1
UBND TỈNH HƯNG YÊN
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NCKH
ĐỀ TÀI
Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí
quản lý doanh nghiệp sau đăng ký
trên hồ sơ điện tử tại tỉnh Hưng Yên
Chủ nhiệm đề tài:
Đào Hồng Vận
PGS. TS. Nguyễn Mạnh Quân,
Cơ quan thực hiện
Sở KH&ĐT, Tỉnh Hưng Yên
Cơ quan phối hợp
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
2
Page | 2
Âu, Châu Mỹ. Sự hội nhập khu vực hình thành AEC là xu thế tất yếu của tiến trình toàn
cầu hóa mở ra nhiều cơ hội phát triển của khu vưc năng động nhất thế giới trong thế kỷ
21 và cũng nhiều thách thức với các quốc gia ASEAN, nhất là với các nước gia nhập sau
có trình độ phát triển thấp hơn như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam. Mặc dù về
Page | 3
4
tổng thể việc hình thành AEC vào năm 2015 sẽ mở ra nhiều cơ hội thương mại và đầu tư
cả trong và ngoài khu vực cho tất cả các nước khu vực ASEAN, đối với các quốc gia có
nền sản xuất và công nghiệp kém cạnh tranh hơn rất có thể sẽ phải chịu tác động bất lợi
như mất thị trường, khó phát triển và lệ thuộc.
Tổ chức APEN (Asian Professional Educatiopn Network), đã đưa ra khái niệm Toàn
cầu hóa 2.0 như là một mô hình hợp tác phát triển mới, khác với Toàn cầu hóa 1.0 truyền
thống trong đó các tập đoàn đa quốc gia tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh và
thương mại thông qua hình thức liên doanh với các công ty ở các nước chậm phát triển để
khai thác các lợi thế về tài nguyên, điều kiện tự nhiên, xã hội và nguồn nhân lực giá re
trong những năm nửa sau của Thế kỷ 20. Toàn cầu hóa 2.0 là một sự phân tách “chuỗi”
các hoạt động sản xuất công nghiệp cho một mạng lưới các doanh nghiệp nhỏ và vừa trải
rộng ở tất cả các quốc gia ASEAN hoạt động một cách tự chủ, hợp tác bình đẳng với các
nền kinh tế toàn cầu. Chiến lược phát triển của Toàn cầu hóa 2.0 đặt ra các phương cách
xây dựng cộng đồng công nghiệp. Mô hình và phương thức nêu trên đã được Hội nghị Bộ
trưởng các nước ASEAN chấp thuận. Để thực thi, cần thiết phải hình thành một Cộng
đồng Công nghiệp, trong đó những vấn đề giải quyết cốt yếu sau:
• Cung cấp nguồn nhân lực cao cấp cho các ngành công nghiệp (HiRD);
• Kết nối các DNNVV trong và ngoài khối thông qua hình thức liên kết mạng
lưới;
• Thu xếp tài chính cho phát triển DNNVV.
Theo thông báo của hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 46 ngày 25 tháng
8 năm 2014 tại Myanmar, ASEAN đã hoàn thành 82,1% của 229 các mục tiêu cơ bản đặt
(a) Củng cố khung khổ của các định chế;
(b) Tăng cường khả năng tiếp cận tài chính;
(c) Xúc tiến phát triển công nghệ và đổi mới;
(d) Đẩy mạnh mở rộng thị trường và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu;
(e) Thúc đẩy phát triển đội ngũ doanh nhân trong đào tạo phát triển nguồn nhân
lực.
Trước những áp lực và thách thức quốc tế và trong nước nêu trên, Đảng, Nhà nước
và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành,
địa phương tích cực thực hiện các giải pháp đồng bộ, chủ động khắc phục các khó khăn,
cản trở để từng bước ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh. Nhờ đó,
tình hình kinh tế xã hội những năm qua đã có chuyển biến tích cực, đúng hướng. Trong
tổng số 15 chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Quốc hội đề ra cho kế hoạch kinh tế xã hội
năm 2013 có 10 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; 3 chỉ tiêu đạt xấp xỉ kế hoạch (tốc độ tăng
trưởng GDP, tạo việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo); 2 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch là tỷ
lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP và tỷ lệ giảm hộ nghèo. Năm 2013 đã cơ bản
chặn được đà suy giảm tăng trưởng kinh tế từ năm 2010. Tăng trưởng GDP cả năm đạt
Page | 5
6
5,42%, cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 170,4
tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1.900 USD. Lạm phát năm 2013
thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm từ 18,13% năm
2011 xuống 6,81% năm 2012 và năm 2013 được kiểm soát ở mức 6,04%. Chỉ số sản xuất
toàn ngành công nghiệp năm 2013 tăng 5,9%, cao hơn mức tăng năm 20121.
