HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
= = = =¶¶¶ = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANO FE 0 TRÊN
NỀN POLYME VÀ ỨNG DỤNG XỬ LÍ
HỢP CHẤT HỮU CƠ CHỨA CLO
Người thực hiện
Lớp
Khóa
Chuyên ngành
Giáo viên hướng dẫn
:
:
:
:
:
NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
MTC
57
MÔI TRƯỜNG
ThS LÊ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI – 2016
ThS LÊ THỊ THU HƯƠNG
BỘ MÔN HÓA – KHOA MÔI
TRƯỜNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
-Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên
hướng dẫn ThS.Lê Thị Thu Hương đã động viên, tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp.
- Xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu Học Viện Nông nghiệp Hà Nội,
các thầy cô trong khoa Môi trường đặc biệt là các thầy cô ở bộ môn Hóa đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
- Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên
cạnh cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn.
Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 2016
Sinh Viên
Nguyễn Phương Thúy
i
MỤC LỤC
- Dùng công nghệ nano để xử lý nước..........................................................7
- Áp dụng công nghệ nano cho thiết bị lọc nước.............................................11
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Những hợp chất có thể xử lý dễ dàng bằng nano Fe0
Bảng 3.1 Kết quả phân tích mối tương quan giữa thời gian và hiệu suất xử lý
TCE...................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.2 Kết quả phân tích mối tương quan giữa pH và hiệu suất xử lý TCE
..........................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.3 Kết quả phân tích mối tương quan giữa khối lượng vật liệu và hiệu
suất xử lý TCE..................................................Error: Reference source not found
iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc phân tử nano........................Error: Reference source not found
Hình 1.2 Ống nano lọc nước.............................Error: Reference source not found
Hình 1.3 Cấu tạo phân tử TCE.........................Error: Reference source not found
Hình 1.4 cấu trúc chitin / chitosan...........................................................................
Hình 1.5 Cấu trúc của chitin.............................Error: Reference source not found
Hình 1.6 Cấu trúc của chitosan (hay Poliglusam; Deacetylchitin; Poly(D)glucosamine)...............................................Error: Reference source not found
Hình 3.1 Vật liệu trước và sau sấy....................Error: Reference source not found
Hình 3.2 Hình ảnh bề mặt vật liệu được chụp bằng kính hiển vi điện tử quét
(SEM)...............................................................Error: Reference source not found
Hình 3.3 Cấu tạo mô phỏng bằng hình vẽ vật liệu nano sắt Hóa trị 0...........Error:
Reference source not found
Hình 3.4: Biểu đồ mối quan hệ giữa thời gian lắc mẫu và hiệu suất xử lý TCE
..........................................................................Error: Reference source not found
Hình 3.5: Biểu đồ mối quan hệ giữa pH và hiệu suất xử lý TCE. Error: Reference
source not found
Hình 3.6: Biểu đồ mối quan hệ giữa khối lượng vật liệu và hiệu suất xử lý TCE
..........................................................................Error: Reference source not found
nguồn nước bị ô nhiễm chất hữu cơ làm cho nước có màu sắc và mùi vị khó
chịu, có nhiều hợp chất độc hại và gây tác động xấu đến sức khoẻ con người.
1
Vì vậy, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu chế tạo vật liệu nano Fe 0 trên nền
polyme và ứng dụng xử lí hợp chất hữu cơ chứa clo ”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được phương pháp tổng hợp vật liệu nano Fe 0 trên nền
Chitosan
- Nghiên cứu khả năng xử lí hợp chất hữu cơ chứa clo của vật liệu nano
Fe0 trên nền Chitosan.
- Xác định được điều kiện tối ưu xử lý hợp chất hữu cơ chứa Clo của vật
liệu nano Fe0 trên nền Chitosan.
