Nghiên cứu giải pháp chống can nhiễu giữa DVBT và LTEA tại băng tần 700 Mhz (tt) - Pdf 42

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
---------------------------------------

NGÔ ĐỨC DŨNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHỐNG CAN NHIỄU GIỮA DVB-T VÀ LTE-A
TẠI BĂNG TẦN 700MHZ

Chuyên ngành: Kỹ thuật viễn thông
Mã số: 60.52.02.08

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - 2017


Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Người hướng dẫn khoa học: …………………………………………………………

Phản biện 1: ……………………………………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………………………………………..

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện
Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: ....... giờ ....... ngày ....... tháng ....... .. năm ...............
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông




2

Chương 1: Tổng quan về truyền hình số mặt đất DVB-T
1.1 Lý do Việt Nam chọn hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T
Có rất nhiều lý do để hệ thống truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T được chọn
để triển khai tại Việt Nam.
 Hệ thống truyền hình số mặt đất phù hợp với địa hình có nhiều đồi núi của Việt Nam.
 Hệ thống truyền hình số mặt đất chuẩn DVB-T thích hợp với truyền hình tương tự hệ
PAL hiện đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Ngoài ra nó còn phù hợp với mạng
lưới 220v, 50 Hz tại Việt Nam.

 Việt Nam là nước đang phát triển và trong xu thế hội nhập quốc tế. DVB-T phù hợp
với dải băng tần 8 MHz đang được sử dụng tại Việt Nam
1.2 Các hệ thống truyền hình số quảng bá
Có 3 loại truyền hình số quảng bá:
 Hệ thống truyền hình số hữu tuyến (truyền hình cáp) DVB-C
 Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T.
 Hệ thống truyền hình số vệ tinh DVB-S
1.3 Tiêu chuẩn DVB-T
1.3.1 Giới thiệu về truyền hình số mặt đất DVB-T [3]
Việc phát triển tiêu chuẩn DVB-T vào đầu năm 1993 và tiêu chuẩn DVB-T đã được
tiêu chuẩn hóa vào năm 1997 do Viện tiêu chuẩn truyền thông châu Âu (ESTI: European
Telecommunication standards institute). Hiện nay tiêu chuẩn này đã được các nước châu Âu
và các nước khác trên thế giới thừa nhận. Năm 2001 đài truyền hình Việt Nam đã quyết định
chọn nó làm tiêu chuẩn để phát sóng truyền hình mặt đất.
Hệ thống truyền hình số mặt đất hoạt động trong kênh 6, 7 hoặc 8 MHz với ghép kênh
COFDM, với 1705 sóng mang (2K hệ thống) hoặc 6817 sóng mang (8K hệ thống). Tốc độ có
thể thay đổi từ 5 – 31.7 Mbit/s. Hệ thống DVB-T cho phép phát sóng đồng thời lên tới 6
chương trình trên cùng một băng thông trên mặt đất. Các mã hóa kênh được thực hiện để giảm


4
phụ là khác nhau, người ta điều chế tín hiệu trên mỗi sóng mang với các mức điều chế khác
nhau.
1.3.4 Sơ đồ khối của hệ thống DVB-T [2]
Sơ đồ khối của hệ thống DVB-T được minh họa ở hình vẽ dưới đây:

Hình 1.2 Sơ đồ khối của DVB-T
1.4 Đặc điểm của hệ thống DVB-T
1.4.1 Ưu điểm của DVB-T so với truyền hình tương tự
Truyền hình số có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với công nghệ truyền hình tương tự analog, nổi bật trước hết là khả năng chống nhiễu cao, ít nhạy cảm với nhiễu, có khả năng
phát hiện sửa lỗi và thu tốt trong truyền sóng đa đường. Ngoài ra, truyền hình số còn cho phép
tiết kiệm phổ tần, truyền được nhiều chương trình nên cùng một kênh sóng trong khi truyền
hình tương tự phải dùng một kênh cho mỗi chương trình. Hơn thế nữa, truyền hình số còn có
khả năng khóa mã, quản lý chương trình theo yêu cầu đồng thời còn cho phép truyền hình đa
phương tiện. Điều đó có nghĩa là truyền hình số có thể truyền nhiều loại dữ liệu khác nhau,
nhiều đường tiếng cho một kênh truyền hình và truyền hình kèm theo phụ đề đa ngôn ngữ,
thậm chí còn cho phép nhắn tin và mua hàng hóa ngay qua tivi.
1.4.2 Nhược điểm của hệ thống DVB-T
So với phương thức truyền dẫn khác, truyền hình số mặt đất cũng có các nhược điểm
như :
 Kênh bị giảm chất lượng do hiện tượng phản xạ đa đường do bề mặt của mặt đất cũng
như các tòa nhà.