Bước sang năm 2014, mặc dù nền kinh tế duy trì một số dấu hiệu tích cực của năm
2013, nhưng nhìn chung kinh tế nước ta vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải
đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn. Khó khăn trong sản xuất kinh doanh chưa
được giải quyết triệt để và ngày càng tác động rõ hơn đến người dân và doanh nghiệp. Thị
trường trong nước chưa phát triển mạnh. Sức cầu của nền kinh tế tiếp tục duy trì ở mức
diễn biến phức tạp,... Những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII về phát triển kinh tế - xã hội.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và triển khai tổ
chức thực hiện đồng bộ 06 Chương trình của Tỉnh ủy và 08 Đề án của Ban Thường vụ
Tỉnh ủy, đã xây dựng và phê duyệt 24 đề án quy hoạch ngành, chuyên ngành, lĩnh vực
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Trong thời gian qua mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức từ những diễn biến phức
tạp khó lường của thị trường trong và ngoài nước, song với sự quyết tâm cao của toàn
Đảng, Chính quyền và nhân dân trong tỉnh, kinh tế tỉnh Hưng Yên vẫn duy trì tăng trưởng
khá so với mức bình quân chung của cả nước, bình quân giai đoạn 2011-2015 ước tăng
8,77%/năm (mục tiêu Đại hội 12,5%/ năm); trong đó nông nghiệp, thủy sản tăng
2,5%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 9,67%/năm, dịch vụ tăng 10,98%/năm. GRDP
bình quân đầu người năm 2013 đạt 30,5 triệu đồng, dự kiến năm 2015 đạt khoảng 42 triệu
đồng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ có sự
chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, năm 2010 đạt: 25% 44% - 31%, năm 2013 đạt 17,05% - 48,21% - 34,74%; dự kiến năm 2015 đạt 15,2% 48,7% - 36,1% (mục tiêu Đại hội 17,05%-50%-32,95%); tình hình thu hút đầu tư đạt kết
quả tích cực cả về số dự án và tổng số vốn đăng ký (giai đoạn 2011-2013) khoảng 16,3
nghìn tỷ đồng và 741 triệu USD; thu ngân sách năm sau tăng cao hơn năm trước, thu ngân
sách năm 2013 đạt 6.026 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD, dự kiến đến
năm 2015 đạt 2,2 tỷ USD; giá trị sản xuất nông nghiệp-thuỷ sản, công nghiệp và dịch vụ
tăng trưởng khá so với mức tăng chung của cả nước; lĩnh vực văn hoá-xã hội có nhiều
chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được quan tâm chăm lo, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Kết quả cụ thể trên một số lĩnh vực như sau:
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng khá, song còn thấp so với mục tiêu Đại hội đề ra,
giá trị sản xuất công nghiệp bình quân năm 2011-2013 tăng 10,06%/năm, dự kiến năm
2011-2015 tăng 9,84%/năm, (mục tiêu Đại hội 19%/năm). GTSX công nghiệp năm 2013
(giá cố định 2010) 69.742 tỷ đồng.
Page | 7
quan tâm chỉ đạo. Tổng vốn huy động toàn xã hội trong 3 năm 2011 - 2013 đạt 52,3 nghìn
tỷ đồng, trong đó, vốn đầu tư của nhà nước chiếm 15%, vốn của dân cư và doanh nghiệp
ngoài nhà nước 70%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 15%. Tỉnh đã thu hút được
Page | 8
9
7 dự án sử dụng vốn ODA, bao gồm các dự án do các Bộ, ngành Trung ương và địa
phương quản lý, với tổng giá trị cam kết tài trợ 1.475 tỷ đồng, trong đó vốn ODA
khoảng1.245 tỷ đồng, vốn đối ứng khoảng 230 tỷ đồng. Nguồn vốn của các chương
trình dự án chủ yếu tập trung vào một số nhà tài trợ như: Chính phủ Phần Lan, Chính
phủ Luxembourg, WB và ADB.