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.Tổng quan về công nghệ nano
1.1Khái niệm công nghệ nano
Công nghệ Nano (Nanotechnology), hay còn gọi là sản xuất phân tử, là
một ngành khoa học kỹ thuật liên quan tới thiết kế và sản xuất các mạch điện tử
và thiết bị cực nhỏ ở cấp độ phân tử của vật thể . Viện công nghệ Nano Anh
quốc (Institute of Nanotechnology) định nghĩa Nano là “một ngành khoa học và
công nghệ mà ở đó các kích thước từ 0,1nm (Nanomét) tới 100nm đóng vai trò
chủ đạo” . Nanomét là đơn vị đo lường vũ trụ bằng 1 phần tỷ mét. Công nghệ
Nano thường đi đôi với các hệ thống vi cơ điện MEMS (microelectromechanical systems). Các hệ thống này thường sử dụng công nghệ Nano
nhưng có thể bao gồm cả các công nghệ khác ở cấp độ cao hơn phân tử .
Nguyên tắc chủ yếu của các công nghệ nano là giảm các vấn đề nan giải
về nước, là giải quyết các khó khăn về kỹ thuật để xử lý các chất ô nhiễm trong
nước, bao gồm vi khuẩn, virút, asen, thủy ngân, thuốc bảo vệ thực vật và muối.
Nhiều nhà nghiên cứu và kỹ sư khẳng định, công nghệ nano đảm bảo các giải
pháp hiệu quả và bền vững hơn vì sử dụng các hạt nano để xử lý nước ít gây ô
nhiễm hơn so với các phương pháp truyền thống và đòi hỏi ít nhân công, vốn,
đất đai và năng lượng.
1.3 Vật liệu nano
Vật liệu nano là loại vật liệu có kích thước cỡ nanômét . Đây là đối tượng
nghiên cứu của khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên
với nhau . Tính chất của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước của chúng, vào
cỡ nanômét,đạt tới kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lý của vật liệu
thông thường. Đây là lý do mang lại tên gọi cho vật liệu.Kích thước vật liệu
nano trải một khoảng từ vài nm đến vài trăm nm phụ thuộc vào bản chất vật liệu
và tính chất cần nghiên cứu.
Định nghĩa về khoa học nano dựa trên tiền tố nano của tiếng Hi Lạp có
nghĩa là nhỏ xíu , rất nhỏ. Trong kĩ thuật nano có nghĩa là bằng một phần tỉ của
cái gì đó, 10-9(1/1.000.000.000) . Một nano mét bằng 10-9m, một đơn vị đo
4
lường để đo kích thước những vật cực nhỏ. Cơ cấu nhỏ nhất của vật chất chính
là nguyên tử có kích thước khoảng 1nm, phân tử là hợp của nhiều nguyên tử và
có kích thước khoảng 1nm, vi khuẩn: 50nm, hồng huyết cầu 10.000 nm, sợi tóc:
100.000nm, đầu cây kim: 1 triệu nm và chiều cao con người: 2 tỉ nm.Vật liệu
nano có thể định nghĩa là những vật liệu mà thành phần cấu trúc của nó có
mộtchiều với kích thước dưới 100 nm. Những vật liệu có một chiều ở kích thước
nano là các lớp (layers) như các màng mỏng hay các lớp phủ bề mặt. Các vật
liệu có hai chiều ở kích thước nanocó thể kể đến là các sợi nano (nanowires) hay
các ống nano (nanotubes). Những vật liệu có ba chiều với kích thước nano bao
pháp từ dưới lên được phát triên rất mạnh mẽ vì tính linh động và chất
lượng của sản phẩm cuối cùng . Phần lớn các vật liệu nano mà chúng ta dùng
hiện nay được chế tạo từ phương pháp này . Phương pháp từ dưới lên có thê là
phương pháp vật lý, hóa học hoặc kết hợp cả hai phương pháp hóa-lý .
• Phương pháp vật lý: là phương pháp tạo vật liệu nano từ nguyên tử hoặc
chuyên pha. Nguyên tử hình thành vật liệu nano được tạo ra từ phương pháp vật
lý: bốc bay nhiệt (đốt, phóng xạ, phóng điện hồ quang). Phương pháp chuyển
pha: vật liệu được nung nóng rồi cho nguội với tốc độ nhanh để thu được trạng
thái vô định hình, xử lý nhiệt để xảy ra chuyển pha vô định hình - tinh thể (kết
tinh) (phương pháp nguội nhanh).
