ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CUNG CẤP LÂN TRONG ĐẤT TRÊN MỘT SỐ VÙNG TRỒNG RAU MÀU TRỌNG ĐIỂM Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 42

Header Page 1 of 134.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ


TÓM TẮT LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT
MÃ NGÀNH: 62 62 01 03

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CUNG CẤP LÂN TRONG ĐẤT TRÊN
MỘT SỐ VÙNG TRỒNG RAU MÀU TRỌNG ĐIỂM Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

PHẠM THỊ PHƯƠNG THÚY

2015

Footer Page 1 of 134.


Header Page 2 of 134.

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
…………………………………

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mỹ Hoa

Phản biện 1:
..........................................................................................
Phản biện 2:

màu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chưa được thực hiện nhiều.
Các tham khảo về chất lân trong đất làm cơ sở khoa học cho việc lý giải và
quản lý chất lân trong đất cũng còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu đánh
giá về hiện trạng chất lân trong đất, khả năng cung cấp lân trong đất đặc
biệt là trên đất trồng rau màu ở ĐBSCL làm cơ sở cho việc khuyến cáo liều
lượng bón phân lân trên các nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu khác nhau
là rất cần thiết góp phần làm giảm chi phí và tăng thu nhập cho nông dân.
Do đó luận án “Đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất trên một số
vùng trồng rau màu trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long” đã được
thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học về chất lân trong đất giúp việc
quản lý và sử dụng phân lân trên các nhóm đất trồng rau màu trọng điểm ở
ĐBSCL đạt hiệu quả cao.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng sử dụng phân lân trên một số vùng trồng rau
màu trọng điểm ở ĐBSCL.
- Đánh giá hiện trạng chất lân và các thành phần lân trong đất.
- Khảo sát khả năng hấp phụ, phóng thích lân trong đất.
- Đánh giá sự đáp ứng của cây trồng đối với phân lân.
Footer Page 3 of 134.
-1-


1.3
Đối tượng
Header
Page 4vàofphạm
134. vi nghiên cứu
Đất nghiên cứu bao gồm 123 mẫu đất trồng rau màu thuộc nhóm
đất Fluvisols, Gleysols và Arenosols tại bốn tỉnh Cần Thơ, An Giang, Vĩnh
Long và Trà Vinh.

-2-


Header Page 5 of 134.

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Hiện trạng chất lân trong đất trên thế giới và trong nước
Lân là một trong ba nguyên tố đa lượng quan trọng góp phần tăng
năng suất và chất lượng nông sản nhưng triệu chứng thừa lân trên cây rất
khó phân biệt. Do đó khả năng bón thừa lân là rất cao. Kết quả điều tra của
Bộ môn Nông học NCDA & CS (2007) cho rằng có hơn 48% mẫu đất trên
toàn tiểu bang Carolina của Mỹ có hàm lượng lân dễ tiêu được đánh giá
cao đạt ngưỡng từ 60-120 mg/dm3 (Mehlich3-P) và bón phân lân không
làm gia tăng năng suất cây trồng.
Trong cơ cấu cây trồng ở ĐBSCL thì rau màu cũng được xác định
là một trong những loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao đặc biệt là rau
màu nhiệt đới. Xu hướng bón nhiều phân hóa học đặc biệt là phân lân
trong canh tác rau màu là rất cao. Theo kết quả của Nguyễn Mỹ Hoa và
Đặng Duy Minh (2006) cũng cho thấy ở nhiều ruộng khảo sát trong vùng
trồng rau chuyên canh ở Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu (Bray1) đạt rất
cao (129 – 234,5 mgP/kg) do nông dân trong vùng khảo sát đã sử dụng
lượng phân lân rất cao (100 -150 kgP2O5/ha). Theo Phan Thị Công và ctv
(2005) một số loại đất vùng Đông Nam Bộ đã có hiện tượng phú dưỡng lân
trong đất. Kết quả nghiên cứu của Trần Minh Tiến và ctv (2013) về biến
động một số tính chất đất trồng lúa vùng ĐBSH và ĐBSCL cho thấy, hàm
lượng lân tổng số trên đất lúa đã tăng lên dao động từ 0,08 – 0,13 %P2O5
với lượng gia tăng tương ứng từ 0,02 – 0,06 %P2O5 giai đoạn từ năm 1975
đến năm 2005.