Về phát triển hạ tầng giao thông: Quy hoạch tổng thể phát triển GTVT tỉnh Hưng
Yên giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt,
trong đó, đã quy hoạch các điểm đấu nối với các tuyến đường trục vành đai Hà Nội và
đường giao thông đối với các tỉnh lân cận. Nhiều dự án trọng điểm, thiết yếu được khẩn
trương triển khai thực hiện. Chương trình giao thông nông thôn tiếp tục được quan tâm
đầu tư; giai đoạn 2010-2013, toàn tỉnh đã triển khai đầu tư xây dựng hệ thống đường giao
thông nông thôn với gần 230 km, 14 cầu. Phát triển mạng lưới điện.
Cơ sở vật chất giáo dục được tăng cường, đã đầu tư xây mới 6.572 phòng học kiên
cố hóa cao tầng, có gần 20 công trình cải tạo, nâng cấp, mở rộng trường THPT trên địa
bàn được xây dựng hoàn thành, góp phần hiệu quả trong công tác giáo dục, đào tạo của
tỉnh; dự án Khu Đại học Phố Hiến đã triển khai lập quy hoạch, và bắt đầu được khởi công
xây dựng một số công trình.
Hệ thống giáo dục, đào tạo từng bước được chuẩn hoá và ngày càng hoàn thiện.
Mạng lưới trường lớp được phát triển mạnh, chất lượng giáo dục toàn diện có tiến bộ, đội
ngũ giáo viên, cán bộ quản lý được chăm lo xây dựng, cơ sở vật chất nhà trường tiếp tục
được cải thiện. Toàn tỉnh hiện có 176 trường mầm non, 169 trường tiểu học, 170 trường
trung học cơ sở, 37 trường trung học phổ thông, 11 trung tâm giáo dục thường xuyên, 5
trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, 161 trung tâm giáo dục cộng đồng, 19
2 vạn lao động, xuất khẩu trên 2,5 nghìn lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2013
đạt 47%, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Về cải cách hành chính, tỉnh đã ban hành các quy định để đẩy mạnh phát triển kinh
tế-xã hội của tỉnh như: Quy định về giảm giá thuê đất, giải quyết xử lý giá thuê đất của Khu
công nghiệp Thăng Long II mở rộng, quy định về cho thuê nhà xưởng, quy định về phát
triển mạng lưới chợ đã thu hút các nhà đầu tư tích cực tham gia. Các cấp chính quyền đã
tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp về cải cách hành chính. Đẩy mạnh áp
dụng công nghệ thông tin trong quản lý góp phần minh bạch trong các cơ quan hành chính
của tỉnh. Thực hiện và triển khai có hiệu quả cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" gắn
với rà soát đơn giản hoá thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục rườm rà, không còn phù
hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nhất là các thủ tục về thu hút
đầu tư và đầu tư XDCB. Các quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày một chặt
chẽ và chất lượng hơn.
Page | 10
11
11
1.1.1. Hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
1.1.1.1.
Những hạn chế yếu kém
Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu đồng bộ, chưa vững chắc; sản xuất nông
nghiệp quy mô còn nhỏ, chuyển dịch chưa mạnh, tiêu thụ sản phẩm khó khăn. Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa chủ lực của tỉnh còn hạn chế, các dự
án đầu tư vào địa bàn đa số quy mô nhỏ, công nghệ chưa tiên tiến, còn nhiều dự án triển
khai chậm chưa đúng cam kết. Lĩnh vực thương mại, du lịch và dịch vụ phát triển chưa
tương xứng với lợi thế; Các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất công
2011 - 2015 còn chậm nên việc tiếp nhận các dự án đầu tư, xây dựng còn chậm và
gặp nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và khả năng tăng trưởng
công nghiệp, dịch vụ cho những năm tới.
− Triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội có lúc, có nơi
còn chưa chủ động, kịp thời; khả năng khai thác các nguồn lực còn hạn chế, chưa
phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của nhân dân và các thành phần kinh tế để phát
triển kinh tế - xã hội.
− Hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và chưa đồng bộ.
− Quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ chưa hiện đại, phương thức tổ chức quản lý chưa
theo kịp với yêu cầu, năng suất lao động thấp, đa số các dự án đầu tư trên địa bàn
tỉnh chủ yếu là làm hàng gia công, giá trị gia tăng thấp, chưa thu hút được nhiều
các dự án sử dụng công nghệ cao, hiện đại.
− Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức.