5
 Giá trị tạp do con người tạo ra là cao.
 Do phân bố tần số khá dầy trong phổ tần đối với truyền hình, giao thoa giữa truyền
hình tương tự và số là vấn đề cần xem xét.
 Dải thông của tín hiệu tăng do đó độ rộng băng tần của thiết bị và hệ thống truyền lớn

được ITU-R đánh giá là băng tần tiềm năng cho công nghệ thông tin di động băng rộng IMTAdvanced ( 4G/LTE/LTE-A).
1.6 Kết luận chương 1
Với nhiều ưu điểm vượt trội so với truyền hình tương tự, truyền hình số mặt đất sẽ phát
triển mạnh trên toàn thế giới. Công nghệ, kỹ thuật sử dụng trong truyền hình số đã thay đổi
và phát triển ngày càng nhanh với nhiều thành tựu to lớn hướng tới mục đích phục vụ ngày
càng tốt nhu cầu của con người.
Ở chương đầu tiên tôi đã trình bày lý do Việt Nam chọn truyền hình số mặt đất DVBT, tổng quan về DVB-T, ưu nhược điểm của truyền hình số mặt đất so với truyền hình tương
tự và việc cấp phát băng tần cho DVB-T tại Việt Nam.


7

Chương 2: Hệ thống LTE-A
2.1 Hệ thống thông tin di động 4G LTE-A
2.1.1 Tổng quan LTE-A
LTE-A (Long Term Evolution- Advanced) là sự tiến hóa của công nghệ LTE, công
nghệ dựa trên OFDMA này được chuẩn hóa bởi 3GPP trong phiên bản (Release) 8 và 9. LTEA, dự án được nghiên cứu và chuẩn hóa bởi 3GPP vào năm 2009 được mong đợi hoàn thành
vào quý 2 năm 2010 như là một phần của Release 10 nhằm đáp ứng hoặc vượt trội hơn so với
những yêu cầu của hệ thống công nghệ vô tuyến di động thứ 4 (4G) IMT-A được thiết lập bởi
ITU. LTE-A sẽ tương thích ngược và thuận với LTE, nghĩa là các thiết bị LTE sẽ hoạt động
ở cả mạng LTE-A mới cả các mạng LTE cũ. ITU đã đưa ra các yêu cầu cho IMT-A nhằm tạo
ra định nghĩa chính thức về 4G. Thuật ngữ 4G sẽ áp dụng trên các mạng tuân theo các yêu
cầu của IMT-A xoay quanh báo cáo của ITU-R M.2134. Một số yêu cầu then chốt bao gồm:
-

Hỗ trợ độ rộng băng tần có thể lên đến 40MHz.

-

Khuyến khích hỗ trợ các độ rộng băng tần rộng hơn.

- Điều trị trong các tình trạng khẩn cấp
- Ứng dụng trong thảm họa thiên tai
2.1.3 Kiến trúc mạng của LTE-A [5]
Hình 2.1 dưới đây mô tả kiến trúc của E-UTRAN cho mạng LTE-Advanced.

Hình 2.1 Kiến trúc mạng của LTE-A
Phần cốt lõi trong kiến trúc E-UTRAN là tăng cường Node B (eNodeB hoặc eNB),
cung cấp các giao diện vô tuyến với người dùng và giao thức điều khiển các đầu cuối về phía
UE. Mỗi các eNB là một thành phần hợp lý phục vụ một hoặc một số tế bào E-UTRAN và
giao diện kết nối các eNB được gọi là giao diện X2. Ngoài ra, chủ các eNB (HeNBs, gọi là
femtocell), đó là các eNB chi phí thấp hơn để cải thiện vùng phủ sóng trong nhà, có thể được
kết nối với EPC trực tiếp hoặc thông qua một cổng cung cấp thêm hỗ trợ cho một số lượng
lớn các HeNBs. Hơn nữa, 3GPP đang xem xét các nút chuyển tiếp và chiến lược chuyển tiếp
tinh vi để nâng cao hiệu suất mạng. Các mục tiêu của công nghệ mới này được tăng vùng phủ
sóng, tốc độ dữ liệu cao hơn, và hiệu năng QoS tốt hơn và công bằng cho người dùng khác
nhau.
2.1.4 Băng thông và phổ tần