(2012) cho rằng ít có sự khác biệt về sự phóng thích lân liên quan đến độ
pH đất nhưng liên quan đến loại khoáng sét. Nghiên cứu của Trần Thị
Tường Linh (2014) cũng tìm thấy các các yếu tố như hàm lượng sắt nhôm
tự do và vô định hình, hàm lượng sét, hàm lượng chất hữu cơ có tương
quan nghịch rất chặt với hàm lượng lân phóng thích trên 20 loại đất lúa ở
miền Nam.
2.4 Sự đáp ứng của cây trồng đối với phân lân
Trên thế giới, nghiên cứu về sự đáp ứng cây trồng đối với phân lân
của Cahill et al (2008) cho thấy trên đất có hàm lượng lân cao (60-120
mgP/dm3-M3), không có sự đáp ứng của cây bắp (Zea mays L.) hoặc cây
bông vải (Gossypium spp.) khi bón phân lân. Theo Bordoli và Mallarino
(1998) nghiên cứu trên đất Iowa cho thấy bón lân ít để cung cấp khởi đầu
(starter P) không làm tăng năng suất bắp, ngoại trừ trên đất có hàm lượng
lân thấp đến rất thấp (8-16 mgP/kg-Bray1). Wortmann et al (2006) cho
rằng không có sự gia tăng năng suất của cây lúa miếng (sorghum) trên đất
lân cao (>15mgP/kg Bray1), trên đất có hàm lượng lân trung bình và thấp
(
Footer Page 7 of 134.
-5-


2.2
PHƯƠNG
Header
Page 8PHÁP
of 134.NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu 1: Điều tra hiện trạng sử dụng phân lân tại các vùng
trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
Nghiên cứu được thực hiện trên 123 hộ dân trồng rau màu tại 4
huyện của 4 tỉnh Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh. Mỗi huyện
điều tra từ 30 -31 hộ dân, các chỉ tiêu khảo sát bao gồm: diện tích sản xuất
rau màu, liều lượng và loại phân lân sử dụng trên mỗi loại cây trồng. Điều
tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông dân theo phiếu điều tra đã soạn sẵn.
Đất trồng rau màu của các hộ dân chọn điều tra cũng được lấy mẫu
đất để đánh giá hiện trạng chất lân, thành phần lân, khả năng hấp phụ lân,
khả năng phóng thích lân và khả năng đáp ứng của cây bắp đối với phân
lân trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới. Do eo hẹp về kinh phí nghiên cứu
và lượng đất không đủ nên số mẫu của các nghiên cứu không bằng nhau.
2.2.2 Nghiên cứu 2: Hiện trạng chất lân và các thành phần lân trong
đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
2.2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng chất lân trong đất
Nghiên cứu thực hiện gồm tổng số 123 mẫu đất được lấy từ các hộ
điều tra ở 4 tỉnh trong nghiên cứu 1. Các chỉ tiêu khảo sát gồm Lân tổng
số, lân dễ tiêu theo phương pháp Bray1 và Olsen.
2.2.2.2 Nghiên cứu thành phần lân trong đất
Nghiên cứu thực hiện trên 32 mẫu đất được chọn từ 123 mẫu đất
khảo sát để phân tích thành phần lân theo Chang – Jackson và 12 mẫu đất

2.2.3 Nghiên cứu 3: Xác định khả năng hấp phụ lân trong đất trồng
rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
Nghiên cứu được thực hiện trên 19 mẫu đất có hàm lượng lân dễ
tiêu từ thấp đến cao cùng mẫu với đất thí nghiệm khảo sát thành phần lân
của nghiên cứu 2. Sự hấp phụ lân được xác định theo qui trình phân tích
của Houba et al (1995) và mối liên hệ giữa lượng lân hấp phụ và nồng độ
lân trong dung dịch đã cân bằng được mô tả bằng đường cong của phương
trình Langmuir.

C 1
1
 C
q b
k b
Trong đó
C là nồng độ dung dịch sau khi cân bằng (mgP/L)
q là lượng P hấp phụ (mgP/kg)
Lượng lân hấp phụ lớn nhất qm (giá trị b trong phương trình
Langmuir) được ước lượng qua phương trình đồ thị biểu diễn mối liên hệ
giữa C/q và C là nồng độ lân cân bằng trong dung dịch. Theo Houba et al
(1995) cho rằng lân hấp phụ có sẵn trong đất được xác định bằng phương
pháp Olsen với dung dịch trích đất 0,5 N NaOH ở pH = 8,5 tỷ lệ trích 1:20.
2.2.4 Nghiên cứu 4: Xác định khả năng phóng thích lân trong đất
trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
Nghiên cứu được thực hiện trên 19 mẫu đất có hàm lượng lân dễ
tiêu từ thấp đến cao cùng mẫu với đất thí nghiệm hấp phụ lân. Phương
Footer Page 9 of 134.
-7-