Phương pháp vật lý thường được dùng để tạo các hạt nano, màng nano,
ví dụ: ổ cứng máy tính.
• Phương pháp hóa học: là phương pháp tạo vật liệu nano từ các ion.
Phương pháp hóa học có đặc điểm là rất đa dạng vì tùy thuộc vào vật liệu
cụ thể mà người ta phải thay đổi kỹ thuật chế tạo cho phù hợp . Tuy nhiên,
chúng ta vẫn có thể phân loại các phương pháp hóa học thành hai loại: hình
thành vật liệu nano từ pha lỏng (phương pháp kết tủa, sol-gel,...) và từ pha khí
(nhiệt phân,...). Phương pháp này có thể tạo các hạt nano, dây nano, ống nano,
màng nano, bột nano,...
• Phương pháp kết hợp: là phương pháp tạo vật liệu nano dựa trên các
nguyên tắc vật lý và hóa học như: điện phân, ngưng tụ từ pha khí,... Phương
pháp này có thể tạo các hạt nano, dây nano, ống nano, màng nano, bột nano,...
6
1.4 Ứng dụng công nghệ nano trong xử lý môi trường
1.4.1 Ứng dụng xử lý môi trường nước
- Màng lọc nano đã được ứng dụng phổ biến để xử lý muối hòa tan và
các chất ô nhiễm có kích thước nhỏ, làm mềm nước và xử lý nước thải. Màng
lọc nano đóng vai trò như rào cản vật lý, ngăn chặn các hạt và vi sinh vật lớn
chúng đến nơi khác, kể cả các chất ô nhiễm mà các công nghệ hiện có xử lý
không hiệu quả hoặc đòi hỏi chi phí cao . Các nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học
Ấn Độ ở Bangalore đã sử dụng titan oxít nano cho mục đích này . Các hạt nano
từ tính có diện tích bề mặt lớn tỷ lệ với thể tích của chúng và có thể dễ dàng liên
kết với các hóa chất . Trong các ứng dụng về xử lý nước, các hạt nano từ tính có
thể được dùng để liên kết với các chất ô nhiễm như asen hay dầu mỏ để loại bỏ
các chất ô nhiễm bằng nam châm . Một số công ty đang thương mại hóa các
công nghệ này và các nhà nghiên cứu vẫn đang thường xuyên công bố những
phát hiện mới trong lĩnh vực này .
Các nhà khoa học tại Đại học Rice ở Hoa Kỳ đang sử dụng hạt “nano từ
tính”để xử lý asen trong nước uống. Diện tích bề mặt hạt nano từ tính lớn nghĩa
là nano từ tính có thể hút asen gấp 100 lần loại nano từ tính có diện tích bề mặt
lớn hơn . Nhóm nghiên cứu dự báo, 200-500mg nano từ tính có thể xử lý 1 lít
nước. Họ đang phát triển phương pháp sản xuất nano từ tính từ các thiết bị gia
dụng rẻ tiền, sẽ làm giảm đáng kể chi phí sản xuất, đưa sản phẩm này đến với
cộng đồng ở các nước đang phát triển .
Cùng với khả năng xử lý nước, công nghệ nano còn phát hiện ra các chất
ô nhiễm sinh ra trong nước . Các nhà nghiên cứu đang phát triển các công nghệ
cảm biến mới kết hợp sản xuất ở kích thước nhỏ và cỡ nano để tạo ra các bộ cảm
biến nhỏ, di động và có độ chính xác cao có thể phát hiện các hóa chất và chất
sinh hóa trong nước . Một số consortium trong lĩnh vực nghiên cứu đang thử
nghiệm tại hiện trường các thiết bị này và sẽ nhanh chóng thương mại hóa chúng
. Ví dụ, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Pennsylvania đã nghiên cứu
phương pháp phát hiện asen trong nước bằng dây nano gắn lên chíp silicon .