1.1.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển
1.1.2.1.
Quan điểm phát triển
+ Phát huy cao nhất tiềm năng, lợi thế của địa phương; khai thác, sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; tập trung đầu tư xây
dựng, tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp và dịch vụ; coi
trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, gắn với xây dựng nông thôn mới để
phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; thực hiện đầu tư có trọng tâm, trọng điểm những lĩnh vực có lợi
thế, có giá trị tăng cao, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao
chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
+ Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội; thực hiện tốt các chính sách
an sinh xã hội, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phát triển
kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ tài nguyên và môi trường; xây dựng đô thị,
Về phát triển kinh tế
Tăng trưởng bình quân năm: GRDP tăng 12 - 13,2 %; giá trị sản xuất nông nghiệp
tăng 2,5 - 3%- công nghiệp – xây dựng tăng 16,6%- dịch vụ tăng 16,5-17%; GRDP bình
quân đầu người đạt trên 4.000 USD; tổng mức bán le hàng hóa, dịch vụ đạt trên 35.000 tỷ
đồng; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân khoảng 18%/năm.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đến năm 2020 tỷ trọng ngành nông nghiệp
11%; công nghiệp, xây dựng 51%; dịch vụ 38%.
Tăng thu ngân sách nhằm đảm bảo các nhiệm vụ chi của tỉnh và có tích lũy.
1.1.3.2.
Về phát triển xã hội, bảo vệ môi trường
Duy trì tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2016-2020 dưới 3%; tạo thêm việc làm hàng
năm cho trên 2,2 vạn lao động, nâng tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo đạt khoảng
63 – 67%; số cơ quan, đơn vị và gia đình văn hóa đạt trên 95%; số làng và khu phố văn
hóa đạt trên 90%; Hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông; phấn đấu có
55% trường mầm non, 100 trường tiểu học, 80% trường trung học cơ sở và 55% trường
trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; có 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; duy trì
Page | 13
14
14
tỷ lệ tăng dân số dưới 1%; có 100 % dân cư đô thị sử dụng nước sạch và trên 95% dân cư
nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; Giải quyết tốt vệ sinh môi trường đô thị, nông thôn,
vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường các khu công nghiệp, khu du lịch, làng nghề trên
cơ sở giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ tài nguyên môi trường.
1.1.4. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển
1.1.4.1.
15
15
1.1.4.2.
Về thương mại và dịch vụ
+ Tích cực thu hút đầu tư phát triển các ngành dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ chất
lượng cao. Xây dựng các cơ chế, chính sách của tỉnh để khuyến khích và hỗ trợ
các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư phát
triển du lịch và dịch vụ, hình thành các quần thể du lịch, trung tâm vui chơi, giải
trí chất lượng cao, trung tâm nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái …
+ Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường, nhất là thị trường
cho các loại nông sản của Tỉnh có lợi thế để thúc đẩy sản xuất, đổi mới công
nghệ, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng
hóa, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân.
Giai đoạn 2016-2020, phấn đấu giá trị dịch vụ tăng khoảng 16,5 - 17%; tốc độ tăng
giá trị gia tăng trong ngành dịch vụ đạt 15 - 16%.
1.1.4.3.
Về quản lý tài chính, tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
+ Tăng cường quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, chống thất
thu và xử lý nợ đọng thuế. Chú trọng đầu tư tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.4.4.
Về cơ chế chính sách
phục, xử lý ô nhiễm môi trường tại các khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục
hồi và từng bước nâng cao chất lượng môi trường, nhất là môi trường nước và
môi trường không khí.
+ Khuyến khích việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến sử dụng tiết kiệm
nguyên liệu, năng lượng tạo các sản phẩm không gây hại hoặc ít gây hại đến môi
trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế trong sản xuất và đời sống.
+ Có các biện pháp gắn phát triển khoa học và công nghệ với sản xuất; tăng cường
đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Để thực thi những mục tiêu trên, doanh nghiệp Hưng Yên đóng vai trò nhân tố
chính. Trong đó sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước địa phương và sự đúng
đắn trong các quyết định cua doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Để có cơ sở cho việc
hoạch định chính sách, lập và triển khai các đề án trợ giúp doanh nghiệp một cách hữu
hiệu, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho doanh nghiệp địa phương trong việc lập và
triển khai hoạt động kinh doanh phù hợp định hướng phát triển và các mục tiêu phát triển
của tỉnh nêu trên, việc xây dựng một phương pháp và hệ thống tập hợp thông tin hữu ích
về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp địa phương có khả năng giúp những người
quản lý các cấp có căn cứ ra những quyết định và xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp
của tỉnh phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
Việc xây dựng và triển khai đề tài này cần thiết và có giá trị là vì lẽ đó.