9
Hình 2.3 minh họa trường hợp các sóng mang thành phần liên tiếp nhau mặc dù ở khía
cạnh băng gốc, điều này không phải là điều kiện tiên quyết. Truy nhập đến một lượng lớn phổ
liên tục ở bậc 100MHz không thể có thường xuyên. Do đó, LTE-A có thể cho phép kết tập
các sóng mang thành phần không liền kề để xử lý các tình huống trong đó một khối lượng lớn
phổ liên tiếp nhau không sẵn có. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng sự kết tập phổ không liền kề nhau
đang là thách thức từ khía cạnh thực thi. Vì vậy, mặc dù khối kết tập phổ được hỗ trợ bởi các
đặc tả cơ bản thì sự kết tập phổ phân tán chỉ được cung cấp bởi các thiết bị đầu cuối cấp cao
nhất. Truy nhập trên các độ rộng băng tần truyền dẫn cao hơn không chỉ hữu ích từ khía cạnh
tốc độ đỉnh mà quan trọng hơn là công cụ cho việc mở rộng độ phủ sóng với các tốc độ số
liệu trung bình

bộ lặp liên tục chuyển đi tín hiệu thu được mà không quan tâm đến có thiết bị đầu cuối trong
vùng phủ sóng của nó hay không. Những bộ lặp như vậy không hiển thị đối với cả thiết bị
đầu cuối và trạm gốc. Tuy nhiên, có thể xem xét các cấu trúc bộ lặp cao cấp hơn (chuyển tiếp
L1), chẳng hạn sơ đồ trong đó mạng có thể điều khiển công suất truyền của bộ lặp, chẳng hạn,
chỉ tích cực bộ lặp khi người sử dụng hiện diện trong khu vực được điều khiển bởi bộ lặp
nhằm tăng tốc độ số liệu cung cấp trong khu vực. Các báo cáo đo đạc bổ sung từ các thiết bị
đầu cuối có thể cũng được xem xét như là phương tiện hướng dẫn mạng mà trong đó các bộ
lặp được bật lên. Tuy nhiên, việc điều khiển tái truyền dẫn và lập biểu thường nằm ở trạm gốc
và vì vậy, các bộ lặp thường trong suốt từ khía cạnh di động.
2.2.4 Kỹ thuật điều khiển giảm can nhiễu tăng cường giữa các tế bào eICIC (enhanced
Inter-Cell Interference Coordination)
Kỹ thuật điều khiển giảm can nhiễu tăng cường giữa các tế bào được sử dụng trong hệ
thống được gọi là mạng phức hợp (Heterogeneous network) giúp giải quyết hiện tượng nghẽn
mạng. Trong mạng này, các trạm thu phát công suất thấp sẽ tạo ra các cell nhỏ (small cell)
nằm chồng lên mạng lưới các cell lớn (macro cell) do các trạm thu phát thông thường có công
suất lớn tạo ra. Các trạm thu phát nhỏ với nhiều mức kích cỡ (còn được gọi bằng các tên
metro-, micro-, pico-, hay femtocell) để tăng mức tải dữ liệu trong các vùng nóng (hots pot)
như vùng đô thị đông đúc. Những bộ thu phát này có kích thước nhỏ gọn, giá thành rẻ, không
cồng kềnh và lắp đặt thì dễ dàng hơn. Nhưng khi các nhà mạng đặt ngày càng nhiều trạm thu
phát vào cùng một khu vực, họ sẽ phải tìm cách để giảm thiểu can nhiễu khó tránh khỏi giữa
chúng.
Sử dụng eICIC, một trạm thu phát có thể giảm công suất phát ở những tần số và khoảng
thời gian cụ thể trong khi một trạm kế bên sử dụng những tài nguyên đó để liên lạc với các