8
Hình 1.1 Cấu trúc phân tử nano
Hiện nay, có một số sản phẩm điển hình ra đời ở các nước đang phát triển
6. Thiết bị lọc thông dụng do Công ty KX (Hoa Kỳ) sản xuất: Thiết bị
lọc sử dụng lớp sợi nano được chế tạo từ các polyme, nhựa thông, gốm và các
vật liệu khác để xử lý các chất ô nhiễm. Thiết bị được chế tạo dành riêng cho hộ
gia đình trong cộng đồng ở các nước đang phát triển sử dụng . Các thiết bị lọc
hiệu quả, dễ sử dụng và không cần phải bảo dưỡng .
7. Thiết bị lọc thuốc bảo vệ thực vật do Viện Công nghệ Ấn Độ ở
Chennai và Công ty TNHH Eureka Forbes (Ấn Độ) sản xuất: Thiết bị này sử
dụng bạc nano để hút và sau đó phân hủy 3 loại thuốc bảo vệ thực vật thường
thấy trong các nguồn cung cấp nước ở Ấn Độ. Thuốc bảo vệ thực vật thường tồn
tại trong các nguồn cung cấp nước của các nước đang phát triển. Thiết bị lọc
thuốc bảo vệ thực vật có thể cung cấp cho mỗi hộ gia đình ở Ấn Độ 6000 lít
nước sạch mỗi năm.
10
- Áp dụng công nghệ nano cho thiết bị lọc nước
Công nghệ nano đã được phát triển rộng khắp trong thập kỷ qua và có thể
chế tạo ra nhiều vật liệu mới có phạm vi ứng dụng tiềm năng chẳng hạn như các
ống nano các bon. Ống nano các bon bao gồm các phân tử các bon hình trụ có
đường kính vài nano mét - 1 nano mét bằng 1 phần triệu của 1 mm.
Các ống nano các bon có đặc tính điện tử, cơ học và hóa học khác lạ như
chúng có thể được sử dụng để lọc nước ô nhiễm . Các nhà khoa học tại Đại học
Vienna mới đây đã đăng tải nghiên cứu về lĩnh vực mới này trên tạp chỉ nổi
tiếng Environmental Science & Technology .
Hình 1.2 Ống nano lọc nước
Các ống nano các bon có nhiều khả năng ứng dụng trong đó có xử lý
nước ô nhiễm . Nhiều chất ô nhiễm trong nước có khả năng bám dính mạnh với
các ống nano các bon và các chất ô nhiễm được loại bỏ khỏi nước ô nhiễm nhờ
được nghiên cứu sử dụng như chất khử hữu hiệu trong công nghệ xử lý môi
trường . Ngay khi ở kích thước micromet, ZVI cũng đã có hoạt tính khá tốt trong
những phản ứng giải trừ các hợp chất chứa Clo, Nitơ trong đất và nước, đặc biệt
xử lý nước ngầm .
Với việc ứng dụng thành công 2 trạm xử lý nước thải tập chung khu công
nghiệp Thạch Thất – Quốc Oai – Hà Nội và CCN Quất Động - Thường Tín Hà Nội bằng công nghệ dùng vật liệu tổ hợp Nano sắt hóa trị 0 đã đánh dấu
12
bước ngoặt trong công nghệ xử lý môi trường nước và mở ra một hướng mới để
xử lý nước
- Gần đây, các nhà khoa học thuộc phòng Hóa vô cơ - Viện Hóa học đã
nghiên cứu chế tạo thành công hệ thống xử lý nước nhiễm Asen và kim loại
nặng sử dụng công nghệ Nano VAST, trong đó có sử dụng 2 loại vật liệu hấp
phụ asen tiên tiến chế tạo trong nước là NC-F20 và NC-MF. Đây là kết quả
nghiên cứu của đề tài “Hoàn thiện công nghệ và chế tạo thiết bị xử lý nước
nhiễm asen sử dụng vật liệu hấp phụ hiệu năng cao NC-F20 cho vùng nông thôn
Hà Nam” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn, do KSC. Phạm Văn Lâm – Phòng Hóa vô cơ - Viện Hóa học
làm chủ nhiệm.