Mới tỉnh An Giang được thực hiện từ từ tháng 1/2009 đến 9/2011 qua từ 1
đến 2 vụ canh tác trên mỗi điểm nghiên cứu. Đất nghiên cứu có hàm lượng
lân dễ tiêu trong đất từ thấp đến cao. Giống nghiên cứu cũng là giống bắp
rau và bắp nếp như thí nghiệm nhà lưới. Thí nghiệm được bố trí theo thể
thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm từ 3-4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại.
Diện tích mỗi lô thí nghiệm từ 33 – 47 m2. Trên bắp rau thì các nghiệm
thức và liều lượng bón lân từ 45, 90, 130, 400 kgP2O5/ha tùy theo theo
từng mùa vụ. Đối với phân đạm và kali thì cố định ở liều lượng 180 kgN
và 60 kgK2O. Trên bắp nếp các nghiệm thức và liều lượng bón lân từ 45,
90, 130, 400 kgP2O5/ha tùy theo theo từng mùa vụ. Đối với phân đạm và
Footer Page 10 of 134.
-8-


kali
thì bón
ở liều
lượng
Header
Page
11 of
134. 160 kgN và 90 kgK2O. Các chỉ tiêu khảo sát gồm
năng suất trái, hàm lượng lân trong lá mang trái và tổng thu hút lân.
2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab: Phân tích Anova
(General linear model) và xác định sự khác biệt trung bình giữa các
nghiệm thức theo phép thử Turkey. Phân tích tương quan tuyến tính
(Simple Linear Regression and Correlation).
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

of nguyên
134. chất sử dụng cho rau màu tại huyện Thốt Nốt
– Cần Thơ
Lượng lân sử dụng (kg P2O5/ha)
TT Loại rau màu
Thấp nhất Số trung vị
Trung bình Cao nhất
1
Hẹ *
140
642,8
632,1
1533
2
Rau thơm
180
208,5
193,8
366,5
3
Rau cần
0
167
198,8
390
Ghi chú: Lượng lân nguyên chất bón cho hẹ được tính trong 1 năm canh tác (7 lần
cắt/năm) diện tích 1ha

Nhìn chung, nông dân trồng rau màu ở ĐBSCL đã sử dụng phân
lân cao hơn so với khuyến cáo từ 50 – 80% có thể do ngoài việc cung cấp


Lân tổng số (%P)

Đánh giá Phân bố các cấp lân (%)

Thốt Nốt Cân Thơ

0,074 ± 0,013
0,048 ± 0,004
-

Chợ Mới –
An Giang

0,074 ± 0,009
0,052 ± 0,004
0,030 ± 0,004

Giàu
Khá
Trung
bình
Giàu
Khá
Trung
bình
Giàu

65,63
34,38

0,058 ± 0,004

35,48
54,84
9,68
26,67

60
20
20

4.2.1.2 Sự phân bố các cấp lân dễ tiêu và hàm lượng lân dễ tiêu trong
đất
Kết quả trình bày ở Bảng 4.3 và Bảng 4.4 cho thấy, đất trồng rau
màu ở ĐBSCL có hàm lượng lân dễ tiêu cao và cả 2 phương pháp đều
giống nhau là không tìm thấy mẫu đất có hàm lượng lân đạt ở mức rất thấp.
Nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và Đặng Duy Minh (2006), Bộ môn
Footer Page 13 of 134.
- 11 -


Nông
họcPage
NCDA
& 134.
CS (2007) cũng tìm thấy rất giàu lân dễ tiêu trong đất
Header
14 of
nông nghiệp có thể do bón nhiều lân trong quá trình canh tác.
Bảng 4.3 Sự phân bố (%) các cấp đánh giá lân trong đất trồng rau tại 123