Page | 16
17
17
I.2. PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI
Quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý doanh nghiệp sau đăng ký luôn là một
thách thức đối với các quốc gia vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường. Tình trạng trì trệ
của nền kinh tế thế giới nói chung, của nền kinh tế quốc nội nói riêng trong một số năm
gần đây đã đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất
18
18
có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế - xã hội đối với địa phương và đối với nền kinh tế quốc
dân.
Ở Việt Nam, các chương trình quốc gia, các dự án trong nước thường tiến hành theo
mô thức chung của quốc tế: chia thành hai nhóm chính, chương trình/dự án khởi nghiệp
và chương trình/dự án phát triển doanh nghiệp nói chung. Việc trợ giúp có trọng tâm
nhằm vào DNNVV sẽ góp phần nâng cao được hiệu quả của các chương trình trợ giúp,
phát triển doanh nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo sự ổn định,
tăng cường tính bền vững của doanh nghiệp ngay trong những bước đi trên thương
trường.
Xây dựng tiêu chí quản lý phù hợp luôn là bước đầu tiên quan trọng làm cơ sở thu
thập thông tin cần thiết cho việc ra quyết định để quản lý và kiểm soát một cách hiệu quả.
Các tiêu chí về kết quả hoạt động RIs hay KRIs (key result indicators), như kết quả hoạt
động kinh doanh, các báo cáo và chỉ tiêu tài chính, sản lượng, doanh thu, việc làm, nghĩa
vụ thuế, đóng góp ngân sách, thực hiện chính sách đối với người lao động... là những chỉ
tiêu được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, những chỉ tiêu này thường phản ánh kết quả
đạt được trong quá khứ. Vì vậy, những tiêu chí phản ánh năng lực của doanh nghiệp PI và
KPI (key performance indicators), như năng lực bán hàng, nguồn nhân lực và chất lượng
nhân lực, thiết bị công nghệ và năng lực sáng tạo, năng lực tài chính, trách nhiệm xã hội
và phát triển bền vững cần được chú trọng hơn.
Cách tiếp cận của đề tài trong việc thu thập và cung cấp thông tin về doanh
nghiệp/cho doanh nghiệp có thể được mô tả như trên Sơ đồ 1.
Sơ đồ 1.1: Phương pháp luận của đề tài
Page | 18
19
19
nguồn nguyên liệu, sáng chế…), (iii) nguồn nhân lực (số lượng, cơ cấu, trình độ, quan hệ
lao động…), (iv) năng lực tài chính (nguồn tài chính, năng lực huy động và sử dụng
nguồn, tình trạng tài chính …) và (v) khả năng phát triển bền vững (thực thi trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp)
Sơ đồ 1.3: Nhân tố quyết định năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Page | 20
21
21
I.3.2. Hệ thống chỉ tiêu về doanh nghiệp
Về khái niệm, tiêu chí về năng lực doanh nghiệp là hệ thống những dấu hiệu, tín
hiệu phản ánh hiện trạng hoạt động, kết quả hoạt động, cung cấp thông tin và dấu hiệu về
hệ thống bên trong, tình trạng “sức khỏe” của doanh nghiệp và năng lực hoạt động của
doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm nhiều chỉ số khác nhau, và giữa những chỉ số,
nhóm chỉ số có những mối liên hệ nhất định với nhau.
Về tính chất, chúng có thể là những chỉ số, chỉ báo về kết quả (đầu ra) phản ánh kết
quả hoạt động. Chúng được gọi là các chỉ số kết quả (result indicators – RIs, hoặc key
result indicators - KRIs). Điển hình như các chỉ số tài chính, số liệu báo cáo về sản lượng,
lao động, thu nhập, năng suất… Đây là các chỉ số được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên,
hạn chế chủ yếu của các chỉ số kết quả là không phù hợp cho việc kiểm soát vượt 3 trước
bởi không thể can thiệp để làm thay đổi một quá trình đã kết thúc. Ngày nay, các chỉ số,
chỉ báo phản ánh năng lực hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá ngày càng cao và
được sử dụng ngày càng phổ biến kết hợp và thay thế cho các chỉ số kết quả. Chỉ số năng
lực hoạt động (performance indicators – PIs, hoặc key performance indicators – KPIs) thể
hiện những đặc điểm về quá trình và tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình
hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp được phản ánh thành những dấu hiệu, biểu hiện cụ
3 Xem Koontz, [24, trang 543-563],
kinh tế vĩ mô.