Hệ thống Nano Vast ban đầu đã được triển khai ứng dụng vào thực tiễn
tại trạm xá xã Nhân Khang – Lý Nhân – Hà Nam, có khả năng loại bỏ asen từ
200 ppb xuống dưới 5 ppb (tiêu chuẩn là 10 ppb) với công suất xử lý 1,5m3/h
đạt tiêu chuẩn về asen trong nước ăn uống. Hệ thống được thiết kế dạng modul
chuẩn nhằm lắp ghép dễ dàng, điều khiển hệ thống theo hai chế độ: tự động
hoàn toàn hoặc bằng tay. Đến nay hệ thống Nano Vast đã được triển khai và
nhân rộng tại nhiều địa bàn trong cả nước với các công suất là 0,8m 3/h, 1,2m3/h
và 1,5m3/h .
Hệ thống NanoVAST hiện được thiết kế tương đối chuyên nghiệp với
một số kết quả đã được đưa ra về khả năng xử lý diệt khuẩn của vật liệu quang
xúc tác TiO2 anatase, như một số dạng sản phẩm màng lọc dùng để xử lý môi
trường sử dụng TiO2 trên đề vải cacbon, trên đế gốm xứ, bông thủy tinh và nhất
là hai loại máy xử lý không khí ô nhiễm ở dạng chế tạo thử nghiệm đơn chiếc
cũng đã được đưa ra quảng bá trong hội chợ công nghệ. Ngoài ra Viện Khoa học
và công nghệ Việt Nam, chúng tôi được biết, một số nhóm nghiên cứu ở Đại học
Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, và ở miền Nam cũng có một số cơ
sở nghiên cứu về vật liệu TiO2 anatasse và ứng dụng, như trường Đại học Quốc
gia TP. Hồ Chí Minh và các cơ sở nghiên cứu này cũng đã thu được một số kết
quả nhất định ở các khía cạnh khác nhau.
14
Gần đây, Viện Công nghệ môi trường phối kết hợp với Viện Vật lý Ứng
dụng thiết bị khoa học cũng đã nghiên cứu tiếp nối một số vấn đề và đã chế tạo
thành công một số sản phẩm khoa học mới có sử dụng vật liệu nano TiO 2 như:
Bộ lọc chủ động quang xúc tác sử dụng TiO 2 phủ trên vật liệu bông thạch anh và
TiO2 phủ trên sợi Al2O3 trong thiết bị làm sạch không khí; Sơn TiO2/Apatite
diệt khuẩn... Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xử lý ô nhiễm
không khí bằng vật liệu sơn nano TiO2/Apatite, TiO2/Al2O3 và TiO2/bông
thạch anh” do TS. Nguyễn Thị Huệ, Viện Công nghệ môi trường làm chủ
nhiệm. Đề tài được thực hiện trong hai năm 2009-2010 .
Công nghệ vật liệu mới nano TiO2 dễ áp dụng, dễ phổ cập có thể xử lý
môi trường không khí bị ô nhiễm, diệt khuẩn, làm sạch bề mặt nhiều loại vật
liệu như kính . Sơn của các ngôi nhà cao tầng…. sẽ góp phần quan trọng để bảo
vệ sức khỏe của cộng đồng và nhiều ích lợi cho phát triển kinh tế -xã hội .
2. Tổng quan về Fe và ứng dụng nano Fe trong xử lý HCHC chứa clo
2.1 Sắt
- Cấu hình e nguyên tử: 26Fe: 1s22s22p63s23p63d64s2.