Chợ Mới –An Giang
34,8 ±18,8
44,5 ±18,5
Bình Tân – Vĩnh Long
26,7 ±19,0
41,5±20,3
Châu Thành – Trà Vinh
48,8 ±41,8
73,9±62,1
Khi phân tích tương quan 123 mẫu khảo sát với lân tổng số, kết
quả cũng đã tìm thấy mối tương quan chặt giữa hàm lượng lân tổng số với
hàm lượng lân Bray1 và Olsen với hệ số tương quan r = 0,65** và r =
0,64** theo tự và tương quan chặt giữa Bray1 và Olsen với r = 0,82**. Bên
cạnh đó, đất nghiên cứu có pHH2O < 7 dao động từ 4,91 – 6,99. Vì vậy,
nghiên cứu chọn phương pháp phân tích lân dễ tiêu Bray1 để đánh giá hàm
lượng lân dễ tiêu trong đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL và sử dụng
để phân tích tương quan và đáp ứng của cây trồng đối với phân lân trong
nghiên cứu này.
4.2.2 Khảo sát các thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng điểm
ở ĐBSCL
4.2.2.1 Khảo sát thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng điểm ở
ĐBSCL theo phương pháp Chang – Jackson
Kết quả trình bày ở Bảng 4.5 cho thấy, trên các nhóm đất nghiên
cứu Fluvisols, Gleysols và Arenosols có thành phần lân Fe-P và Al-P là
Footer Page 14 of 134.
- 12 -


dạng
lân Page

15,9±7,5

Al -P
mgP/kg
119,2±57,4

Fe –P
mgP/kg
271,9±161,1

Ca-P
mgP/kg
107,3±41,9

P Hữu cơ
mgP/kg
146,6±43,7

0,89**

0,84*

- 0,36ns

- 0,44ns

0,63ns

3,7±4,2


0,29ns

Hệ số (r)
TB CM

36,0±25,3

Hệ số (r)
TB BT

30,7±23,3

0,89**

0,62*

4,9±3,4

36,9±23,9

145,3±81,0

66,9±50,0

101,5±78,8

ns

ns



13,2

40,7

14,3

30,5

***

***

ns

0,38*

0,90

0,64

0,16

Ghi chú: Kiểm định T-Test: ns,*, **, ***: không khác biệt, khác biệt mức ý nghĩa 5%,
1%, 0,1%.
r là hệ số tương quan của các thành phần lân với lân dễ tiêu

Tóm lại, thành phần lân sắt và nhôm chiếm tỷ lệ cao và có tương
quan với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, Thành phần lân hữu cơ không
tương quan nhưng chiếm tỷ lệ cao. Điều này có thể góp phần giải thích sự


NaHCO3-Po

TN1

13,1

9,8

50,1

20,1

TN5

54,07

27,4

110,1

17,1

TN10

120,03

45,8

181,0


17,0

BT5

20,41

31,5

69,0

19,5

BT8

44,99

27,1

97,8

63,3

BT10

76,91

37,0

171,5


23,1

Trung bình tổng thể

48,62

26,43

96,95

24,54

0,75**

0,89**

0,43ns

Đất thí nghiệm

Hệ số tương quan (r)

b. Thành phần lân khó tiêu trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL theo phương
pháp Hedley
Kết quả phân tích các thành phần lân dễ theo theo phương pháp
Hedley được trình bày ở Bảng 4.7 cho thấy:
Footer Page 16 of 134.
- 14 -



13,1

153,9

3,6

54,9

144,3

TN5

54,07

197,1

5,4

67,8

99,1

TN10

120,03

277,5

3,0


178,5

103,0

43,3

BT5

20,41

210,0

1,2

15,4

133,7

BT8

44,99

232,5

5,1

20,1

121,7


154,8

43,2

369,0

54,4

Lý lịch mẫu

17,9

Trung bình tổng thể
48,6
166,4
37,6
83,5
145,9
Hệ số tương quan (r)
0,65**
0,30ns
0,24ns
-0,57*
Ghi chú: ns không khác biệt, * khác biệt mức ý nghĩa 5%, ** khác biệt mức ý nghĩa
1%,*** khác biệt mức ý nghĩa 0,1%.

Tóm lại, qua hai phương pháp trích lân thành phần theo ChangJackson và Hedley có thể nhận thấy thành phần lân tan trong nước, lân bị
hấp phụ bởi hydroxit sắt và nhôm có mối tương quan thuận với hàm lượng
lân dễ tiêu trong đất. Các thành phần lân hữu cơ, lân canxi, lân bị kết tủa

đạt thấp từ 11,3 – 37,1%.
Bảng 4.8 Phần trăm (%) hấp phụ lân trên đất Thốt Nốt - Cần Thơ
Nồng
độ lân
(mgP/l)
3

Hàm lượng
Lân thêm vào
(mgP/kg)
60

Hàm lượng
lân thêm vào
(kgP/ha)
144

6

120

9

TN1
(%)

TN2
(%)