Về nội dung, hệ thống các chỉ số chỉ báo được phân chia thành ba nhóm: (i) nhóm
các chỉ số tài chính, (ii) nhóm các chỉ số vật chất, vật lý, (iii) nhóm các chỉ số kinh tế, xã
hội. Sơ đồ 4 trình bày những nội dung cơ bản của các nhóm chỉ số doanh nghiệp. Có thể
nhận thấy, những chí số, chỉ báo này là rất phổ biến và quen thuộc đối với các nhà phân
tích và quản lý. Chúng xuất hiện trong hầu hết các báo cáo của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
hệ thống các chỉ số, chỉ báo này cũng phát triển, đã được cập nhật để bao hàm những vấn
đề mới xuất hiện từ thực tiễn môi trường kinh doanh. Mối liên hệ giữa các nhóm chỉ số
cũng khá rõ ràng. Một bộ phận các chỉ số tài chính biểu thị kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, chúng là các (K)RIs. Trong khi đó, nhiều chỉ số vật chất phản ánh
những điều kiện, tiền đề và khả năng, (K)PIs, của doanh nghiệp để thực hiện và thực hiện
Page | 22
23
23
các mục tiêu đã đặt ra và biến chúng thành kết quả cụ thể, (K)RIs. Các chỉ số, chỉ báo về
xã hội phản ánh tác động của các hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, nói
cách khác chúng cũng phản ánh ảnh hưởng của hoạt động và kết quả hoạt động của doanh
nghiệp nhưng ở một phạm vi đối tượng rộng hơn và chậm hơn, chúng cũng là một loại
(K)RIs được gây ra bởi các (K)PIs và (K)RIs của doanh nghiệp.
Về hình thức, trong phạm vi một doanh nghiệp, các chỉ số, chỉ báo về tài chính
thường là các đại lượng biểu thị các nguồn lực kinh tế, tài chính sử dụng trong quá trình
hoạt động (đầu vào) hoặc kết quả thu được từ quá trình hoạt động (đầu ra). Trong khi đó,
các các chỉ số, chỉ báo về vật chất thường biểu thị những yếu tố về nguyên nhân, tác nhân,
trạng thái, biểu hiện của quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy các chỉ số tài
chính, kết quả (RIs) sẽ có ý nghĩa nhiều hơn đối các nhà nghiên cứu, phân tích; trong khi
các chỉ số vật chất và năng lực (PIs) có ý nghĩa nhiều hơn đối với các nhà quản lý, điều
hành. Muốn can thiệp (chính phủ) hay tham gia điều hành (đầu tư), cần coi trọng các chỉ
số vật chất và năng lực.
Nội dung
Chỉ số cơ bản
1 Kế hoạch, thị trường
Năng lực chuyển hoá nhiệm vụ Các kế hoạch dài hạn (chiến lược),
thành mục tiêu, kế hoạch hành ngắn hạn
động của hệ thống/bộ
Tính khả thi, xác đáng của mục tiêu,
máy/phương pháp lập kế
kế hoạch
hoạch
Lĩnh vực hoạt động
Sản phẩm/dịch vụ
Thị trường/Tiêu thụ
Cạnh tranh
Quan hệ khách hàng
2 Sản xuất, tác nghiệp
Năng lực chuyển hoá nhiệm vụ
kế hoạch thành phương án, nội
dung tác nghiệp
Năng lực hoạt động của các hệ
thống trong tổ chức
Đầu tư/Công nghệ/Phương pháp
Nguồn nguyên liệu
kinh doanh, duy trì và phát
triển bền vững
Quản lý mối quan hệ khách hàng
Phát triển chuỗi cung ứng
Thực thi trách nhiệm xã hội
Chỉ số CRM
Chỉ số SCM
Chỉ số CSR
Tình trạng thiết bị và năng lực công
nghệ
Cơ cấu chi phí/giá thành
Chất lượng
Số lượng/Cơ cấu
Trình độ
Đào tạo/Kỹ năng
Page | 25