Sắt tác dụng với hầu hết các phi kim khi đun nóng:
- Với halogen → muối sắt (III) halogenua (trừ iot tạo muối sắt II):
2. Tác dụng với nước
- Fe không tác dụng với nước ở nhiệt độ thường, ở nhiệt độ cao, sắt phản
ứng mạnh với hơi nước:
3. Tác dụng với dung dịch axit
a. Với H+ (HCl, H2SO4 loãng... ) → muối sắt (II) + H2
b. Tác dụng với các axit có tính oxi hóa mạnh (HNO3, H2SO4 đậm đặc)
- Fe thụ động với H 2SO4 đặc nguội và HNO3 đặc nguội → có thể dùng
thùng Fe chuyên chở axit HNO3 đặc nguội và H2SO4 đặc nguội.
- Với dung dịch HNO3 loãng → muối sắt (III) + NO + H2O:
- Với dung dịch HNO3 đậm đặc → muối sắt (III) + NO2 + H2O:
- Với dung dịch H2SO4 đậm đặc và nóng → muối sắt (III) + H2O + SO2:
Chú ý: Sản phẩm sinh ra trong phản ứng của Fe với HNO 3 hoặc
H2SO4 đậm đặc là muối sắt (III) nhưng nếu sau phản ứng có Fe dư hoặc có Cu
thì tiếp tục xảy ra phản ứng:
2Fe3+ + Fe → 3Fe3+
Hoặc
2Fe3+ + Cu → 2Fe2+ + Cu2+
16
4. Tác dụng với dung dịch muối
- Fe đẩy được những kim loại yếu hơn ra khỏi muối → muối sắt (II) +
kim loại.
- Fe tham gia phản ứng với muối Fe3+ → muối sắt (II):
2.2 Ứng dụng của nano Fe trong xử lí HCHC
Môi trường bị ô nhiễm không chỉ là các kim loại nặng mà còn nhiều chất
hữu cơ độc hại khác nữa. Nhiều biện pháp xử lý môi trường đã được áp dụng
kích thước nhỏ hơn 10-1000 lần so với hầu hết các loại vi khuẩn, các tinh thể sắt
nhỏ xíu này có thể di chuyển dễ dàng giữa các hạt đất, không bị kẹt lại.
Các thử nghiệm hạt nano sắt trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa
cho thấy, có thể làm giảm ô nhiễm xuống đến mức chấp nhận được trong vòng ít
ngày sau khi phun và có thể làm sạch hoàn toàn khu vực rò rỉ chất ô nhiễm trong
vòng vài tuần, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm của Hoa Kỳ hay Châu
Âu.
Có thể xử lý khử ô nhiễm cho một khu vực rộng bằng phương pháp phun
một lần hạt nano sắt. Sau khi khu vực được làm sạch, các hạt nano sắt chưa
được sử dụng còn dư sẽ tiếp tục di chuyển theo đường nước ngầm cho đến khi
được hòa tan hoàn toàn, không phát hiện thấy nữa, so với mức sắt tồn tại trong
tự nhiên còn cao hơn nhiều. Theo các nhà Khoa học của trường Đại học Brown
(Hoa Kỳ) đã công bố: các nhà khoa học của họ đã tạo ra được những hạt nano từ
ôxít sắt nhỏ nhất từ trước đến nay để giúp tìm tế bào ung thư qua biện pháp chụp
cộng hưởng từ (MRI). Nhóm nghiên cứu của trường Đại học Brown đã tạo ra
được các hạt nano từ oxít sắt có đường kính tổng thể khoảng 8,4 nanomet. Sau
đó họ tiêm các hạt này vào chuột và đã thử thành công khả năng của chúng định
vị một tế bào ung thư não gọi là U87MG. Các hạt nano này hoạt động giống như
những "tên lửa dẫn đường" tí hon, tìm kiếm và tự gắn kết với tế bào u ác tính .
Khi đã gắn kết với tế bào bệnh, các hạt nano đó phát ra những tín hiệu mạnh hơn
giúp bác sĩ có thể phát hiện tế bào ung thư chỉ bằng biện pháp chụp cộng hưởng
từ. Các nhà khoa học có kế hoạch sẽ thử khả năng gắn kết của các hạt nano này
với các tế bào ung thư khác của những động vật cấp cao hơn.
18