TN5


63,4

65,7

65,4

180

432

83,9

87,6

70,7

64,2

63,5

64,8

12

240

576

75,1


480

1.152

54,6

63,5

41,1

34,8

22,7

38,5

30

600

1.440

44,9

55,9

37,5

28,6

4.3.1.2 Sự hấp phụ lân theo phương trình Langmuir
Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng lân hấp phụ và nồng
độ lân cân bằng theo phương trình Langmuir có hệ số xác định R2 cao từ
0,72 - 0,99 cho thấy các phương trình này có thể được sử dụng để tính giá
trị lân hấp phụ tối đa (qm ). Kết quả cho thấy, 19 mẫu đất đại diện cho 4
tỉnh trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL có hàm lượng P hấp phụ tối đa
đạt từ 200 – 714,28 mgP/kg. Trên đất có hàm lượng P dễ tiêu thấp thì hàm
lượng lân hấp phụ tối đa cao và ngược lại.
4.3.2 Mối tương quan giữa lượng lân hấp phụ tối đa với tính chất lý
hóa đất
Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng lân hấp phụ tối đa
với tính chất lý hóa đất của 19 loại đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
được trình bày ở Bảng 4.9.Giữa P hấp phụ tối đa (qm) với pHH2O có tương
quan nghịch với pH đất, hàm lượng sét, và P dễ tiêu với hệ số tương quan
là r= - 0,50**, r = - 0,46* và r = - 0,78*** theo thứ tự. Kết quả này phù hợp
với nghiên cứu của Brady and Weil (1996); Sakurai et al, (1989); Sanyal
and De Datta, (1991); Vo Dinh Quang and Dufey (1995); Trần Thị Tường
Linh, (2014) cũng tìm thấy cơ sự tương quan giữa lân hấp phụ tối đa với
pH đất và hàm lượng sét. P hấp phụ tối đa (qm) cũng tương quan nghịch
với hàm lượng sắt do và sắt vô định hình với đạt r = 0,45* và r = 0,54* theo
thứ tự. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ryden and Pratt, (1980);
Sanyal and De Datta, (1991) và Trần Thị Tường Linh (2014).
Không có sự tương quan giữa khả năng hấp phụ lân tối đa với hàm
lượng chất hữu cơ (CHC) trong đất. Nguyên nhân do chất hữu cơ trong đất
trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL quá thấp và ít biến động giữa các loại
đất dao động từ 0,34 -2,98% CHC nên khả năng hấp phụ P là không đáng
kể và không có sự khác biệt giữa các loại đất.

Footer Page 19 of 134.
- 17 -

Kết quả phân tích DPS cho thấy, trên nhóm đất lân dễ tiêu thấp và
trung bình có DPS dao động từ 0,63 – 4,27%. Trên nhóm đất hàm lượng
lân dễ tiêu cao có DPS dao động từ 1,74 – 11,15%. Vì vậy chưa ảnh hưởng
đến môi trường bởi việc dư thừa lân bởi theo Van der Zee et al (1990), khi
DPS > 25% được xem như dư thừa lân, không khuyến cáo bón lân.
Kết quả ở Bảng 4.11 về tương quan giữa DPS với các đặc tính lý
hoá hoá học đất và các thành phần lân trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL
cho thấy, DPS có tương quan chặt chẽ với Pts, P oxalat, Fe-P, Al-P, Ca-P
và lân dễ tiêu Bray1 đầu vụ và không có tương quan với pH, % Sét, Fe tự
do, Fe vô định hình, CHC.
Bảng 4.10 Hệ số tương quan tuyến tính (r) giữa %DPS với các tính
chất lý hoá học đất và các thành phần lân trong đất trồng rau màu ở
ĐBSCL
Tính chất lý hoá học đất và các thành phần lân trong đất
Hệ số tương quan (r)
pHH2O
0,13ns
P tổng số (%P2O5)
0,55*
P dễ tiêu Bray1 (mgP/kg)
0,80**
Sét (%)
-0,31ns
Poxalate (mgP/kg)
0,66**
Fe tự do (%Fe2O3)
0,18ns
Fe vô định hình (%Fe2O3)
0,09ns
Chất hữu cơ (% CHC)

