họ đặt ra đều được coi là bất bình thường.
- Bất thường là thiếu khả năng hành xử hữu hiệu
Hầu hết con người được sinh ra và lớn lên đều trở thành những thành
viên hữu dụng trong xã hội, có đủ sức thích nghi với các nhu cầu của xã
hội hoặc có khả năng hành xử hữu hiêu. Như vậy, với một đứa trẻ được
xem là có những HVBT khi nó không thể đáp ứng được những yêu cầu
trên.
Theo các nhà nghiên cứu về sự phát triển của trẻ CPTTT thì viêc xác
định những HVBT ở trẻ dựa trên các tiêu chí sau đây:
+ Biểu hiên qua vận động cơ thể: trẻ đi lại, ra vào tự do trong lớp.
Khi không vừa ý hoặc bằng lòng với điều gì đó trẻ đấm đá, xô đẩy, ăn
vạ…Ngồi không yên, gật gù, lắc người, vận động tay chân liên tục. Khi
chơi nếu trẻ cảm thấy không thích thì sẽ đập phá đồ chơi. Trẻ đi vê sinh
không đúng nơi. Trẻ từ chối sự quan tâm, chăm sóc của người khác.
+ Biểu hiên bằng sự im lặng: trẻ ngồi uể oải, buồn chán, không
nói. Trẻ không nói chuyên với bạn bè hay những người xung quanh,
không phản ứng lại thậm chí bị trêu chọc, không thực hiên nhiêm vụ.
+ Biểu hiên bằng âm thanh, lời nói: trẻ nói tự do trong giờ học.
Trẻ có thể la hét, gào thét, khóc hay hờn dỗi không rõ nguyên nhân, cũng
có thể trẻ ngồi nói lẩm bẩm một mình.
Hành vi bất thường của trẻ gồm có 8 thang hội chứng:
1. Thu mình lại
2. Phàn nàn về sức khỏe
3. Lo lắng, âu sầu
4. Các vấn đề xã hội
5. Ý nghĩ
6. Chú ý/ tập trung
7. Hành vi sai trái
tương tác với môi trường xã hội xung quanh, trẻ CPTTT khó phát hiên
khó phát hiên những hành vi không hợp chuẩn của mình hoặc có sự khác
biêt so với mọi người. Mức độ tự nhận thức, phát hiên so sánh và điều
chỉnh hành vi phù hợp của trẻ có hạn chế đáng kể. Trẻ cũng có khó khăn
trong nhận diên, xác định cách thể hiên hành vi phù hợp với tình huống,
bối cảnh khác nhau và đặc biêt trong viêc phân định vị trí, vai trò của
mối quan hê thứ bậc trong gia đình và cộng đồng.
1.3.2.2. Tự nhận thức
Tự nhận thức bao gồm:
+ Khả năng liên kết giữa các phản ánh mang tính tự ý thức, khả năng
nhận thức được tình cảm và nhu cầu của người khác.
+ Khả năng giữ cân bằng và duy trì nội tâm bền vững và những vấn đề
đã trải nghiêm.
Mối quan hê gắn bó, những kích thích và sự trải nghiêm của trẻ là
nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng của trẻ CPTTT.
Những hành vi thể hiên mức độ liên kết phù hợp giữa sự biểu đạt nhu
cầu bản thân và phù hợp với nhu cầu của những người xung quanh, cũng
như hành vi biết duy trì, kiềm chế, cân bằng nội tâm bền vững. Ở trẻ
CPTTT có sự xuất hiên HVBT và thiếu khả năng kiểm soát. Những liêu
pháp điều chỉnh hành vi tự nhận thức của trẻ CPTTT cần được tính đến,
trẻ có thể nhận thức về bản thân trong môi trường gia đình và tự nhận
thức về mặt xã hội trong các nhóm xã hội lớn hơn.
1.3.2.3. Tự ý thức về mặt xã hội và các kĩ năng xã hội.
Những thất bại trong quá trình xử lí thông tin làm cho trẻ CPTTT có
cảm giác:
- Không được tự tin trong các tình huống: có cảm giác vô dụng, không
làm được gì, lê thuộc vào người khác và thấy mình không có ý nghĩa gì.
