A. PHẦN MỞ ĐẦU
Cho đến nay, người ta vẫn nhắc đến Nghệ thuật thơ ca của Aristotes (384322 trước Công nguyên) như một công trình thi học đầu tiên của nhân loại. Ông đã
phân chia văn học thành ba loại: tự sự, trữ tình, kịch. Trong đó, tự sự chỉ một loại
tác phẩm văn học chủ yếu dùng phương thức tự sự để miêu tả, phản ánh đời sống
trong tính khách quan của nó – qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một
người kể chuyện nào đó. Gắn với đặc điểm sự kiện và nhân vật, hệ thống chi tiết
nghệ thuật của tác phẩm tự sự cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Nắm được hệ
thống chi tiết đó, người đọc sẽ cầm được chiếc chìa khóa vạn năng để bước vào thế
giới kì diệu của tác phẩm văn học. Bởi mặc dù là những yếu tố nhỏ lẻ của tác phẩm
nhưng chi tiết nghệ thuật lại mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng, góp phần
quyết định tạo ra sức truyền cảm hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Vì thế, tìm hiểu tác
phẩm tự sự, không thể không phát hiện, phân tích các chi tiết nghệ thuật dù là nhỏ
nhất trong tác phẩm.
Ngoài ra, các đề thi Tốt nghiệp và Đại học môn Văn những năm gần đây, cả
câu 2 điểm (tái hiện kiến thức) và câu 5 điểm (nghị luận văn học), đều có xu hướng
đi vào khai thác các chi tiết nghệ thuật, nhất là trong tác phẩm tự sự. Đây cũng là
một xu hướng mới, hiện đại, giúp nâng cao năng lực cảm thụ văn học cũng như
việc lựa chọn chi tiết và khả năng đào sâu phân tích của học sinh. Bởi lẽ, phân tích
tác phẩm văn học là phân tích các chi tiết thể hiện. Điều này ở trong Nhà trường từ
trung học đến đại học, các sách giáo khoa, sách giáo viên về làm văn, các giáo trình
v.v... đều đã chỉ rõ: “Nội dung khái quát của tác phẩm được gửi gắm qua các chi
tiết (lời nói của nhân vật, bộ điệu, cử chỉ, nét mặt, đồ vật, cảnh tượng...). Chi tiết
bao giờ cũng có khả năng thuyết minh, biểu hiện cái toàn thể (phạm vi ý nghĩa mà
nó thuộc vào). Nhưng không cần và không thể phân tích mọi chi tiết, chỉ cần chọn
các chi tiết tiêu biểu nhất, nói lên tư tưởng quan trọng của nhà văn và phù hợp với
chủ đề phân tích của đề bài. Biết lựa chọn thì bài làm tập trung, không dàn trải, lan
man” (Làm văn 12, Sách học sinh, trang 57).
Tuy nhiên, trên thực tế, việc bỏ qua hoặc quên đi một số chi tiết nhỏ bé nhưng
có ý nghĩa quan trọng đã làm hạn chế rất nhiều giá trị biểu hiện của tác phẩm tự sự.
Vì vậy, người viết lựa chọn đề tài “Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự” để nhấn
mạnh tầm quan trọng của các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự cũng như đưa ra các
phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm tự sự. Bên cạnh cốt truyện, kết cấu, hệ thống sự
kiện, tình tiết, nhân vật… thì chi tiết cũng đóng góp vai trò lớn trong sự hình thành
tác phẩm. Chi tiết trong hình tượng mang tính chất đa nghĩa, vừa gợi không gian,
vừa gợi tình huống, tính cách và thái độ của tác giả đối với chúng. Heghen gọi các
chi tiết trong tác phẩm là những “con mắt” bởi qua nó, ta không chỉ thấy được thế
giới tinh thần, mà còn thấy được “một tâm hồn tự do trong cái vô hạn của nó” ở tác
giả. Trong tác phẩm, có chi tiết nghệ thuật chỉ đóng vai trò vật liệu xây dựng làm
tiền đề để cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lí; nhưng cũng có chi tiết nghệ
2
thuật thể hiện tập trung cho cấu tứ của tác giả. Các chi tiết nghệ thuật này thường
được tác giả nhấn mạnh, tô đậm, lặp lại bằng nhiều biện pháp khác nhau. Tính chất
và chức năng của chi tiết nghệ thuật phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của sáng tác.