11
máy đang ở rìa vùng phủ sóng của nó. Tuy nhiên phương pháp chia sẻ phổ này chỉ có tác
dụng với các luồng dữ liệu. Để liên lạc được với một thiết bị di động và giúp nó hiểu được
luồng dữ liệu thì trạm phát phải truyền đi các tín hiệu điều khiển trong đó có chứa các thông
tin về quản lý như lịch trình hoạt động, các yêu cầu phát lại, và các chỉ dẫn để giải mã. Do

2.2 Cấp phát băng tần cho LTE-A
Theo thông tin từ Cục Tần số vô tuyến điện, Bộ Thông tin và Truyền thông, thực hiện
kết quả Hội nghị Thông tin Vô tuyến thế giới 2015 (WRC-15) được tổ chức tại Geneva (Thụy
Sĩ) vào tháng 11/2015, Việt Nam sẽ có thêm 493 MHz phổ tần số cho thông tin di động tại
các băng tần số mà WRC-15 đã bổ sung thêm là 694 - 806 MHz, 1.427 – 1.518 MHz, 3.300
- 3.400 MHz và 4.800 - 4.990 MHz.
2.3 Băng tần 700MHz

2.3.1 Kinh nghiệm trên thế giới sử dụng băng tần Digital dividend
Băng tần lợi ích số hóa truyền hình - Digital Dividend được mong đợi đem lại phát
triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới. Hội nghị Vô tuyến thế giới (WRC-07) đã xác định được
108 MHz của Băng tần Digital Dividend (698-806 MHz) cho khu vực 2 của ITU và 9 quốc
gia trong khu vực 3 của ITU, bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Năm 2009, Hoa kỳ đã hoàn thành số hóa truyền hình và là thị trường đầu tiên trên thế
giới bán đấu giá băng tần digital dividend (698-806) MHz và do đó có một lợi thế của sớm
triển khai các mạng băng TTDĐ. Các nhà cung cấp dịch vụ lớn ở Mỹ đã đưa ra dịch vụ LTE
thương mại giai đoạn 2010-2011. Quy hoạch băng tần này cũng đã đáp ứng một số yêu cầu
cụ thể của Hoa Kỳ cho hệ thống an ninh công cộng và quảng bá. Quy hoạch băng tần Digital
Dividend sớm ở Hoa kỹ đã mang lại cơ hội đi đầu về triển khai mạng TTDĐ băng rộng LTEAdvanced. Hoa Kỳ đã quy hoạch sử dụng băng tần Digital Dividend 700 MHz như Hình 1:
Băng tần (698-746) MHz: 3 block FDD 2×6 MHz (A, B, C); 2 block TDD 6MHz (D, E) và
Băng tần (746-806) MHz : chia làm 4 block FDD (C, A, D, B); 01 block FDD cho Public
Safety 2 × 12MHz.

2.3.2 Quy hoạch băng tần 700 MHz tại Việt Nam
Việt Nam đang trong quá tình số hóa truyền hình, giai đoạn số hóa 2015-2020. Với
triển khai kế hoạch số hóa đang triển khai hiệu quả như hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể
hoàn thành số hóa truyền hình vào năm 2020. Băng tần số hóa truyền hình (Digital Dividend)
694-806 MHz có thể xem xét quy hoạch cho hệ thống thông tin di động IMT sau khi hoàn tất
số hóa truyền hình. Tuy nhiên, cần có giải pháp cho lộ trình chuyển đổi tần số của các trạm
phát sóng truyền hình trên băng tần này xuống băng tần 694 MHz để đảm bảo sớm giải phóng

Sự tăng trưởng nhanh chóng của truyền thông vô tuyến đã gây nên sự khan hiếm phổ
tần. Xu hướng số hóa truyền hình dẫn tới xuất hiện băng tần 700 MHz dôi dư sau khi số hóa
truyền hình. Đây là băng tần rất hiệu quả để triển khai mạng thông tin vố tuyến băng rộng 4G.
Đặc biệt phục vụ cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa của Việt Nam nhằm thu hẹp
khoảng cách số giữa các vùng, miền