tốc độ phóng thích ở tỷ lệ 1:60 và 1:120 không khác nhiều so với tỷ lệ trích
1:240. Chứng tỏ có hiện tượng tái hấp thu khi ở tỷ lệ trích cao. Nghiên cứu
cũng cho thấy, tốc độ phóng thích có liên quan đến hàm lượng lân tổng số,
chất hữu cơ, lân Al-P và lân Fe-P tuy nhiên vẫn chưa được thể hiện rõ.
Hàm lượng lân phóng thích tối đa rất biến động và không gia tăng theo
hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, trong đó trên nhóm đất lân thấp có hàm
lượng lân phóng thích đối đa dao động từ 1,2 - 6,2 mgP/kg, nhóm lân dễ
tiêu trung bình dao động từ 0,96- 42,48 mgP/kg và nhóm lân dễ tiêu cao
dao động từ 2,4 – 61,92 mgP/kg.
Tính chất hóa học và thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng
điểm ở ĐBSCL có ảnh hưởng đến khả năng phóng thích lân trong đất. Kết
quả phân tích tương quan tuyến tính giữa lượng P phóng thích với tính chất
hóa học đất và các thành phần lân theo được trình bày Bảng 4.11:
Khả năng phóng thích lân có tương quan thuận với lân tổng số, lân
dễ tiêu, P dễ tan trong nước, lân Al-P, lân Fe-P, lân Ca-P, lân NaHCO3-Pi,
NaOH-Pi với hệ số tương quan là r = 0,48*, r = 0,98***, r = 0,91*** , r =
0,98*** , r = 0,93*** , r = 0,98*** , r = 0,58**, r = 0,68** , r = 0,74** và
r = 071** theo thứ tự.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch giữa
lượng P hấp phụ tối đa và lượng P phóng thích tối đa (r= - 0,51*) có nghĩa
là khả năng hấp phụ càng lớn thì khả năng phóng thích lân càng thấp.
Nghiên cứu của Trần Thị Tường Linh (2014) trên các nhóm đất trồng lúa ở
các tỉnh phía Nam cũng cho kết quả tương tự về mối tương quan nghịch rất
chặt giữa hàm lượng P phóng thích và P hấp phụ trong đất.

Footer Page 21 of 134.
- 19 -


Header Page 22 of 134.

NaHCO3 – Pi (mgP/kg)
0,74**
NaHCO3 – Po (mgP/kg)
0,33ns
NaOH – Pi (mgP/kg)
0,71**
NaOH – Po (mgP/kg)
0,02ns
HCl – Pi (mgP/kg)
0,05ns
Res – P (mgP/kg)
- 0,4ns
** ***
Ghi chú: ns, *, , : không khác biệt, khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, 1%, 0,1%

Tóm lại, trong tính chất hóa học đất thì các yếu tố lân tổng số, lân
dễ tiêu, thành phần lân theo Chang – Jackson (lân dễ tan trong nước, lân
Al-P, lân Fe-P, lân Ca-P) và thành phần lân theo Hedley (H2O-Pi,
NaHCO3-Pi, NaOH-Pi) có hệ số tương quan chặt với khả năng phóng thích
P trong đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL. Kết quả này cho thấy các
yếu như lân tổng số, lân dễ tiêu, thành phần dễ tan trong nước, lân Al-P,
lân Fe-P, lân Ca-P, lân H2O-Pi, lân NaHCO3-Pi, lân NaOH-Pi đều có ảnh
hưởng đến khả năng phóng thích P trong đất. Vì vậy, kết quả luận án sẽ
làm cơ sở cho việc lý giải khả năng cung cấp lân trong đất, đánh giá sự đáp
ứng của cây trồng đối với phân lân và qủan lý tốt chất lân trong đất, duy trì
độ phì của lân trong đất và giảm tác hại rửa trôi ra môi trường.

Footer Page 22 of 134.
- 20 -



Footer Page 23 of 134.
- 21 -


Header Page 24 of 134.

Hình 4.1 So sánh năng suất bắp rau và bắp nếp giữa nghiệm thức bón 90 kgP2O5/ha và nghiệm thức không bón lân qua 5 vụ trên
đất Thốt Nốt – Cần Thơ và đất Chợ Mới – An Giang.
Ghi chú: ns: không khác biệt, * khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, thanh sai số I: độ lệch chuẩn.
- 22 -

Footer Page 24 of 134.


Header Page 25 of 134.

Hình 4.2 So sánh năng suất bắp rau và bắp nếp giữa nghiệm thức bón 90 kgP2O5/ha và nghiệm thức không bón lân qua 5 vụ trên
đất Bình Tân – Vĩnh Long và đất Châu Thành – Trà Vinh .
Ghi chú: ns: không khác biệt, * khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, thanh sai số I: độ lệch chuẩn

- 23 -

Footer Page 25 of 134.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status