Đó là những chi tiết “biết nói”.
Các chi tiết trước hết mang tính tạo hình. Qua các chi tiết nghệ thuật, tác giả
muốn tái hiện lại một khung cảnh, một chân dung, một sự kiện, một không khí cụ
thể. Đó có thể là chân dung của kẻ tha hóa Chí Phèo hiện lên rõ nét từ bộ mặt đến
quần áo đến việc chạm trổ mà người ta không thể tìm được nét sót lại của một con
người hiền lành, lương thiện, càng không thể tìm lại được nét nào đó của một con
người có lòng tự trọng trước đây trong truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao). Đó có thể
là không khí chiến đấu sục sôi hừng hực khí thế trong đêm mít tinh để ghi tên thanh
niên tòng quân trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)… Các
chi tiết ấy đã giúp người đọc hình dung rõ nét hơn, cụ thể hơn về nhân vật, sự kiện,
làm cho các nhân vật, sự kiện như được chạm được khắc, nổi hình nổi khối.
Ngoài tính tạo hình, chi tiết nghệ thuật mang bản chất sáng tạo của người
nghệ sĩ, bản chất văn hóa của một cộng đồng. Các chi tiết hàm chứa nhiều nét
nghĩa, nhiều giá trị được gọi là tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm. Đã gọi là tín
hiệu thì luôn mang một mã khóa mà để giải mã cần phải nhờ đến cả một chiều sâu
văn hóa. Đọc truyện cổ tích Tấm Cám, người đọc tự hỏi, tại sao phải nhờ miếng
vào thế giới tâm hồn của nhà văn.
2. Các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu trong một số tác phẩm tự sự trong Nhà
trường THPT
“Ở tác phẩm tự sự, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong
bài thơ tứ tuyệt. Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự
trong thơ vậy” (Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân
dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa - báo Văn nghệ số 14, 4/1999). Đó có thể
là nhan đề tác phẩm, lời đề từ, là một cảnh tượng thiên nhiên, một hành động, lời
nói của nhân vật… Tất cả đều đáng được quan tâm phát hiện và đào sâu phân tích
để giải mã những ẩn số nghệ thuật mà nhà văn đã mã hóa qua các chi tiết nghệ thuật
đan cài từ đầu tới cuối tác phẩm tự sự. Ở đây, người viết chỉ đưa ra một vài tác
phẩm tự sự tiêu biểu trong Nhà trường THPT để tìm hiểu, khai thác các chi tiết
nghệ thuật cũng như giá trị, vai trò của nó đối với tác phẩm.
2.1. Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Là một truyền thuyết nhưng các tác giả dân gian rõ ràng rất có ý thức xây
dựng các chi tiết nghệ thuật độc đáo để gửi gắm thông điệp sâu sắc của tác phẩm.
Mở đầu truyện là chi tiết việc xây thành của An Dương Vương hết sức khó khăn và
chỉ được hoàn thành khi được sứ Thanh Giang tức Rùa vàng giúp đỡ. Sự giúp đỡ
4
thần kỳ này nhằm lý tưởng hoá việc xây thành. Nó khẳng định việc xây thành của
An Dương Vương không chỉ thỏa lòng người mà còn hợp ý trời, đồng thời làm tăng
tính li kì, huyền ảo cho câu chuyện, khiến việc xây thành trở nên lớn lao kì vĩ, phát
huy được sức mạnh của cả dân tộc. Qua đó, thể hiện rõ thái độ của nhân dân đối với
việc làm quang minh chính đại của An Dương Vương.
Nhưng, do quá chủ quan, An Dương Vương đã để nước rơi vào tay Triệu Đà.