14

Chương 3: Nghiên cứu giải pháp chống can nhiễu giữa DVB-T và LTEA tại băng tần 700MHz
3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tại các khu vực khác như Mỹ, Châu Âu hay Châu Á đã nghiên cứu và triển khai 4G
tại băng tần 700MHz và có kết quả tốt.
Mạng 4G tại Việt Nam chưa được triển khai nhưng nhà mạng Viettel đã đề nghị quy
hoạch tần số 700 MHz cho mạng 4G, sau khi băng tần này không còn được sử dụng vì ngưng
phát sóng truyền hình analog tử năm 2015 tại các thành phố lớn. Theo Viettel, băng tần này
có thể sử dụng cho dịch vụ di động băng thông rộng, có vùng phủ tốt hơn cho vùng nông thôn,
và có giá thành đầu tư giảm nên nhà mạng có điểu kiện giảm giá dịch vụ cung cấp cho vùng
nông thôn.
3.2 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Các vấn để tương thích trở nên cần thiết hơn sau sự phát triển không ngừng của mạng
lưới thông tin liên lạc di động. Mật độ của các mạng di động đang gia tăng với tốc độ đáng
kinh ngạc. Quá trình này gây ra không chỉ nhiễu nội cell giữa các cơ sở hoặc trạm điện thoại
di động, nhưng cũng có ảnh hưởng trên các băng tần lân cận và các dịch vụ hiện có. Hơn nữa,
bất kỳ hệ thống không thể bắt đầu hoạt động ở băng tần số mới được thành lập mà không cần
đánh giá các ảnh hưởng có hại có thể đến hệ thống hiện tại. Phân tích này cho phép hiểu nhìn
chi tiết hơn về việc triển khai có thể có của các mạng LTE ở băng tần 700 MHz.
Các trường hợp nghiên cứu chung sau đây về đánh giá của truyền hình số mặt đất
DVB-T khi hoạt động dưới mức 694 MHz tương thích với LTE hoạt động ở băng tần 700
MHz. Mặc dù các hệ thống này được đặt trong dải tần số khác nhau, tuy nhiên vẫn tồn tại xác

3.4.1 Đặc điểm kỹ thuật
Nghiên cứu sử dụng song công theo tần số (FDD) với 2x30 MHz, 703 MHz-733 MHz
(uplink) và 758 MHz-788 MHz (downlink). Sự sắp xếp của băng tần 700 MHz được thể hiện
ở bảng dưới đây:
Bảng 3.1 Sắp xếp kênh băng tần 700 MHz
694-703

703-733

733-758

758-788

788-791

Guard band

LTE-uplink

Duplex gap

LTE-downlink

Guard band

9 MHz

30 MHz

25 MHz


e.i.r.p

85.15 dBm

Chiều cao anten phát Tx

300 m

Chiều cao anten thu Rx

10 m

Mẫu angten thu Rx

Ngang: đa hướng BT.419

Tăng ích ăng ten Rx

9.15 dBi

(bao gồm feeder loss)
SNR

21 dB

Feeder loss

3 dB



46 dBm

e.i.r.p

58 dBm

Chiều cao anten

30 m

Độ lợi anten

15 dBi

Feeder loss

3 dB

Trạm gốc (BS) mẫu angten

ITU-R F.1336 với k = 0.7

Antenna downtilt

3 độ

Số nhiễu

NF = 5 dB

Sự cô lập được chuyển đổi thành một khoảng cách tách biệt bằng cách sử dụng suy hao trong
không gian tự do (free-space), L(loss), giữa anten đẳng hướng bởi công thức.


19
L(loss)  32.4  20log10 ( f )  20log10 (d ).

(3.9)

f là tần số (MHz), d là khoảng cách (km)
Khoảng cách bảo vệ được yêu cầu , dsep _ req _ DVBT  BS , giữa trạm gốc dịch vụ di động và
trạm DTT là
d sep _ req _ DVB T  BS  10

L ( loss ) 32.4  20log10 ( f )
20

117.7532.4 20log10 (708)
20

d sep _ req _ DVB T  BS  10

.

 26.15[km].