- Cảm giác vô dụng được đề cập đến như là viêc một cá nhân luôn luôn
viên và những người xung quanh: hung hăng, làm tổn thương hay tấn
công người khác, hàng vi chống đối, trẻ có rối loạn tăng động/giảm tập
trung (AD/HD), hành vi sai trái,…
1.3.4. Nguyên nhân gây ra hành vi bất thường của trẻ chậm phát
triển trí tuệ
- Tổn thương thần kinh
- Không hiểu đúng sai
- Cô đơn, ít bạn
- Bị bạn bè trêu chọc
- Đối xử thiếu công bằng
- Giao nhiêm vụ không phù hợp với trình độ, khả năng và sở thích của
trẻ
- Thu hút của giáo viên không hợp lí
- Trẻ bắt chước hành vi xấu
- Các tác nhân kích thích không phù hợp
- Không biết cách giải quyết vấn đề
- Trẻ ham chơi [1;37].
1.4. Quản lí hành vi bất thường cho trẻ chậm phát triển trí tuệ
1.4.1 Khái niệm quản lí hành vi bất thường
1.4.1.1. Khái niệm quản lí
Theo Từ điển Tiếng Viêt “Quản lí” là tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định [8;730].
1.4.1.2. Khái niệm quản lí hành vi bất thường
Quản lí HVBT là viêc các chuyên gia, các nhà sư phạm sử dụng các biên
pháp, cách thức để khắc phục những hành vi không mong muốn, hình
thành ở trẻ những hành vi mong muốn [3;19].
1.4.2. Mục đích quản lí hành vi bất thường của trẻ chậm phát triển trí
tuệ
1.4.4.1. Sử dụng quy định của lớp học
Sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT cho trẻ tức là sử
dụng các quy tắc, quy định mà nhà trường hay lớp học đặt ra nhằm tạo ra
nề nếp cho lớp học để hạn chế và khắc phục dần các HVBT của trẻ.
Quy định của lớp học được coi là một công cụ/phương tiên mà
giáo viên sử dụng để tạo cơ hội tốt nhất, hướng dẫn trẻ một cách thuận
lợi nhất và làm cho trẻ tham gia tích cực nhất vào các hoạt động học tập
của lớp học. Nhờ đó, giáo viên có thể giám sát, điều chỉnh và tạo ra được
các hành vi mong muốn ở trẻ. Điều này khác với quan điểm tiếp cận cho
rằng, các quy định của lớp học được giáo viên sử dụng như là một thứ
quyền lực để buộc học sinh phải tuân theo và giáo viên luôn luôn duy trì
điều này.
Trước hết, các quy định của lớp học cần được trẻ hiểu và cam kết
tuân theo, không cần quá nhiều các quy định mà chỉ cần có những quy
định cơ bản, cụ thể, sử dụng từ ngữ mang tính trích cực và nên được sắp
xếp ở vị trí thích hợp trong lớp học. Đồng thời, viêc tuân theo các quy
định của trẻ cần được giám sát và cần thiết thì phải thay đổi cho phù hợp.
Một nhân tố quan trọng khi sử dụng nội quy đối với viêc xây dựng
môi trường lớp học là phải biến những quy định thành những nề nếp
hằng ngày của trẻ thông qua viêc sử dụng những biểu tượng thích hợp
chỉ thời gian gắn liền với hoạt động. Để giúp trẻ có thể biến những quy
định này thành những nề nếp hàng ngày của trẻ thì cần phải có sự trợ
giúp của tất cả các học sinh trong lớp. Hãy luôn thường xuyên nhắc nhở
bạn để những quy định đó trẻ có thể ghi nhớ và hãy giúp trẻ thực hiên
đúng bằng cách tất cả các học sinh khác cũng phải nghiêm túc thực hiên.
Với biên pháp này nếu được sử dụng đúng cách thì sẽ đem lại hiêu quả
cao.
1.4.4.2. Tạo môi trường giao tiếp có hiệu quả
Sử dụng các phương pháp dạy học có hiêu quả để quản lí HVBT
cho trẻ CPTTT là trong quá trình giảng dạy giáo viên sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực, phù hợp để học sinh có thể tiếp thu bài
tốt hơn, hăng say phát biểu, tạo cho các tiết học sôi nổi để trẻ hạn chế
dần các HVBT của mình.