Chi tiết câu nói: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” thể hiện sự
tuyệt vọng, bế tắc của An Dương Vương. Rõ ràng, sự thất bại này không phải do
trời hại. Trời đã từng giúp dựng nước nhưng việc giữ nước thuộc về trách nhiệm
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Tình nhi nữ, việc quân vương
Nên gấm, vó câu trăm năm giọt lệ
Ngọc trai - giếng nước
Ngàn thu khói nhang
2.2. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục) – Nguyễn
Dữ
Là một tác phẩm truyền kỳ, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên mang đậm
yếu tố kì ảo hoang đường kết hợp với những chi tiết giàu chất hiện thực, phản ánh
khát vọng phá bỏ bất công và vươn tìm hạnh phúc. Tác phẩm mở đầu bằng chi tiết
hành động đốt đền của nhân vật Ngô Tử Văn. Trước khi đốt đền, chàng “tắm gội
rửa sạch sẽ, khấn trời”. Đây là một nghi thức, nghi lễ thiêng liêng nhằm linh thiêng
hóa, huyền bí hóa sự việc. Ngô Tử Văn muốn khẳng định tính chất trọng đại của
việc đốt đền – không chỉ hợp lòng người mà còn hợp cả ý trời. Đó cũng là hành
động của con người dám đối mặt, dám chịu trách nhiệm, đồng thời, tin tưởng vào
việc làm của mình là chính nghĩa.
Trước hành động của Tử Văn, mọi người sợ hãi, lo cho Tử Văn. Ngược lại,
Tử Văn “vung tay không cần gì cả”. Chi tiết này thể hiện thái độ cương quyết đối
đầu sống mái với kẻ gian tà cũng như sự khảng khái, cứng cỏi, tự tin vào hành động
chính nghĩa, tỏ thái độ chân thành mong được trời phù hộ của chàng.
Cuộc đấu tranh với cái ác diễn ra khá phức tạp và quyết liệt nhưng cuối cùng
Tử Văn vẫn chiến thắng. Phần thưởng cho chàng là phần thưởng xứng đáng cho
những ai dám đứng ra đối đầu, đấu tranh diệt trừ cái ác. Chàng được hưởng xôi lợn
cúng tế của dân (chia đôi với Thổ công). Đây là một kết cục có hậu, Ngô Tử Văn đã
được đền đáp xứng đáng với tính cách cương trực và ngay thẳng của mình. Cuộc
đấu tranh giữa cái thiện và cái ác diễn ra tuy quyết liệt, căng thẳng nhưng cuối
cùng, cái thiện vẫn chiến thắng. Đó cũng là kết thúc mang đậm triết lí dân gian,
viên quản ngục: “Ta cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết
đâu một người như thầy quản đây mà lại có cái sở thích cao quý như vậy. Thiếu
chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Chi tiết này cho thấy Huấn
Cao thực sự cảm phục tấm lòng biết trọng người tài của quản ngục cũng như sở
thích cao quý của kẻ mà ông tưởng chỉ là loại “tiểu nhân thị oai”. Cái đáng quý
nhất của con người Huấn Cao chính là cảm giác sợ “phụ một tấm lòng trong thiên
hạ”. Câu nói này mang cái day dứt vì đã đối xử khinh bạc với viên quản ngục, cũng
7
là suýt phải hổ thẹn với chính mình – cái thẹn của con người giàu nhân cách cao
đẹp. Đó đồng thời cũng là sự giật mình tri ngộ, nhận ra viên quản ngục kia, không
những không phải là kẻ đối đầu, mà chính là người tri kỷ, con người mang khát
vọng và niềm say mê cái đẹp. Người có tài đã gặp được kẻ có tâm và nhanh chóng
cảm phục lẫn nhau, trở thành những người tri kỷ tri âm. Qua đây, ta thấy, Huấn Cao
không chỉ là người có chữ Tâm mà còn là người hệ lụy bởi chữ Tâm. Những người
có Tâm trên đời thì không chỉ biết trọng cái tâm của người khác mà còn rất sợ mình
phụ tấm lòng dù chỉ của một người trong thiên hạ. Bởi lẽ, “ở trên đời này, cái khó
nhất và quý nhất chính là sự gặp gỡ” (Cao Bá Quát).