(3.10)

(3.11)


vô tuyến liền kề (DTT) cần thiết để hạn chế can nhiễu đến một mức độ tương đương với suy
hao của 1 dB. Một ACIR của 65,5 dB. Một ACS 54 dB được tính toán. Khi giá trị ACS phải
cao hơn ACIR một, thêm một bộ lọc thấp là cần thiết với ít nhất suy hao 11,5 dB out-of-band.
suy hao out-of-band này là khả thi với một bộ lọc thấp, có tính đến các băng bảo vệ giữa các
công nghệ là 9 MHz. Tuy nhiên, một bộ lọc có thể không được yêu cầu nếu UE được truyền
tải qua một điện năng thấp hơn hoặc nếu DTT nhận được năng lượng đầu vào là cao hơn
ngưỡng tối thiểu. Các điều kiện thực tế không yêu một bộ lọc là:
 Nếu công suất phát của LTE thấp hơn 11 dBm. Đối với công suất đặc trưng cho môi
trường thành thị và nông thôn ( tương ứng 2 và -9 dBm) bộ lọc này là không cần.
 Nếu công suất máy thu DTT cao hơn -66 dBm.

3.5.3 Máy thu DTT và LTE-UE ở trong nhà
Trong một kịch bản với máy thu DTT và LTE-UE ở trong nhà, khoảng cách tối thiểu
giữa LTE UE và máy thu DTT để tránh nhiễu, d min , có thể được tính như sau:
147.56 20log( f ) GCG GWL  Lbody GRX

dmin  10

20

(3.14)

Trong đó f là tần số, GCG là tăng ích kết hợp được tính toán như là mức công suất can
nhiễu thu được, GWL là suy hao do tường được thêm vào và Lbody là can nhiễu thêm vào do cơ
thể con người.


21
Kết quả rất quan trọng với công suất được UE truyền tối đa 23 dBm. Đối với công suất
đặc trưng của môi trường nông thôn và thành thị, khoảng cách tối thiểu có thể được hoàn toàn

22
+ Ah : Hệ số suy hao (dB) Ah = 0 tại môi trường không gian tự do, Ah = 15 với khu vực thành
thị, Ah = 7 với khu vực ngoại ô, Ah = 3 với khu vực nông thôn.
Như vậy phụ thuộc vào khoảng cách giữa các trạm của DVB-T và LTE-A sẽ có kết
quả suy hao khác nhau. Hình 3.8 cho ta thấy sự suy hao khác biệt giữa các vùng thành thị
nông thôn và ngoại ô.
Theo kịch bản can nhiễu từ máy phát DVB-T đến trạm thu gốc LTE, áp dụng công
thức 3.15 để tính toán khoảng cách chống can nhiễu
d  10

L ( loss ) 92.5 20log10 ( f )  Ah
20

(3.18)

.

Dựa trên kết quả của công thức (3.8) ta có kết quả khoảng cách chống can nhiễu bị ảnh
hưởng bởi suy hao tại Thành thị, ngoại ô và nông thôn
dUrban  4.65Km
dSuburban  11.68Km
d Rural  18.5Km

So sánh với kết quả của công thức (3.11) trong điều kiện không gian tự do với kết quả
của công thức (3.18) ta có thể thấy được sự ảnh hưởng bởi suy hao của các môi trường tới
khoảng cách chống can nhiễu.
Trong trường hợp ta cho công suất máy phát thay đổi, ta có công thức
d  10

Pe .i . r . p _ DVBT 32.692.5 20log10 ( f )  Ah

80

100

120

Công suất (dBm)
Ah=3 tại nông thôn

Ah=7 tại ngoại ô

Ah=15 tại thành thị

Hình 3.4 Mối quan hệ giữa công suất và khoảng cách bảo vệ
Như vậy dựa vào công suất phát ta sẽ thu được khoảng cách chống can nhiễu khác
nhau.
Với khí hậu Việt Nam có độ ẩm vừa mưa lớn dẫn đến suy hao và can nhiễu cao. Nên
khoảng cách bảo vệ của các trạm cần lên tới vài chục km đến vài trăm km và công suất phát
của trạm DVB-T lớn hơn 85 dBm để đảm bảo 2 hệ thống hoạt động ổn định không gây can
nhiễu.
3.7 Kết luận chương 3
Chương 3 đã nghiên cứu các trường hợp và giải pháp chống can nhiễu giữa DVB-T và
LTE-A tại băng tần 700 MHz với mô hình suy hao đường truyền sóng xem xét cho các khu
vực thành thị nông thôn và ngoại ô ở Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status