Đây là một trong những chiến lược quan trọng để phòng tránh,
khắc phục các hành vi không mong muốn, tạo môi trường lớp học thân
thiên, hứng thú và tích cực. Các phương pháp dạy học có hiêu quả trong
lớp có trẻ CPTTT có HVBT được đề cập đến bao gồm: phương pháp học
hợp tác nhóm, hỗ trợ cá biêt, sử dụng các tài liêu học tập phong phú,
phối hợp các phương pháp dạy học khác nhau…
Đây là một biên pháp khó, để thực hiên được phương pháp này thì đòi
hỏi người giáo viên phải có kinh nghiêm giảng dạy, biết vận dụng các
phương pháp này đúng lúc, đúng quy trình và hợp lí.
1.4.4.4. Giáo dục khắc phục hành vi bất thường trẻ CPTTT thông qua
việc tạo hành vi nhóm tích cực
Giáo dục khắc phục HVBT của trẻ CPTTT thông qua viêc tạo
hành vi nhóm tích cực tức là trong quá trình học giáo viên sẽ tổ chức cho
học sinh hoạt động nhóm để nhằm phát huy tính tích cực của học sinh,
và thông qua hoạt động nhóm đó các học sinh trong nhóm sẽ tạo ra
những hành vi tích cực để giảm thiểu HVBT của trẻ. Tạo hành vi nhóm
tích cực không chỉ xảy ra trong quá trình học mà cả trong quá trình chơi
nữa, để thực hiên điều này thì giáo viên cần tác động tới các học sinh
bình thường để các em hiểu được và cảm thông cũng như giúp đỡ các em
CPTTT.
Tạo hành vi nhóm tích cực nhằm mục đích tạo ra những hành vi
tích cực cho cả nhóm từ đó có thể giảm thiểu được HVBT ở trẻ CPTTT.
Phương pháp tạo hành vi nhóm tích cực bao gồm:
- Trò chơi hành vi tích cực: trò chơi này bao gồm các bước sau:
+ Xác định bậc thang giá trị của phần thưởng đối với hành vi mong
muốn. Điểm số càng cao thì giải thưởng càng có giá trị
+ Giải thích đầy đủ cho trẻ 3 bước trên cho đến khi nào tất cả mọi trẻ đều
hiểu. Hình thức này có thể thực hiên hàng ngày, theo tuần, theo tháng và
thậm chí là theo học kỳ đối với trẻ
1.4.4.5. Một số cách đơn giản và hiệu quả nhằm giáo dục khắc phục
hành vi bất thường đối với cá nhân trẻ.
Một số cách đơn giản và hiêu quả như: phớt lờ, sử dụng cử chỉ
điêu bộ khi giao tiếp với trẻ, điều khiển trực tiếp, tăng cường hứng thú
học tập của trẻ, tạo bầu không khí hài hước, trợ giúp trẻ vượt qua khó
khăn ban đầu, sử dụng nề nếp hàng ngày, loại bỏ những đồ vật không
cần thiết. Khi trẻ xuất hiên các HVBT giáo viên và các chuyên gia có thể
sử dụng các cách trên để giúp trẻ khắc phục HVBT.
- Giảm thiểu sự can thiêp: trong những trường hợp nhất địnhh,
giáo viên can thiêp đối với những hành vi tiêu cực của trẻ bằng cách đáp
ứng trực tiếp mà đưa ra nhiều sự lựa chọn cho trẻ hoặc phớt lờ, tỏ ra
không chú ý đến. Sau đây là một số cách giáo viên có thể sử dụng để
giảm thiểu sự can thiêp:
Đáp ứng hành vi tích cực: Một chiến lược linh hoạt và nhận biết
mang tính lâu dài nhằm giảm thiểu những hành vi không phù hợp và
tăng những hành vi phù hợp được gọi là “đáp ứng những hành vi tích
cực”. Khi trẻ thể hiên được một số hành vi tốt đúng như mong đợi thì
giáo viên sẽ thừa nhận và thưởng cho hành vi đó. Viêc thưởng cho hành
vi tốt của trẻ có thể chỉ là một lời khen ngợi, điều này không chỉ có tác
dụng đối với viêc làm cho đứa trẻ đó biết nên làm gì mà còn có ảnh
hưởng tốt đến những trẻ khác, tạo ra một bầu không khí tích cực trong
toàn lớp học.
Đưa ra những yêu cầu thấp ban đầu: Cách này thường được áp
dụng khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác và đặc biêt có