Không phải là nhân vật trung tâm trong tác phẩm nhưng Viên quản ngục
được miêu tả khá chi tiết và có một vị trí hết sức đặc biệt, đem lại nhiều khám phá
mới mẻ và những khoái cảm thẩm mĩ riêng cho người đọc. Chi tiết trước khi là
quản ngục, ông ta cũng là người đèn sách, “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”,
nhưng sự đời run rủi, “ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết
vào giữa một đống cặn bãt”, quản ngục sa vào chỗ tối tăm, đầy rẫy cái ác và cái
xấu, tàn nhẫn và lừa lọc, đã lý giải vì sao một người như viên quản ngục lại có sở
thích cao quý là chơi chữ.
Và khi được Huấn Cao cho chữ, nhất là sau khi nhận được lời khuyên chí
tình chí nghĩa của Huấn Cao, nhà văn đã đặc tả nhân vật quản ngục qua chi tiết tiếp
nhận lời khuyên: “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu
tượng nổi bật, tạo một dư ảnh và dư âm đọng lại trong tâm trí độc giả sau khi câu
chuyện đã khép lại qua lối kết cấu song trùng, đầu cuối tương ứng, tưởng khép mà
lại mở, khai thác hướng vận động của hình tượng nghệ thuật.
Nhưng rừng xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn kết, nó còn
hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xô man của anh. Rừng xà nu không
chỉ là khung cảnh thiên nhiên làm nên cho câu chuyện mà còn mang một ý nghĩa
biểu tượng rộng lớn, chứa đựng tư tưởng sâu xa của tác phẩm. Bởi lẽ, xà nu là loại
cây đặc thù, tiêu biểu cho miền đất Tây Nguyên và sự hợp lại của nó thành những
cánh rừng xà nu đã tạo nên một không gian nghệ thuật đậm hương vị sử thi cho câu
chuyện. Cho nên, rừng xà nu đã trở thành biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất
của dân làng Xô man, của Tây Nguyên. Nó hiện thân cho vẻ đẹp hùng tráng của
thiên nhiên đất nước, là biểu tượng của đau thương nhưng cũng là biểu tượng của
sức sống trường tồn. Cũng như rừng xà nu, con người Xô man, con người Tây
Nguyên, con người Việt Nam trong những ngày đánh giặc vẫn sống bền bỉ, kiêu
hùng, đầy khao khát trong niềm ham muốn mãnh liệt ánh sáng, trong tư thế phóng
lên tiếp lấy nguồn sống, tự do, hạnh phúc.
Bên cạnh những chi tiết lớn trong tác phẩm là những chi tiết nhỏ nhưng có
giá trị sâu sắc. Chi tiết “Tnú bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay” đã diễn tả
chân thật tâm trạng của Tnú trước cảnh vợ con bị giặc hành hạ dã man. Đây là sự
giằng co giữa trách nhiệm của người chồng, người cha với trách nhiệm của người
9
cán bộ cách mạng, là sự giằng có giữa tình riêng và nghĩa chung. Là người chồng,
người cha Tnú phải xông vào tức khắc để cứu vợ con, không thể chần chừ một
phút, một giây. Là cán bộ của Đảng, Tnú không thể xông vào cứu vợ vì trách nhiệm
của Đảng, xông vào là rơi vào âm mưu của kẻ thù: “Bắt được cọp cái và cọp con,
tất sẽ được cọp đực trở về”. Vì vậy, chi tiết Tnú bứt đứt hàng chục trái vả lúc nào
không hay là biểu hiện chân thật trong tâm lý của nhân vật.
Một chi tiết nhỏ khác trong truyện là lời xưng hô của Dít đối với Tnú lúc anh
đối với các em học sinh khi tiếp cận tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm tự sự
nói riêng, luôn cố gắng tìm và khai phá những chi tiết nghệ thuật dù là nhỏ nhất
trong tác phẩm.
11